PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BÁT XÁT
TRƯỜNG MẦM NON QUANG KIM
______________
MÔT SỐ BIỆN PHÁP
Chỉ đạo rèn nền nếp thói quen cho trẻ 24-36
tháng tuổi trong trường mầm non Quang Kim
____________
Họ và tên: Đinh Thị Hồng Thu
Chức vụ : Phó hiệu trưởng
Quang Kim, tháng 05 năm 2014
1
Mục lục
STT
1
2
3
4
5
6
7
1
2
3
3.1
Tài liệu tham khảo
2
Trang
3
3
3
3
3
3
3
3
4
4
5
7
7
7
11
12
13
13
14
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục học mầm non là một chuyên ngành của giáo dục học với tư cách
trưởng nhà trường tôi không tránh khỏi những băn khoăn lo lắng về một bộ phận
nhỏ giáo viên trẻ mới từ vùng cao chuyển về chưa có kinh nghiệm trong công
tác rèn nền nếp thói quen cho trẻ nhà trẻ, Trẻ mầm non rất hiếu động, tinh
nghịch đặc biệt là đối với trẻ nhà trẻ môi trường lớp học còn rất bỡ ngỡ trẻ được
đến trường lớp mầm non rời xa vòng tay của cha mẹ và bắt đầu làm quen với
môi trường học tập do vậy, trẻ chưa có nền nếp thói quen khi đến với môi
trường mới. Vậy giáo viên phải làm gì để trẻ nhà trẻ và trẻ mẫu giáo có nền nếp
3
thói quen tốt khi đến trường. Đây là vấn đề cần có biện pháp để giúp cho đội
ngũ giáo viên đưa trẻ vào nền nếp và hình thành những thói quen tốt cho trẻ ở
trưởng mầm non. Qua kinh nghiệm nhiều năm trực tiếp làm công tác giảng dạy
tại trường mầm non và sự tích cực của bản thân không ngừng học hỏi đồng
nghiệp và những kiến thức học được ở trường sư phạm tôi đã tích lũy và mạnh
dạn lựa chọn kinh nghiệm “Một số biện chỉ đạo rèn nền nếp thói quen cho trẻ
24-36 tháng tuổi trong trường mầm non trong trường mầm non Quang
Kim” để chia sẻ cùng đồng nghiệp làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhà
trẻ tại các đơn vị trường mầm non trong toàn huyện.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Đưa ra một số biện pháp để rèn nền nếp thói quen cho trẻ nhà trẻ trong
trường mầm non hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Hướng dẫn giáo viên rèn nền nếp thói quen cho trẻ nhà trẻ lứa tuổi 24 –
36 tháng tuổi tại trường mầm non Quang Kim.
- Tổng số: 15 trẻ.
4. Giới hạn, phạm vi nội dung nghiên cứu.
Biện pháp chỉ đạo rèn nền nếp thói quen cho trẻ nhà trẻ lứa tuổi 24 - 36
tháng tại Trường Mầm non Quang Kim trong thời gian 3 tháng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
đất nước. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân. Tất cả vì tương lai con em chúng ta, dân tộc ta mọi người, mọi ngành
cần phải chăm sóc và giáo dục trẻ cho tốt.
Đảng ta luôn coi giáo dục là sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Nhà
trường có nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện, song không thể
coi đây là nơi duy nhất. Đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ. Hằng ngày trẻ
chỉ sống , sinh hoạt ở trường mầm non với một thời gian nhất định, còn lại trẻ
sống ở gia đình, chịu sự giáo dục của gia đình,và phản ánh nền nếp thói quen
của gia đình. Nếu gia đình và nhà trường cùng có mục đích, nội dung, phương
pháp giáo dục thống nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách
của trẻ.
Bảo vệ và rèn luyện cơ thể cho trẻ đảm bảo phát triển đúng đắn về mặt thể
chất và rèn luyện cơ thể nhằm nâng cao khả năng thích ứng môi trường bên
ngoài. Đây là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng vì đặc điểm cơ thể trẻ của trẻ ở
lứa tuổi này phát triển nhanh nhưng còn non nớt, sức đề kháng yếu, trẻ rất dễ
mắc bệnh do ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường bên ngoài. Do đó, giáo
dục dinh dưỡng và rèn luyện thể chất cho trẻ phải hướng vào việc phát triển hài
hòa cân đối, hướng vào việc bảo vệ, giữ gìn, rèn luyện cơ thể cho trẻ một cách
hợp lý để trẻ có khả năng thích ứng với những biến đổi môi trường bên ngoài và
thích nghi với những nền nếp thói quen mới ở trường lớp mầm non.
Chế độ sinh hoạt của trẻ là một quy trình khoa học nhằm phân phối thời
gian và trình tự các hoạt động trong ngày cũng như ăn uống, nghỉ ngơi một cách
hợp lý, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ. Chế dộ sinh hoạt hợp lý
của trẻ được xây dựng trên cơ sở khoa học có tính đến sự phân phối thời gian,
trình tự, các hình thức hoạt động và nghỉ ngơi phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý
của trẻ. Do đó, việc tổ chức thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt có ý nghĩa rất
lớn đến sự phát triển về hành vi, nền nếp thói quen tốt cho trẻ. Trước hết đảm
bảo cho trẻ thỏa mãn nhu cầu về ăn, ngủ, hoạt động, giữ cho hệ thần kinh được
thăng bằng, trẻ luôn ở trạng thái thoải mái, vui vẻ. Đồng thời thực hiện ổn định
chế độ sinh hoạt còn góp phần giáo dục hành vi có tổ chức, những nền nếp, thói
quen tốt, Cô giáo rất vất vả làm ảnh hưởng đến việc cung cấp kiến thức cho trẻ.
Căn cứ vào đặc điểm tâm lý lứa tuổi thì đây là bước ngoặt đầu đời của trẻ nên cô
giáo cần phải kiên trì, tỉ mỉ quan tâm vỗ về trẻ, dần đưa trẻ và nền nếp của nhóm
lớp, giúp trẻ hòa nhập vào môi trường giáo dục của nhà trường. Qua khảo sát trẻ
đầu năm tại nhóm trẻ 24 – 36 tháng về nền nếp thói quen đã thu được kết quả
như sau:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT TRẺ ĐẦU NĂM 2013 - 2014
Tiêu chí
Tổng số trẻ
Thói quen thích được đi
học
15
6
Thực trạng
khảo sát trẻ
đầu năm
7
Tỷ lệ ( %)
46,7%
Trẻ có thói quen chào hỏi
Trẻ có nền nếp thói quen
thực hiện yêu cầu của cô
Giáo viên mới không chuyên dạy lớp nhà trẻ nên việc chăm sóc trẻ nhỏ
còn gặp rất nhiều hạn chế. Nội dung hoạt động một ngày của trẻ tuy nhà trường
đã triển khai song việc áp dụng còn lúng túng, chưa linh hoạt, một số giáo viên
chỉ quan tâm đến cá nhân trẻ mà chưa quan tâm đến hoạt động theo nhóm bởi trẻ
nhỏ hay quấy khóc nên việc hướng trẻ vào hoạt động nhóm giáo viên còn gặp
nhiều khó khăn. Trẻ chưa có nền nếp, chưa chủ động tham gia vào các hoạt
động. Theo quan điểm của một bộ phận nhỏ giáo viên nhận thức rằng: Trẻ nhà
trẻ chỉ cần trông đảm bảo an toàn, trẻ ăn tốt, ngủ tốt là được, song nhận thức trên
là sai lầm vì theo chương trình GDMN mới trẻ nhà trẻ được tham gia vào các
hoạt động theo chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. Vận dụng thời gian trong chế
độ sinh hoạt ngày để rèn nền nếp thói quen cho trẻ. Nhà trường cần đôn đốc,
kiểm tra việc thực hiện chế độ sinh hoạt ngày đối với từng giáo viên kịp thời
giúp đỡ những giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp,
hướng dẫn giáo viên biết cách dạy những kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vệ sinh nếp
sống có văn hóa cho trẻ trong trường mầm non. Đây là nhiệm vụ cần thiết để
giáo dục trẻ có những hành vi đúng, thói quen tốt trong sinh hoạt ngay từ nhỏ.
Do trình độ nhận thức của một bộ phận phụ huynh còn hạn chế. Có phụ
huynh cho rằng: Cho trẻ đi nhà trẻ là chỉ để: “cô giáo trông coi và dạy hát vài
bài là được, trẻ nhỏ thì biết gì là học”. Vì vậy rất cần có sự thống nhất về
phương pháp giáo dục của nhà trường và gia đình sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển nhân cách của trẻ. Từ những thực trạng trên tôi đưa ra một số biện
pháp nhằm làm tốt hơn công tác rèn nền nếp thói quen cho trẻ 24-36 tháng trong
trường mầm non.
3. Các biện pháp thực hiện:
Trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ ở trường mầm non cô giáo
mầm non phải biết hướng mọi hoạt động, mọi nội dung, biện pháp, phương pháp
chăm sóc giáo dục trẻ vào thực hiện mục tiêu của ngành học, sao cho trẻ luôn
7
khi cô lấy cơm cho trẻ, biết phép cơm cô sau khi ăn xong và trong khi ăn không
để rơi, vãi thức ăn, biết thưa cô để xin cơm và rèn cho trẻ thói quen khi ăn không
cười đùa, nói truyện, nhai kỹ trước khi nuốt; Khi trẻ muốn đi vệ sinh cô cần rèn
cho trẻ thói quen biết xin phép cô cho đi vệ sinh cô cần làm mẫu cho trẻ học nói
theo cô. Sau khi trẻ ăn xong cô rèn cho trẻ có thói quen lấy khăn lau miệng và
uống nước.
b) Hướng dẫn giáo viên rèn nền nếp thói quen cho trẻ thông qua việc
tổ chức giấc ngủ cho trẻ.
Giấc ngủ rất cần thiết cho mọi người. Nó là điều kiện để hồi phục khả
năng làm việc của các tế bào thần kinh sau những hoạt động của con người
8
trước đó. Đối với trẻ nhỏ, hệ thần kinh còn yếu, vì thế trẻ chóng bị mệt mỏi, nên
giấc ngủ là rất cần thiết để trẻ lớn lên và phát triển. Trong chế độ sinh hoạt ngày
giáo viên cần tổ chức cho trẻ có thói quen:
+ Tạo cho trẻ có thói quen ngủ đủ giấc và ngủ sâu.
+ Tập cho trẻ có thói quen ngủ đúng giờ, tạo cho trẻ thói quen đã đi ngủ là
ngủ ngay.
+ Tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ khi lên giường ngủ. Không để
trẻ chơi đùa quá nhiều trước khi ngủ hoặc dọa nạt trẻ lảm ảnh hưởng đến giấc
ngủ của trẻ.
+ Để trẻ đi vào giấc ngủ nhanh, cô cần vỗ về, hát ru cho trẻ ngủ. Trong
khi trẻ ngủ cần giữ không khí yên tĩnh cho trẻ để tạo cho trẻ có thói quen ngủ đủ
giấc và ngủ sâu. Để làm được điều này giáo viên cần phải kiên trì và tỉ mỉ sẽ
giúp trẻ có thói quen tốt khi ngủ.
Vì vậy, Cô giáo cần cho trẻ ngủ đúng giờ để tạo phản xạ có điều kiện cho
việc hình thành thói quen ngủ nhanh và ngủ sâu của trẻ. Trong khi trẻ ngủ cần
giữ yên tĩnh và phóng ngủ phải đảm bảo ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa
hè, phải sạch sẽ, khô ráo... Có như vậy trẻ mới ngủ đủ và ngon giấc. Nhà trường
cô giáo, chào các bạn trước khi vào lớp và biết chào bố mẹ, ông bà, người thân
khi đưa bé đến lớp. Cô giáo cần hướng dẫn trẻ tự mình để dép, giày đúng nơi
quy định. Trong giờ đón trẻ cô nên trao đổi nhanh với phụ huynh về tình hình
sức khỏe của trẻ, về những thói quen tốt, chưa tốt của trẻ mới đến nhà trẻ để
cùng phối hợp rèn nền nếp thói quen cho trẻ, kịp thời khen khích lệ trẻ khi trẻ có
thói quen tốt hoặc thông báo những điều cần thiết và nhắc nhở những quy định
chung của nhà trẻ. Khi trẻ đã quen với nền nếp của lớp, cô cho trẻ tự lấy đồ
chơi theo ý thích và hướng làm mẫu để trẻ có thói quen lấy và cất đồ chơi đúng
quy định. Nếu trẻ nhỏ chưa biết cô nên cùng trẻ cất đồ chơi. Cô làm mẫu vài lần
trẻ sẽ quen dần với nền nếp của nhóm, lớp.Vì vậy, bất kì một hành động nào của
trẻ cô giáo cũng cần đặc biệt phải quan tâm để kịp thời khích lệ động viên trẻ.
Ngược lại, nếu cô không quan tâm đến trẻ để trẻ chơi tự do bừa bãi, thì trẻ sẽ có
thói quen không tốt, chơi với bạn tranh giành đồchơi của bạn, đánh bạn, cắn bạn
hay không biết giữ gìn đồ chơi, không biết cất đồ chơi đúng quy định. Là nhà
giáo dục cần đặc biệt đến việc rèn cho trẻ những thói quen tốt đây chính là
những đặc điểm của hành vi nhân cách con người cần phải giáo dục cho trẻ ngay
từ nhỏ.
f) Rèn nền nếp thói quen cho trẻ thông qua chơi tự do với đồ vật ở các
góc.
Đối với việc tổ chức cho trẻ chơi tự do ở các góc. Cô giáo cần rèn cho trẻ
có thói quen lấy và cất đồ chơi đúng quy định, tạo cho trẻ có thói quen chơi
đoàn kết với bạn, không tranh dành đồ chơi của bạn. Tuy nhiên đối với trẻ nhà
trẻ mục đích chơi của trẻ là trẻ chơi cạnh nhau nên thường hay xảy ra tình trạng
trẻ dành đồ chơi của bạn, cắn bạn…. Vì thế cô giáo cần quan tâm chơi cùng trẻ
tạo không khí cho trẻ chơi an toàn tự nhiên, hứng thú. Trong khi trẻ chơi cô gần
gũi trò truyện với trẻ để dạy trẻ có những thói quen tốt trong khi chơi. Trong
những hoạt động nối tiếp cô nên tổ chức cho trẻ chơi trò chơi mang tính chất
giáo dục:
Ví dụ: Trò chơi: “Cất đồ chơi đúng chỗ” để nền nếp thói quen tốt cho trẻ
sau khi chơi. Mục đích của trò chơi trẻ hiểu được các giới từ: Trên, dưới, trước
quan; xem tranh truyện; Nghe kể truyện, đọc thơ; tập hát và nghe hát, tập vẽ,
tô...
Ví dụ: Rèn nền nếp thói quen cho trẻ thông qua hoạt động phát triển vận
động.
Cô rèn cho trẻ có thói quen rèn luyện sức khỏe thông qua việc dạy trẻ tập
các động tác đơn giản, giáo dục trẻ thói quen giữ gìn sức khỏe. Vì vậy, cô phải
thực hiện đúng thời gian biểu trong ngày để trẻ có thói quen tốt. Bên cạnh đó,
thời gian đầu cô nên bật nhạc sau đó cô hướng dẫn trẻ xếp hàng tập thể dục
sáng. Cô thực hiện liên tục trẻ sẽ có thói quen mội khi nghe thấy tín hiệu nhạc
thể dục là trẻ có thói quen xếp hàng và nhún nhảy vung tay, chân theo tiếng
nhạc. Đây là thói quen tốt đối với trẻ nhà trẻ mà các cô giáo cần phải quan tâm
và hình thành chi trẻ ngay từ những buổi đầu đến trường.
Đối với hoạt động nhận biết tập nói và các hoạt động khác. Căn cứ vào
các chủ đề, chủ điểm cụ thể cô giáo có thể tích hợp nội dung giáo dục nền nếp
thói quen cho trẻ như vệ sinh, ăn uống, rèn những hành vi văn hóa trong giao
tiếp, ăn, uống có văn hóa.
Vì vậy, đối với việc rèn nền nếp thói quen cho trẻ ở bất kì một hoạt động
học có chủ định nào cô giáo cúng cần biết cách khai thác kiến thức sao cho phù
hợp để đem đến cho trẻ những nội dung giáo dục có ý nghĩa thiết thực gần gũi
11
mà không xa vời đối với trẻ. Tuy nhiên việc tích hợp các nội dung giáo dục rèn
nền nếp thói quen cho trẻ cũng không nhất thiết cô tích hợp nội dung mang tính
chất lấy lệ khiên cưỡng, gò ép mà cần linh hoạt sao cho việc tích hợp nội dung
giáo dục một cách nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả cao.
3.2. Biện pháp 2. Làm tốt công tác kiểm tra đôn đốc đội ngũ giáo viên
giáo dục các kỹ năng, kỹ xảo, thói quen văn hóa vệ sinh cho trẻ trong
trường mầm non.
Đây là một nội dung quan trọng trong việc rèn nền nếp thói quen cho trẻ ở
- Quá trình kết hợp với các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc giáo dục trẻ có
tác dụng: tạo sự thống nhất giữa gia đình và trường, lớp mầm non về việc rèn
12
nền nếp thói quen cho trẻ, không làm đảo lộn việc chăm sóc giáo dục trẻ ở
trường, lớp và ở gia đình, nhất là đối với những trẻ mới ra lớp. Tạo sự thống
nhất về nội dung, phương pháp, cách thức rèn nền nếp thói quen cho trẻ ở lớp
cũng như ở gia đình, Tránh được những mâu thuẫn về phương pháp rèn nền nếp
cho trẻ. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành thói quen và phẩm chất
nhân cách tốt ở trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ.
- Cô giáo kết hợp với cha mẹ trẻ sẽ tạo nguồn lực vật chất tinh thần, góp
phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Thông qua việc phối hợp với
cha mẹ trẻ để tuyên truyền, hướng dẫn kiến thức khoa học chăm sóc giáo dục trẻ
cho các bậc phụ huynh và cộng đồng. Thông qua việc phối hợp với cha mẹ giúp
cha mẹ trẻ hiểu được công việc của cô giáo mầm non ở nhóm, lớp; qua đó, giáo
viên mầm non cũng hiểu được hoàn cảnh và điều kiện sống của trẻ ở gia đình.
Trong quá trình giáo dục trẻ, cô giáo phải sử dụng phối hợp các hình thức,
kết hợp giữa giáo dục nhà trường và gia đình nhằm thống nhất với gia đình về
cách nuôi dạy trẻ theo khoa học. Vì giáo dục mầm non mang tính chất giáo dục
gia đình - Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của trẻ, người mẹ là cô giáo
đầu tiên của trẻ thơ nên không thể coi nhẹ giáo dục trẻ ở gia đình mà phó mặc
việc giáo dục trẻ cho nhà trường.
Trong quá trình theo dõi, kiểm tra đôn đốc nhóm trẻ của nhà trường; Kết quả
khảo sát chất lượng và đánh giá kết quả đạt được rất khả quan qua việc hướng dẫn
chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt cho trẻ 24-36
tháng ở trường mầm non:
Kết quả
khảo sát
đầu năm
7
46,7%
15
100%
5
33,3%
14
93,3%
8
53,3%
15
100%
7
46,7%
14
Chính vì vậy mà ngành giáo dục luôn coi trọng sự nghiệp chăm sóc- giáo dục trẻ
là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và đặt là nền tảng cho sự nghiệp giáo dục
chung. Việc rèn nề nếp thói quen ban đàu cho trẻ hình thành cho trẻ những cơ sở
đầu tiên về giáo dục nhân cách và phát triển toàn diện cho trẻ.
Chính vì vậy mà công tác rèn nền nếp thói quen cho trẻ trong trường mầm
non nói chung và việc chú trọng rèn nền nếp thói quen cho trẻ 24 - 36 tháng nói
riêng cần có sự quan tâm đặc biệt của nhà trường - Gia đình. Muốn trẻ có nền
nếp thói quen tốt ở gia đình thì người thân, cha mẹ trẻ là những tấm gương tốt
để dạy trẻ; Ở trường mầm non cô giáo cần tỷ mỉ, yêu thương trẻ, thực hiện tốt
chương trình kế hoạch giáo dục trẻ, Thực hiện tốt chế độ sinh hoạt ngày của trẻ.
Công tác rèn nền nếp, thói quen cho trẻ cần thực hiện liên tục thường xuyên để
tạo thói quen tốt cho trẻ nhằm hình thành nhân cách cho trẻ giúp trẻ phát triển
toàn diện về mọi mặt.
Nắm chắc quan điểm trên trong quá trình chỉ đạo công tác chuyên môn
của nhà trường tôi luôn luôn xác định mục đích của công tác chăm sóc giáo dục
trẻ là nâng cao chất lượng giáo dục trẻ từng độ tuổi, đồng thời cần làm tốt công
tác chỉ đạo chuyên môn cho giáo viên dạy trẻ từng độ tuổi để xây dựng nhà
trường có chất lượng giáo dục cao.
2. Đề xuất:
Đối với Nhà trường: Làm tốt công tác chỉ đạo lên kế hoạch giáo dục trẻ và
chỉ đạo sát sao công tác rèn nền nếp thói quen cho trẻ nhà trẻ trong nhà trường.
Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, xây dựng các chuyên đề có tích hợp các nội
dung giáo dục như: Rèn nền nếp thói quen cho trẻ tại các nhóm lớp trong trường
mầm non.
Với ngành Giáo dục, tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ, giáo viên công
tác chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ. Tổ chức cho giáo viên được giao lưu, trao đổi
kinh nghiệm tại các trường lớn trong và ngoài tỉnh.
Trên đây là “Một số biện chỉ đạo rèn nền nếp thói quen cho trẻ 24-36
tháng trong trường mầm non Quang Kim” vừa qua tôi đã áp dụng vào đơn vị
nhà trường. Tôi hy vọng rằng những vấn đề tôi đưa ra trong sáng kiến kinh
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
16
17