Phần một: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, việc sử dụng câu hỏi trong các
giờ học là việc làm thường xuyên của mỗi giáo viên, đó không phải là chuyện ngẫu
nhiên mà bởi người giáo viên ý thức được tầm quan trọng cũng như tác dụng to lớn
của các câu hỏi. Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều giáo viên thiết kế hệ thống câu
hỏi một cách cảm tính, tùy tiện, không có sự chuẩn bị trước, không theo một logic
chặt chẽ hay nói cách khác là không có sự định hướng. Điều đó làm giảm tác dụng
của các câu hỏi đồng thời làm cho học sinh không nắm được trình tự cũng như nội
dung trọng tâm của bài học.
Bộ câu hỏi định hướng bài học gồm câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu
hỏi nội dung sẽ hướng học sinh vào những hoạt động có chủ đích hơn. Từ đó, học
sinh sẽ hứng thú hơn trong quá trình tìm tòi, suy nghĩ để trả lời những câu hỏi và
hứng thú hơn trong học tập bộ môn. Khi yêu thích bộ môn, học sinh sẽ chủ động,
tích cực hơn trong học tập và kết quả học tập sẽ được nâng cao.
Tuy nhiên, làm thế nào để thiết kế được bộ câu hỏi định hướng và bài dạy sử
dụng bộ câu hỏi định hướng có thể kích thích được tư duy của học sinh, lôi cuốn
các em vào từng hoạt động của bài dạy, là điều cần quan tâm hơn cả. Việc sử dụng
hệ thống câu hỏi định hướng bài học, cũng là một trong những hướng đổi mới
phương pháp có tính khả thi cao. Do đó, tôi chọn đề tài “Thiết kế, sử dụng bộ câu
hỏi định hướng bài học trong dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông” với
mong muốn góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp, nhằm nâng cao hiệu quả
dạy học ở trường phổ thông.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận về việc sử dụng câu hỏi và thiết kế bộ câu hỏi định hướng
bài học môn Hoá học trong một số tiết học lớp 11 và 12 nhằm nâng cao kết quả học
tập bộ môn.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu lý luận về việc sử dụng câu hỏi trong dạy học.
- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng các loại câu hỏi ở trường trung học
phổ thông.
- Phương pháp phân loại và hệ thống hoá.
- Phương pháp xây dựng giả thuyết.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát.
- Thực nghiệm sư phạm.
8. Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Xây dựng nguyên tắc thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi trong dạy học.
- Đề xuất quy trình thiết kế và các hướng sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài
học.
- Thiết kế bộ câu hỏi và xây dựng một số giáo án cụ thể.
2
Phần hai: NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học phát
triển như vũ bão đã tác động mạnh mẽ và làm thay đổi lớn lao đến các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Trước yêu cầu đổi mới của thời đại, đòi hỏi ngành giáo dục cũng
phải đổi mới mục tiêu, phương pháp dạy học để giải quyết vấn đề cấp bách được
đặt ra. Từ thực tiễn giảng dạy, dự giờ và trao đổi với các đồng nghiệp, tôi nhận thấy
hiện nay giáo viên đã và đang đổi mới phương pháp dạy học thể hiện ở các khâu
soạn bài và lên lớp.
Đổi mới phương pháp dạy học bằng cách đặt câu hỏi hiện là một vấn đề hết
sức quan trọng bởi tính đơn giản, hiệu quả và khả thi.
Việc sử dụng câu hỏi định hướng bài học cũng tương tự như việc sử dụng
những câu hỏi dạy học mà các giáo viên thường sử dụng nhưng có có tính logic,
tính định hướng, tính khái quát cao hơn nhằm phát triển tư duy cho học sinh. Bên
cạnh đó bộ câu hỏi này cũng có những câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho mọi học
vấn đề mà học sinh đã học hoặc là từ những kiến thức đã được học mà suy ra.
1.2.3. Phân loại câu hỏi
1.2.3.1. Phân loại câu hỏi theo chức năng tổ chức quá trình lĩnh hội
* Câu hỏi nhằm củng cố tri thức và các kĩ năng, kĩ xảo
- Tái hiện những điều đã học.
- Hệ thống hóa các sự kiện, khái niệm.
- Rèn luyện các kỹ năng.
Thí dụ: Em hãy viết phương trình phản ứng hóa học chứng minh HNO 3 là
axit mạnh?
* Câu hỏi giúp học sinh nắm vững logic và các phương pháp tư duy, sáng
tạo
- Hệ thống phân tích, tổng hợp (so sánh, khái quát, đánh giá, rút ra kết luận).
- Đào sâu, làm giàu hệ thống tri thức (xác định rõ, cụ thể hóa, phát triển…).
Thí dụ : So sánh tính oxi hóa của các halogen. Viết phương trình phản ứng
minh họa?
* Áp dụng tri thức trong thực tế
- Thực tế các hành động.
- Hình thành công việc.
- Nắm vững các kỹ năng.
Thí dụ : Làm thế nào để tinh chế NaCl có lẫn tạp chất NaBr ?
1.2.3.2. Phân loại câu hỏi về mặt nội dung
* Câu hỏi về chức năng : Thể hiện ở 3 dạng
- Chức năng kiểm tra sự nắm vững kiến thức, kỹ năng, phương pháp của học
sinh.
- Chức năng kiểm tra tính trung thực của học sinh.
- Chức năng tâm lý: giúp giáo viên biết được những điều mà mình muốn tìm
hiểu. Loại câu hỏi này thường tạo ra sự gần gũi, hứng thú, …
4
biết số lượng các hạt electron, proton, nơtron có trong các nguyên tử của các
nguyên tố đó.
1.2.3.5. Phân loại câu hỏi theo tình huống
* Câu hỏi chốt
- Câu hỏi do giáo viên đặt ra để củng cố và khắc sâu kiến thức trọng tâm bài
học.
- Xuất phát từ giáo viên, nhằm vào vấn đề cốt lõi, quan trọng của bài học.
Giáo viên chuẩn bị trước một cách chủ động.
5
Thí dụ: Các protein có những tính chất chung nào? (Bài protit lớp 12).
* Câu hỏi chồi
- Câu hỏi của học sinh đặt ra với giáo viên trong quá trình học tập trên lớp.
- Xuất phát từ học sinh, nó được nảy sinh trong quá trình dạy học; có tính bất
ngờ, không thể dự kiến trước được.
1.2.3.6. Phân loại theo Bloom
* Câu hỏi Biết
- Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ
liệu, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm,...
- Việc trả lời các câu hỏi này giúp HS ôn lại được những gì đã học, đã đọc
hoặc đã trải qua. Các từ để hỏi thường là: “Cái gì…”, “Bao nhiêu…”, “Hãy định
nghĩa…”, “Cái nào…”, “Em biết những gì về…”, “Khi nào...”, “Bao giờ…”, “Hãy
mô tả...”…
Thí dụ:
+ Hãy phát biểu định nghĩa nguyên tố hóa học ?
+ Hãy liệt kê một số vật liệu polime ?
* Câu hỏi Hiểu
- Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối
các dữ liệu, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…
ancol, phenol, axit tăng dần.
* Câu hỏi Tổng hợp
- Mục tiêu của câu hỏi loại này là để kiểm tra xem học sinh có thể đưa ra
những dự đoán, giải quyết vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo.
- Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, các em phải tìm ra
những nhân tố và ý tưởng mới để có thể bổ sung, cho nội dung. Để trả lời câu hỏi
tổng hợp khiến học sinh phải: dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra các câu trả lời
sáng tạo. Cần nói cho học sinh biết rõ rằng các em có thể tự do đưa ra những ý
tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình. Giáo viên cần
lưu ý rằng câu hỏi loại này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khá dài, vì vậy hãy để
cho học sinh có đủ thời gian tìm ra câu trả lời.
Thí dụ: Sau khi học xong chương Oxi. Em hãy đề xuất các biện pháp để bảo
vệ môi trường.
* Câu hỏi Đánh giá
Mục tiêu của loại câu hỏi này là kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý
kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp, biện minh, phê bình, rút ra kết luận dựa
vào những tiêu chuẩn đã đề ra.
Thí dụ: Một bạn học sinh lo lắng một ngày nào đó chúng ta sẽ không còn đủ
oxi để thở. Em hãy đánh giá quan điểm của bạn học sinh đó?
1.3. Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học
1.3.1. Vai trò của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học
1.3.1.1. Đối với học sinh
- Hầu hết mọi người đều đồng ý là phương pháp đặt câu hỏi là một hoạt động
thú vị và sôi nổi đối với học sinh. Các em được chủ động tham gia vào bài giảng
7
chứ không chỉ thụ động ngồi nghe và cách giảng có đặt câu hỏi kích thích được sự
tò mò, gây hứng thú nhận thức cho học sinh.
- Giúp học sinh khám phá tri thức, đây là mục tiêu đòi hỏi học sinh trong quá
kiến thức mới nhưng chỉ bằng cách sử dụng câu hỏi, học sinh mới có cơ hội vừa
lĩnh hội tri thức, vừa phát triển tư duy.
- Câu hỏi dạy học là công cụ chủ yếu để kiểm tra tri thức, giúp giáo viên phát
hiện những chỗ mà học sinh hiểu sai, những lỗ hổng kiến thức đồng thời đánh giá
8
được mức độ hiểu bài của học sinh một cách tức thì. Nhờ đó, giáo viên có thể tự đề
ra phương pháp giảng dạy phù hợp.
- Dạy học bằng cách đặt câu hỏi còn đảm bảo tốc độ bài giảng phù hợp với
học sinh, nội dung bài giảng đi đúng trọng tâm.
- Câu hỏi dạy học còn được dùng để khắc sâu, củng cố kiến thức trong quá
trình truyền đạt kiến thức mới.
- Câu hỏi còn là một trong những biện pháp giúp giáo viên gợi động cơ học
tập cho học sinh, đó cũng là biện pháp nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.
- Câu hỏi dạy học tạo cơ hội cho giáo viên rèn luyện cho học sinh những
phẩm chất trong giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người
khác…
1.3.2. Yêu cầu đối với câu hỏi dạy học
1.3.2.1. Yêu cầu về nội dung
* Câu hỏi phải phát huy năng lực tư duy, đặc biệt là năng lực tư duy sáng
tạo của học sinh.
Học sinh bằng sự cố gắng của mình, vận động mạnh mẽ về trí tuệ trong việc
phân tích câu hỏi, đấu tranh quyết liệt trong việc so sánh, đối chiếu vấn đề, khái
quát hóa, phát hiện vấn đề, quy luật,…mới có thể tìm ra câu trả lời nhằm chiếm
lĩnh kiến thức cho mình.
Thí dụ: Dựa vào số oxi hoá của lưu huỳnh trong phân tử H 2SO4, hãy dự đoán
tính chất hoá học của axit sunfuric. Viết phương trình phản ứng minh họa.
Để giải đáp câu hỏi trên đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức về
phản ứng oxi hoá khử, lựa chọn các chất hoá học phù hợp để viết phương trình
với lứa tuổi học sinh.
Không nên dùng những ngôn từ khó hiểu và những câu hỏi rườm rà vì nó đòi
hỏi nhiều câu hỏi phụ mà càng có nhiều câu hỏi phụ bao nhiêu thì càng có nguy cơ
làm cho học sinh khó nắm được ý chính bấy nhiêu và không biết trả lời cái gì.
* Hệ thống câu hỏi sử dụng nên đa dạng về hình thức thể hiện.
Giáo viên nên phối hợp nhiều loại câu hỏi như: câu đúng – sai, câu gép đôi,
câu trả lời ngắn, câu hỏi dạng điền khuyết … được thể hiện trên nhiều phương tiện
dạy học khác nhau như sơ đồ, mô hình, bảng biểu, máy chiếu, thí nghiệm, hình vẽ,
vật thật,…. có liên quan nhằm phát triển óc tổng hợp và hoạt động tư duy khoa học
của học sinh. Đặc biệt, trong hệ thống câu hỏi đặt ra nên tăng cường những câu hỏi
mang tính chất hài hước, “Tính hài hước làm cho cơ chế của trí tuệ hoạt động”
(M.Tulen), những câu hỏi mang tính chất nghiên cứu về các sơ đồ, biểu bảng, hình
vẽ, thí nghiệm… cũng tạo hứng thú, giúp học sinh nhớ bài lâu hơn.
Sử dụng phối hợp nhiều loại câu hỏi có nhiều tác dụng, nó không chỉ tạo
điều kiện để giáo viên đánh giá học sinh một cách toàn diện mà còn là một trong
những biện pháp tạo sự sinh động trong lớp học, thu hút sự chú ý tạo hứng thú cho
học sinh.
1.3.2.3. Yêu cầu về mặt phương pháp
* Yêu cầu xác định rõ câu hỏi trọng tâm, phù hợp với đối tượng đặt câu hỏi,
đảm bảo tính vừa sức và đặc điểm của môn học, mục tiêu của bài học.
* Yêu cầu câu hỏi dạy học phải gây được hứng thú nhận thức, kích thích học
sinh suy nghĩ trả lời. Để kích thích sự tập trung chú ý của học sinh vào bài học,
10
giáo viên thường mở đầu bài giảng bằng cách sử dụng những câu hỏi đặt học sinh
trước tình huống có vấn đề, có thể là sự nghịch lý bế tắc, hoặc câu hỏi về ứng dụng
của các đơn chất, hợp chất có trong bài học, hoặc giáo viên có thể kể một câu
chuyện hóa học với kết thúc mở đặt ra nhiều nghi vấn cho học sinh.
Thí dụ:
11
- Thường hỏi những kiến thức trọng tâm của bài trước. Những kiến thức hay
sử dụng khi làm bài tập, những kiến thức có liên quan đến kiến thức mới, dẫn dắt
học sinh đi vào kiến thức mới.
- Câu hỏi ngắn gọn, chính xác, không đánh đố học sinh, ít tốn thời gian.
- Thường sử dụng câu hỏi tái hiện. Đối với học sinh khá có thể sử dụng câu
hỏi yêu cầu cao hơn để học sinh phải vận dụng kiến thức, suy nghĩ tích cực, tuy
nhiên không nên hỏi quá khó.
- Không nên sử dụng câu hỏi lớn, tổng quát để hỏi học sinh. Câu hỏi nên
được chia nhỏ nhiều phần để học sinh có thể trả lời từng phần.
1.3.3.2. Sử dụng câu hỏi trong giảng bài mới
* Ý nghĩa:
Cung cấp kiến thức mới cho học sinh. Giúp học sinh thấy được mối liên hệ
giữa kiến thức cũ và kiến thức mới. Vận dụng kiến thức cũ vào kiến thức mới.
* Câu hỏi sử dụng khi giảng kiến thức mới
- Thường sử dụng cả câu hỏi tái hiện và câu hỏi phát huy tính tích cực của
học sinh. Số lượng của hai loại câu hỏi tuỳ thuộc nội dung bài.
- Có thể sử dụng câu hỏi nêu vấn đề không cần học sinh trả lời.
- Câu hỏi đặt ra phải thoả mãn các nguyên tắc khi xây dựng câu hỏi.
1.3.3.3. Sử dụng câu hỏi trong củng cố và hoàn thiện kiến thức
* Ý nghĩa
- Đây là phần không thể thiếu trong mỗi bài dạy. Kiến thức mà giáo viên
cung cấp cho học sinh trong một bài dạy rất nhiều, khó có thể yêu cầu học sinh nắm
rõ toàn bộ kiến thức. Do đó, muốn học sinh hiểu bài, giáo viên phải lựa chọn những
kiến thức trọng tâm, những kiến thức cần nhấn mạnh cho học sinh qua hình thức
củng cố bài từng phần và củng cố toàn bài.
- Đây là hình thức giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu các kiến thức trọng tâm
- Có những câu hỏi gợi mở phòng khi học sinh không trả lời được.
- Yêu cầu học sinh giải thích câu trả lời của mình.
- Yêu cầu học sinh liên hệ câu trả lời với những kiến thức khác.
1.3.4.2 Những điều nên tránh
- Nhắc lại câu hỏi của mình.
- Nhắc lại câu trả lời của học sinh.
- Đặt câu hỏi rồi gọi học sinh trả lời ngay.
- Gọi học sinh rồi mới đặt câu hỏi.
- Tự trả lời câu hỏi minh đưa ra.
1.4. Bộ câu hỏi định hướng bài học
1.4.1. Tác dụng của bộ câu hỏi định hướng bài học
- Định hướng hoạt động cho giáo viên và học sinh vào những nội dung quan
trọng. Tránh được tình trạng trình bày nông cạn, hời hợt, ngoài chủ đích.
- Giúp giáo viên và học sinh đạt được các mục tiêu dạy học.
13
- Dẫn dắt học sinh đến kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi. Giúp học sinh
học tập tốt hơn, nhanh hơn, thông minh và sâu sắc hơn.
- Rèn kỹ năng tổ chức và sử dụng kiến thức.
- Rèn cho học sinh kỹ năng tư duy.
- Khơi dậy sự chú ý của học sinh.
- Kích thích hứng thú học tập.
1.4.2. Giới thiệu bộ câu hỏi định hướng bài học
Đặc
điểm
Tác
dụng
“đúng”.
- Không thể trả lời thoả đáng - Không thể trả lời
bằng một câu đơn giản. Vì thoả đáng bằng một
vậy, học sinh được thử thách câu
trong việc tìm ra nhiều kết
đơn giản.
quả khác nhau.
sinh phải có
những kỹ năng tư
duy bậc cao.
- Chỉ ra sự phức tạp và phong - Giúp giáo viên tập
trung vào các khía
phú của vấn đề, dẫn đến
cạnh quan trọng của
những câu hỏi quan trọng
bài học.
khác.
- Những câu hỏi bài
- Phát triển trí tưởng tượng và học hướng tới các
trình độ khác nhau có
tạo mối liên hệ giữa các môn
thể hỗ trợ và phát
học, giữa môn học với kiến
triển một câu hỏi khái
thức và ý tưởng của học sinh.
quát. Chúng được
- Khuyến khích thảo luận và
thiết kế để làm rõ,
cạnh của câu hỏi khái
- Gợi mở sự nghiên cứu chứ quát thông qua chủ đề
của bài học.
không dẫn đến những kết
- Đặt nền tảng cho
luận sớm.
các câu hỏi Nội dung.
- Đặt nền tảng cho các câu
hỏi Bài học và câu hỏi Nội
dung.
Ví dụ - Làm thế nào để chúng ta có - Em biết gì về oxi ?
(bài
cuộc sống tốt đẹp hơn?
- Oxi quan trọng như
Oxi
- Sinh vật tồn tại và phát triển thế nào?
lớp
như thế nào?
- Tính chất vật lý
của oxi?
10)
- Oxi hay ozon có
tính oxi hoá
mạnh hơn?
- Vai trò của oxi
trong cuộc sống?
tư duy tập thể.
- Suy nghĩ về các câu hỏi học sinh sẽ hỏi khi bạn dạy bài này và chú trọng
vào việc làm sao để cuốn hút học sinh.
- Tìm xem điều gì làm cho học sinh ghi nhớ từ bài học này trong vòng 5 năm
nữa.
- Bạn có thể viết câu hỏi như một mệnh đề trước, sau đó phát triển nó thành
câu hỏi.
- Nếu cần, trước hết hãy viết câu hỏi bằng ngôn ngữ “người lớn” để diễn đạt
được nội dung chính, sau đó viết lại bằng ngôn ngữ “học trò”.
- Đảm bảo rằng mọi câu hỏi, kể cả các câu hỏi bài học, có nhiều hơn một câu
trả lời hiển nhiên “đúng” - nhằm phát triển kỹ năng tư duy mức cao.
- Luôn hỏi lại “Vậy thì sao?” mỗi khi học sinh hỏi giáo viên.
- Sau khi làm việc tập thể, nên trao đổi các câu hỏi của mình với một số đồng
nghiệp và thu thập ý kiến nhằm xem xét các câu hỏi đó.
- Liên tục xem xét và cải tiến các câu hỏi trong suốt quá trình xây dựng hồ sơ
bài giảng.
1.5. Thực trạng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học hóa học
Việc sử dụng câu hỏi trong các giờ học Hóa học là việc làm thường xuyên
của mỗi giáo viên khi lên lớp. Tuy nhiên, việc sắp xếp hệ thống câu hỏi theo trình
tự logic, có sự định hướng chưa thật sự được các giáo viên chú ý.
16
Chương 2
THIẾT KẾ BỘ CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG BÀI HỌC
“CHƯƠNG CACBON-SILIC” HÓA HỌC 11
VÀ “ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI” HÓA HỌC 12
CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN
2.1. Giới thiệu tổng quan về chương Cacbon-Silic
17
lời các câu hỏi đó có thể tự khám phá ra những kiến thức mới trên cơ sở những kiến
thức đã có.
- Các nguyên tố cacbon, silic và hợp chất của chúng có nhiều ứng dụng trong
đời sống và sản xuất. Giáo viên nên đặt các câu hỏi thách thức, câu hỏi gợi trí tò
mò nhằm khai thác khía cạnh thực tiễn giúp học sinh có những ý thức về bảo vệ
môi trường sống nói chung và bảo vệ cho sức khỏe chính mình.
- Gắn những kiến thức về ứng dụng và điều chế chất với tính chất vật lí, hóa
học và vai trò của chúng trong tự nhiên.
- Kết hợp các phương tiện dạy học nhằm tạo hứng thú cho hoc sinh.
2.2. Giới thiệu tổng quan về chương Đại cương về kim loại
2.2.1. Mục tiêu của chương
* Kiến thức
Học sinh biết:
- Vị trí, đặc điểm về cấu tạo nguyên tử, tính chất vật lý, tính chất hóa học
chung của kim loại, dãy điện hóa của kim loại.
- Khái niệm về hợp kim và cấu tạo của hợp kim.
- Các phương pháp điều chế kim loại.
Học sinh hiểu:
- Nguyên nhân gây ra các tính chất vật lý chung của kim loại.
- Nguyên nhân gây ra tính chất hóa học chung của kim loại.
Học sinh vận dụng: Biết cách bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn.
* Kỹ năng
Rèn kỹ năng:
- Từ cấu tạo của nguyên tử kim loại và tinh thể kim loại suy ra tính chất.
- Giải bài tập về kim loại.
- Kỹ năng làm thí nghiệm đơn giản về kim loại.
2.2.2. Một số điểm cần chú ý khi giảng dạy chương Đại cương về kim loại
2.3. Nguyên tắc thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học
2.3.1. Nguyên tắc thiết kế
* Về nội dung
- Chính xác, khoa học.
- Câu hỏi phải hướng vào nội dung bài học, đúng trọng tâm.
- Câu hỏi phù hợp trình độ học sinh.
- Kích thích khả năng tư duy của học sinh, đòi hỏi học sinh phải tìm tòi suy
nghĩ, liên hệ các kiến thức đã học và khả năng suy luận để giải quyết vấn đề.
- Bộ câu hỏi phải có tính logic, có sự gắn kết giữa câu hỏi khái quát, câu hỏi
bài học, câu hỏi nội dung, các câu hỏi này bổ sung và hỗ trợ nhau giúp học sinh
hiểu bài sâu sắc hơn.
- Câu hỏi phải khơi dậy sự hứng thú của học sinh, khơi dậy khả năng tự học
và yêu thích bộ môn.
- Có câu hỏi liên quan đến thí nghiệm hóa học vì đó là đặc trưng của bộ môn
(có thể là giải thích hiện tượng, dự đoán hiện tượng, …)
19
- Có câu hỏi ứng dụng thực tế giúp học sinh hiểu rõ ý nghĩa môn học trong
cuộc sống.
* Về hình thức
- Câu hỏi phải đa dạng: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung.
Câu hỏi khái quát mang tính thách thức cao được đưa ra đầu mỗi bài học nhằm
khơi dậy sự chú ý của học sinh. Câu hỏi bài học thể hiện những nội dung chính của
bài học. Câu hỏi nội dung, câu hỏi gợi mở giúp học sinh có thể trả lời câu hỏi bài
học, câu hỏi khái quát.
- Trong hệ thống câu hỏi của giáo viên phải có nhiều mức độ câu hỏi dành
cho nhiều đối tượng học sinh: câu hỏi tái hiện, câu hỏi sáng tạo, vận dụng.
- Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và trong sáng.
- Số lượng vừa phải.
sinh tránh tình trạng giáo viên tốn nhiều thời gian giải quyết vấn đề học sinh đã biết
rồi. Khi đó học sinh sẽ không còn cảm thấy hứng thú với các câu hỏi của giáo viên
nữa. Trên nền tảng kiến thức mà học sinh đã biết, giáo viên cần xây dựng các câu
hỏi mang tính tư duy cao giúp học sinh nhớ lại và thấy được mối liên hệ giữa kiến
thức cũ và kiến thức mới. Từ đó các kiến thức trong chương trình học sẽ không còn
quá nặng nề đối với học sinh, bước đầu giúp học sinh có cái nhìn khái quát và hệ
thống về nội dung bài học, học sinh nhớ bài lâu hơn. Đối với các kiến thức khá
mới, giáo viên phải tìm các kiến thức liên quan ở các bài trước hoặc kiến thức trong
thực tế cuộc sống để dẫn dắt, giảng giải cho học sinh hiểu và trả lời câu hỏi. Giáo
viên không nên tự trả lời câu hỏi do mình đặt ra. Điều kiện dạy và học ở mỗi
trường, mỗi địa phương sẽ có rất nhiều điểm khác nhau. Tuy đây không phải là vấn
đề then chốt nhưng cũng ảnh hưởng đến cách thiết kế, sử dụng câu hỏi và chất
lượng giảng dạy. Nếu có điều kiện làm thí nghiệm thì giáo viên làm thí nghiệm (có
thể dùng đoạn phim thí nghiệm), giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và giải thích
hiện tượng; nếu không có điều kiện trang thiết bị đầy đủ thì giáo viên có thể dùng
tranh ảnh rồi mô tả thí nghiệm bằng lời sau đó yêu cầu học sinh giải thích; giáo
viên phải linh hoạt trong từng tình huống cụ thể.
Bước 3: Xác định đối tượng HS
Hầu hết trong các trường phổ thông hiện nay có đầy đủ các đối tượng học
sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Khi thiết kế bộ câu hỏi, giáo viên phải nắm rõ
tình hình, đặc điểm của học sinh trong lớp mình để đưa ra bộ câu hỏi phù hợp với
đa số HS trong lớp. Bên cạnh những câu hỏi tư duy, sáng tạo cho học sinh khá giỏi
cần phải có những câu hỏi đơn giản cho học sinh trung bình, yếu kém. Tuy nhiên
đối với lớp chọn thì trình độ học sinh khá đồng đều và đa số là học sinh khá giỏi
nên giáo viên có thể đưa thêm những câu hỏi mang tính thách thức, đòi hỏi học
sinh phải tư duy ở cấp độ cao, hạn chế những câu hỏi quá đơn giản nhìn vào đã biết
câu trả lời.
Bước 4: Xác định các phương pháp dạy học chủ yếu sẽ tiến hành
Phương pháp là con đường để giáo viên đạt được mục đích dạy học. Phương
pháp hiệu quả sẽ giúp giáo viên thành công trong dạy học. Việc xác định các
2.4. Một số hướng sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học
2.4.1. Hướng thứ nhất: (lớp có nhiều đối tượng học sinh)
Bước 1: Chuẩn bị
+ Giáo viên phát bộ câu hỏi cho học sinh.
+ Học sinh làm việc theo nhóm ở nhà để trả lời các câu hỏi và nộp lại cho
giáo viên trước buổi học.
Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi
+ Không nhất thiết sử dụng tất cả các câu hỏi đã soạn.
+ Không nhất thiết phải theo đúng trình tự. Câu hỏi khái quát thường được
dùng để mở đầu bài giảng nhưng cũng có thể dùng khi kết thúc bài giảng; có thể sử
dụng câu hỏi nội dung trước câu hỏi bài học và ngược lại; không sử dụng câu hỏi
bài học mà chỉ sử dụng câu hỏi nội dung hoặc ngược lại.
22
+ Trong khi đặt câu hỏi, giáo viên nên có thái độ cởi mở, vui vẻ, thân thiện
nhằm tạo bầu không khí thoải mái cho học sinh suy nghĩ tìm câu trả lời.
+ Giọng nói đủ lớn để tất cả học sinh trong lớp có thể nghe rõ; có nhấn mạnh
những điểm quan trọng chứ không nên dùng giọng nói đều đều dễ gây buồn ngủ;
đôi khi có thể có những câu nói hài hước hoặc câu chuyện vui hóa học giúp học
sinh lấy lại sự tập trung.
+ Không nên chỉ nhìn vào một số học sinh mà phải bao quát cả lớp.
Bước 3: Chờ học sinh trả lời
Thời gian chờ không những tùy thuộc vào đặc điểm câu hỏi mà còn phụ
thuộc đặc điểm tâm sinh lí và trình độ của học sinh. Giáo viên nên chú ý đến thời
gian cho phép của tiết học để xác định thời gian hợp lí.
Bước 4: Gọi học sinh trả lời
+ Giáo viên có thể gọi bất kì học sinh nào nếu câu hỏi dễ.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh xung phong để trả lời câu hỏi khó.
Bước 5: Nhận xét và đánh giá câu trả lời
lập luận để trả lời câu hỏi.
Bước 3: Chờ học sinh trả lời
+ Đối với câu hỏi dễ có thể không cần thời gian chờ vì học sinh đã được
chuẩn bị trước ở nhà.
+ Đối với câu hỏi khó hoặc câu hỏi giáo viên mới đưa ra trong bài giảng thì
thời gian chờ 1 đến 5 phút tùy mức độ câu hỏi.
Bước 4: Gọi học sinh trả lời
Bước 5: Nhận xét và đánh giá
Bước 6: Khẳng định và củng cố
Bước 7: Học sinh đặt câu hỏi
+ Khi điều kiện cho phép, giáo viên nên cho học sinh hỏi giáo viên và các
bạn trong lớp. Nếu câu hỏi phù hợp nội dung bài học thì giáo viên có thể gọi học
sinh trong lớp trả lời hoặc tự mình trả lời.
+ Nếu câu hỏi không đúng nội dung bài học thì giáo viên phải khéo léo ứng
xử không trả lời câu hỏi nhưng cũng không làm cho học sinh đặt câu hỏi cảm thấy
xấu hổ.
2.4.3. Hướng thứ ba: (đa số trình độ HS trong lớp là trung bình)
Bước 1: Chuẩn bị
+ Giáo viên nên hạn chế những câu hỏi quá khó sẽ làm học sinh chán nản vì
không trả lời được, tăng cường câu hỏi nội dung, câu hỏi gợi mở.
+ Học sinh làm việc theo nhóm ở nhà để trả lời các câu hỏi và nộp lại cho
giáo viên trước buổi học.
Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi
Sử dụng nhiều câu hỏi nội dung rồi dẫn dắt học sinh tìm thấy câu trả lời đúng
cho câu hỏi bài học.
Bước 3: Chờ học sinh trả lời
Bước 4: Gọi học sinh trả lời
24
- Đàm thoại gợi mở.
- Thảo luận nhóm và dạy học nêu vấn đề.
III. BỘ CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG BÀI HỌC
Câu hỏi khái quát:
- Nguồn nhiên liệu hóa thạch hình thành như thế nào?
25