DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PPDH VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
VÀ HỌC CỦA BỘ MÔN
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận
năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết
các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và
áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT. Chương trình THPT, môn Ngữ văn,
năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc
chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương
pháp giảng dạy.” (tr. 27) “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn
học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy
học; quán triệt tromg mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình;
tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong
hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” (tr. 40).
Như vậy, ở nước ta hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp trong xây dựng
nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy môn
Ngữ văn không đặt ra nữa. Bài toán đang đặt ra trong lĩnh vực lí luận và phương pháp
dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp vào dạy
học Ngữ văn ở THPT nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS một cách có
hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo của bộ môn.
Từ thực tiễn đó, sáng kiến kinh nghiệm này chính là kết quả ứng dụng dạy học
tích hợp vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
1
nhắc trong chương trình. Đồng thời, do việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc
kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri
thức trong tình huống thực tiễn vì vậy sản phẩm đào tạo là những con người mang tính
thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động, sản phẩm của giáo dục không đáp
ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động.
Trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công
nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng
nhiều, kiến thức giữa các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau. Đồng thời, do yêu
cầu của xã hội, do nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con người phải giải quyết rất nhiều
tình huống trong cuộc sống. Khi giải quyết các vấn đề đó, kiến thức của một lĩnh vực
chuyên môn sẽ không thể thực hiện được mà cần phải vận dụng kiến thức liên ngành
một cách sáng tạo. Từ thực tế đó đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo một vấn đề là phải
thay đổi quan điểm về giáo đục mà dạy học tích hợp là một định hướng mang tính đột
phát để đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu, người nghiên cứu thấy rằng chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về dạy học theo quan điểm tích hợp ở
cấp học trung học phổ thông. Với bài nghiên cứu này, người nghiên cứu mong đưa
đến một cách hiểu đúng và cụ thể về hoạt động dạy học theo quan điểm tích hợp trong
chương trình dạy học môn Ngữ văn tại cấp học Trung học phổ thông.
3
GIẢI QUYÊT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận
1. Thế nào là tích hợp?
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là
mục tiêu của dạy học là cung cấp một hệ thống các kiến thức hoặc kỹ năng riêng lẻ
cho người học để sau đó người học muốn làm bất kì việc gì với những kiến thức và kỹ
năng đó. Còn theo quan điểm dạy học tích hợp thì mục tiêu của dạy học là hướng đến
việc đào tạo ra những con người với những năng lực cụ thể để giải quyết những vấn đề
trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp. Nội
hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là
sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét
bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản
đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất
cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn.
Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành
phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ
không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu
các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên
kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ
thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác
nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở
các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các
hợp phần của bộ môn đó. Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ
GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có
quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau,
phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (tr. 27)
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng
những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các
5
phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu
Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý bảo đảm các
yêu cầu sau:
- Giúp HS tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ
giữa các tri thức và kĩ năng thuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức, thiết kế các
nội dung, tình huống tích hợp để HS vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng riêng
rẽ của các phân môn vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó lĩnh hội các kiến thức và phát
triển năng lực, kĩ năng tích hợp.
- Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để HS học cách sử dụng phối hợp
những kiến thức và kĩ năng đã thụ đắc trong “nội bộ các phân môn”.
- Đặt HS vào trung tâm của quá trình dạy học để HS trực tiếp tham gia vào giải
quyết các vấn đề, tình huống tích hợp; biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá
trình HS tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng.
- Phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của HS; chú trọng mối quan hệ
giữa HS với SGK; phải buộc HS chủ động tự đọc, tự làm việc độc lập theo SGK, theo
hướng dẫn của GV.
Dạy học tác phẩm văn chương theo quan điểm tích hợp đòi hỏi phải biến giờ
“giảng văn” thành giờ dạy kĩ năng đọc hiểu cho HS, hướng tới làm cho các em có
năng lực đọc hiểu bất kì văn bản nào.
Khái niệm đọc hiểu là một trong những khái niệm cơ bản làm cơ sở cho việc
dạy học tác phẩm văn chương ở THPT theo quan điểm tích hợp, là một trong những
năng lực tối thiểu cần hình thành và phát triển cho HS. Khái niệm đọc hiểu nói lên
hoạt động của HS phải được thay thế cho khái niệm giảng văn chỉ nói lên hoạt động
của người thầy theo quan điểm “lấy người dạy làm trung tâm”. Dĩ nhiên ở đây không
hề triệt tiêu yếu tố “giảng” của người thầy, một yếu tố vốn có vai trò kích thích hứng
thú đọc hiểu cho HS, nếu được sử dụng thích đáng, mà là để nhấn mạnh hoạt động đọc
hiểu của trò, được coi là hoạt động trung tâm của quá trình dạy học TPVC. Hoạt động
đọc hiểu trong nhà trường phải được thiết kế và thực hiện theo một trình tự qua các
giai đoạn và ở những mức độ khác nhau: từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ hẹp đến
rộng, từ đọc tích luỹ đến đọc hiểu, từ đọc đánh giá đến đọc sáng tạo...
7
8
Mô hình này đòi hỏi nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề,
muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác
nhau.
Một ví dụ cho mô hình này là dự án giảng dạy về Công nghệ, Khoa học và Toán
của hai nhà giáo dục Laporte và Sanders vào năm 1996. Mục đích của dự án này là
giúp các trường trung học tại Mĩ được học Toán và Khoa học thông qua các hoạt động
công nghệ.
Dạy học theo mô hình này chúng ta có thể thấy một vấn đề có thể liên quan đến
nhiều môn học khác nhau như Nghệ thuật (Arts), Xã hội (Social Studies), Ngôn ngữ
(Language Arts), Toán (Mathematics) và Khoa học (Science)…
Mô hình này cho thấy quá trình học tập xoay quanh những mục tiêu chung cho
một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp. Ví dụ như môn Xã hội ở bậc tiểu học tại
Australia tích hợp kiến thức từ nhiều môn học khác nhau bao gồm các kiến thức về
con người, sức khỏe liên quan đến môi trường xã hội.
Trong môn ngữ văn, tích hợp ngang là kiểu tích hợp giữa ba phân môn Văn Tiếng Việt - Làm văn. Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa ba phân
môn một cách đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ
sung làm nổi bật cho nhau. Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho
phân môn khác. Những kiến thức của ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm Văn tách
rời độc lập nhưng khi vận dụng quan điểm tích hợp vào làm cho ba phân môn này có
mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau dựa vào nhau và làm sáng tỏ cho
nhau. Chẳng hạn, khi tìm hiểu một văn bản thơ, có thể hỏi học sinh về các biện pháp
tu từ và ý nghĩa các biện pháp tu từ trong đoạn thơ đó (tích hợp với phần tiếng Việt),
khi tìm hiểu một văn bản truyện, có thể hỏi học sinh về sự kết hợp các phương thức
biểu đạt trong văn bản (Tích hợp với phần làm văn). Trong một bài học ngữ văn, để
tích hợp ngang được tốt, cần phải có kĩ năng nghiên cứu cấu trúc tích hợp của các
phân môn trong một đơn vị bài học tuần. Muốn vậy cần có sự hiểu biết sâu sắc, chặt
chẽ về mục tiêu cần đạt của mỗi phân môn, đồng thời phải thoát ra khỏi tiết dạy của
10
Mô hình này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất và mục
tiêu. Trong trường hợp này, môn học tích hợp được cùng một giáo viên giảng dạy.
Dạy học theo hướng tích hợp liên môn cho thấy chủ đề trong một môn học có
thể liên quan đến nhiều môn học khác nhau như: Toán, Giáo dục Thể chất, Địa lí…
II. Thực trạng việc dạy học tích hợp môn Ngữ văn ở trường THPT:
1. Thực trạng :
Như đã phân tích ở trên, việc sử dụng phương pháp dạy học tích hợp là một tất
yếu trong dạy học bộ môn Ngữ văn.Thế nhưng, việc vận dụng phương pháp này trong
thực tế không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả.
+ Nhiều giờ dạy, giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng phương pháp dạy học
tích hợp. Do đó, dẫn đến việc khai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu,
làm cho chất lượng bài dạy không đạt.
Ví dụ : Dạy “ Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, khi phân tích
các đặc điểm phẩm chất của những con người trong gia đình nhân vật Việt cần phải
liên hệ đến phẩm chất của các nhân vật trong tác phẩm Rừng xà xu của Nguyễn Trung
Thành để thấy rõ hơn, sâu sắc hơn những phẩm chất lịch sử của con người Việt Nam
thời kháng chiến chống Mĩ. Đồng thời để thấy vẻ đẹp riêng của mỗi con người ở
những vùng văn hóa, vùng đất khác nhau. Có như vậy mới giúp học sinh thấy được
mối liên hệ của các tác phẩm, chiều sâu của hình tượng…
+ Nhiều giờ dạy, giáo viên tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến thức
được tích hợp không có mối liên hệ gắn bó.
Ví dụ : Dạy Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu lại đem so sánh
nhân vật người đàn bà làng chài với nhân vật bà Hiền trong Một người Hà nội của
Nguyễn Khải về tiêu chí vai trò của người phụ nữ trong gia đình thì quả là gượng ép.
Bởi lẽ, hai người đàn bà trong hai gia đình ở hai hoàn cảnh khác nhau, được xây dựng
bởi hai cảm hứng khác nhau, khi so sánh cần hết sức cân nhắc.
học tích hợp.
3. Hậu quả :
Từ những nguyên nhân trên, có thể thấy, từ việc áp dụng một phương pháo dạy
học nhỏ mà không đúng dẫn đến một hậu quả lớn. Đó là :
12
+ Học sinh không nhận ra được sự gắn kết của các đơn vị kiến thức trong SGK,
một vấn đề mà người biên soạn sách rất lưu tâm.
+ Học sinh không cảm nhận được chiêu sâu, những vẻ đẹp riêng của mỗi tác
phẩm văn học trong hệ thống thể loại, đề tài, chủ đề.
+ Ảnh hưởng đến chất lượng viết bài làm văn ở học sinh. Đó là sự vận dụng kết
hợp các kiến thức Tiếng Việt, Văn học vào Làm văn và sự vận dụng kiến thức không
phong phú. Tức là ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
+ Ảnh hưởng đến phương pháp và năng lực cảm thụ văn học của học sinh.
III. Một số kinh nghiệm dạy học tích hợp môn Ngữ văn THPT:
1. Xác định đúng nội dung, mục tiêu tích hợp:
Để vận dụng phương pháp dạy học tích hợp có hiệu quả, người dạy cần phải xác
định chính xác, đúng đắn mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, phương pháp tích hợp trong
bài dạy.
Theo kinh nghiệm cá nhân, các nội dung trên sẽ là :
1.1 Mục tiêu: (Trả lời câu hỏi: sử dụng phương pháp dạy học tích hợp trong bài
dạy để làm gì ?)
+ Khắc sâu kiến thức bài học.
+ Thể hiện tính liên kết, mối quan hệ hữu cơ của chương trình.
+ Rèn luyện kĩ năng tiếp nhận văn học cho HS.
1.2 Nội dung: (Trả lời câu hỏi: Trong bài dạy, nội dung nào cần phải dạy theo
lối tích hợp ?) Đó là :
+ Các nội dung kiến thức có những điểm liên quan, tương đồng với các bài đã
năng, vốn kiến thức để làm văn.
- Về nội dung cần tích hợp trong bài dạy: Với bài dạy này tôi chọn nội dung
cần tích hợp để so sánh, đối chiếu, củng cố và khắc sâu kiến thức học sinh là :
+ Những vẻ đẹp phẩm chất của hai nhân vật Chiến và Việt (so sánh với Dít, Tnú
trong tác phẩm Rừng xà nu, nhân vật ông Tám trong tác phẩm Đất )
+ Kĩ năng nghị luận về tác phẩm, đoạn trích tác phẩm văn xuôi (đã học ở bài
trước) và làm bài viết ở bài sau.
+ Sử dụng các nội dung của bài học Nhân vật giao tiếp để phân tích đoạn hội
thoại của hai nhân vật Việt và chị Chiến trong tác phẩm.
14
- Về nguyên tắc tôi dựa vào mục tiêu cần đạt của tiết học (theo tài liệu chuẩn
kiến thức kỹ năng):
+ Hiểu được vẻ đẹp phẩm chất cách mạng truyền thống của những con người
trong gia đình Việt đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt nam trong
cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
+ Kĩ năng nghị luận về đoạn trích tác phẩm văn xuôi .
- Về phương pháp, tôi tiến hành xác định nội dung tích hợp trong bài dạy.Đó là:
+ Những vẻ đẹp phẩm chất của hai nhân vật Chiến và Việt
+ Kĩ năng nghị luận về tác phẩm, đoạn trích tác phẩm văn xuôi (đã học ở bài
trước)
+ Sử dụng các nội dung của bài học Nhân vật giao tiếp để phân tích đoạn hội
thoại của hai nhân vật Việt và chị Chiến trong tác phẩm.
Trên cơ sở đó, tôi lựa chọn các dữ liệu cụ thể để tích hợp (sẽ nói ở sau)
2. Chuẩn bị các dữ liệu để tích hợp:
Một trong những yếu tố quyết định thành công của việc vận dụng phương pháp
dạy học tích hợp là việc chuẩn bị dữ liệu để tích hợp (Dữ liệu được hiểu là các đơn vị
kiến thức cần có để tích hợp). Như trên đã nói, giáo viên sẽ lúng túng và dễ mất uy
trước học sinh. Để việc chuẩn bị dữ liệu tích hợp có hiểu quả, tôi xác định mục tiêu,
đỗi thiêng liêng trong tâm thức mọi người. Tất cả góp phần làm phong phú thêm
gương mặt đất nước trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.
3. Sử dụng linh hoạt các hình thức tích hợp: Có ba hình thức tích hợp cơ bản
sau:
3.1 Tích hợp ngang: Là hình thức tích hợp liên phân môn và là hình thức tích
hợp theo từng thời điểm. Cụ thể là đối với môn Ngữ Văn, giáo viên sử dụng tri thức
của các phân môn Tiếng việt, Lí luận văn học, Làm văn để giãi mã văn bản văn học
hoặc ngược lại.
Ví dụ : Khi dạy bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, tôi đã sử dụng kiến thức của
bài Luật thơ, phần luật của thể thể năm chữ để lí giải âm điệu, nhịp điệu của bài thơ và
lối tự sự - trữ tình của tác giả trong bài thơ.
3.2 Tích hợp dọc : Tích hợp theo thể loại, đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học.
Mục đích của việc tích hợp này chủ yếu là so sánh, đối chiếu giữa các bài học có cùng
16
đề tài, chủ đề, các đơn vị kiến thức có quan hệ tương đồng để khắc sâu kiến thức cho
học sinh, giúp cho học sinh nhận ra những điểm giống nhau và khác biệt của các nội
dung cần quan tâm trong bài dạy VBVH.
Ví dụ: Các bài Chùm bài Ca dao yêu thương tình nghĩa ở lớp 10 sẽ cung cấp
cho học sinh những hiểu biết về tình cảm bạn bè, tình cảm anh em, cha mẹ, tình cảm
lứa đôi… Qua tìm hiểu các bài ca dao này, học sinh sẽ hình thành những quan niệm
đẹp về tình yêu lứa đôi, tình cảm với bạn bè, giao đình… Bên cạnh đó những bài thơ
về tình yêu đôi lứa như bài Tôi yêu em (A. Puskin) ở lớp 11 hay Sóng (Xuân Quỳnh)
ở lớp 12 cũng sẽ hướng học sinh đến những tình cảm trong sáng, cao thượng, thủy
chung, son sắc.
Khi dạy bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, một bài thơ tập trung thể hiện
những cảm nhận, suy tư và khát vọng của Xuân Quỳnh về tình yêu, có thể liên hệ với
ca dao nói về tình yêu lứa đôi, với thơ Xuân Diệu để học sinh thấy được nét độc đáo,
sự tinh tế và chiều sâu trong suy cảm của nữ thi sĩ này. GV cũng có thể tích hợp với
đặc điểm văn học của các giai đoạn. Ví dụ học về giai đoạn văn học 1930 -1945 học
sinh cần hiểu được hoàn cảnh đất nước ta thời bấy giờ đang chịu sự đô hộ của thực
dân Pháp. Theo bước chân xâm lược của thực dân Pháp là văn hóa phương Tây.
Chúng mở ra các trường học nhằm đào tạo các viên chức giúp việc, tạo thuận lợi cho
kế hoạch khai thác thuộc địa. Văn hóa Phương Tây ồ ạt xâm nhập vào Việt Nam, từ đó
xuất hiện một tầng lớp trí thức Tây học với những quan niệm thẩm mỹ và lối sống
mới. Chính tầng lớp trí thức tây học này đã góp phần tạo nên một diện mạo mới cho
văn học nước nhà giai đoạn 1930 – 1945. Bên cạnh đó nhu cầu thẩm mĩ của người đọc
cũng được nâng cao, trình độ tiếp nhận mới của người tiếp nhận yêu cầu nhà văn cần
có những thay đổi trong phương pháp sáng tác và nội dung phản ánh. Chính vì vậy
văn học giai đoạn này đã có những thay đổi đáng kể cả về hình thức lẫn nội dung.
Với các bài đọc – hiểu văn bản, học sinh cũng cần nắm được hoàn cảnh sáng tác
văn bản đó, đặc biệt là hoàn cảnh rộng (hoàn cảnh xã hội). Tìm hiểu hoàn cảnh xã hội
cũng giúp học sinh hiểu hơn về văn bản.
* Với các bài Văn học sử như Khái quát lịch sử văn học các giai đoạn, các bài
về tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nam Cao, Hồ Chí Minh, Tố
Hữu...việc nắm được các kiến thức về lịch sử sẽ lí giải được những yếu tố chi phối đến
18
sự phát triển văn, chi phối đến việc hình thành tài năng phong cách văn chương của
mỗi tác giả.
Chẳng hạn để có một tài năng văn chương như Nguyễn Du thì hoàn cảnh lịch sử
với nhiều biến đổi, nhiều phen thay đổi sơn hà Lê - Trinh, Nguyễn, Tây Sơn có tác
động không nhỏ đến thế giới quan sáng tác của Nguyễn Du. Thêm vào đó là các yếu tố
gia đình, quê hương cũng là những là những yếu tố hun đúc nên tài năng của Nguyễn
Du
* Với các bài Đọc hiểu văn bản văn học
Đọc hiểu Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi ở Ngữ văn 10 việc tiếp cận văn
bản này không thể tách rời với cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược. Khi
đây cũng là lí do vì sao thời
trung đại có hiện tượng văn
sử triết bất phân vì vậy mà
những trang sử của Ngô Sĩ
Liên lại có chất văn chương
sống động và trở thành
những văn bản văn chương
được dạy trong chương
trình như Thái sư Trần Thủ Độ, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn...
b. Tích hợp với môn Giáo dục công dân
Môn Ngữ văn có một mục tiêu rất gần với môn Giáo dục công dân đó là dạy
học sinh trở thành người công dân gương mẫu, sống có ích, hướng học sinh đến chân
– thiện – mĩ. Nếu môn Giáo dục công dân dạy học sinh biết làm thế nào để trở thành
một người công dân mẫu mực thì môn Ngữ văn giúp các em có tư tưởng, tình cảm,
cảm xúc tốt đẹp để các em có động lực thực hiện các hành vi cao đẹp.
Tích hợp với môn Giáo dục công dân, học sinh sẽ biết hình thành cho mình
những chuẩn mực đạo đức gần gũi với cuộc sống. Môn Ngữ văn dạy các em biết thế
nào là yêu ghét rạch ròi. Học sinh biết phê phán những cái xấu, cái ác, cái không đúng
chuẩn mực. Chẳng hạn học về các bài ca dao yêu thương tình nghĩa, Tương tư học
sinh có thể liên hệ tới bài học về tình yêu trong môn Giáo dục công dân - hướng các
em tới nhận thực về tình yêu cao thượng, trong sáng, hay Tình cảm gia đình xã hội mà
20
các em được học trong chương trình. Từ đó các em hiểu được thế nào là một tinh yêu
đẹp, thế nào là một người con hiếu thảo. một người công dân tốt.
Học về bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, học sinh học về lối sống thanh cao,
lánh xa những dục vọng thấp hèn, không quá ham bả vinh hoa phú quí mà đánh mất
mình. Đó cũng là một phẩm chất cao đẹp mà môn Giáo dục công dân hướng đến để
hình thành cho học sinh.
dòng sông trong các văn bản trên được soi chiếu từ nhiều phương diện, trong đó có
góc độ địa lí. Am hiểu về địa lí tự nhiên sẽ giúp học sinh hứng thứ và hiểu sâu hơn về
các văn bản này.
d. Tích hợp với các vấn đề xã hội
Văn học là nhân học. Văn học phản ánh mọi mặt của đời sống từ những vấn đề
tích cực đến tiêu cực của xã hội. Môn học Ngữ văn có thể nói là một trong số những
môn có nội dung gần gũi với các vấn đề xã hội. Chính vì vậy dạy học Ngữ văn cần
thiết phải tích hợp với các vấn đề xã hội nhằm giáo dục học sinh biết tiếp nhận những
điều hay lẽ phải, những hành động nên làm và không nên làm cũng như phê phán
những hiện tượng tiêu cực.
Ví dụ như học sinh học môn Ngữ văn sẽ có thái độ phê phán, lên án vấn đề ma
túy. Người học hiểu được tác hại của ma túy, những ảnh hưởng tiêu cực của ma túy
đối với con người và xã hội qua những bài học cụ thể.
Bên cạnh đó môn Ngữ văn cũng giúp nâng cao ý thức của học sinh trong việc
bảo vệ môi trường. Những tác phẩm văn học luôn chứa đựng những hình ảnh thiên
nhiên tươi đẹp, những môi trường sống thanh cao, trong sạch. Khi học những tác
phẩm này, học sinh có ý thức đầy đủ về môi trường sống xung quanh qua đó nâng cao
ý thức bảo vệ môi trường sống, bào vệ môi trường tự nhiên, sống thân thiện với thiên
nhiên và môi trường xung quanh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một vấn đề có thể tích hợp trong môn Ngữ văn.
Những vấn đề về lập trường tư tưởng luôn là vấn đề được giáo dục, uốn nắn khi học
văn. Học sinh luôn được rèn luyện về vấn đề đạo đức, lối sống, tinh thần yêu nước qua
những tác phẩm văn chương ca ngợi phẩm chất con người và tinh thân đấu tranh
chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc. Những tác phẩm văn học mang nội dung yêu
nước cũng góp phần củng cố tình yêu gia đình, quê hương, dân tộc qua đó hướng
22
người học đến những hành động có ý nghĩa xây dựng và bảo vệ quê hương, đề phòng
và tránh những tư tưởng tiêu cực của các thế lực chống phá cách mạng.
Trong chương trình giảng dạy giáo dục phổ thông, chương trình của Bộ Giáo
dục và Đào tạo có dành một phần thời lượng đáng kể cho việc dạy học phần kiến thức
địa phương. Chính vì vậy trong quá trình dạy học việc tích hợp với chương trình giáo
dục địa phương mang đến hiệu quả tích cực cho dạy học Ngữ văn và giáo dục nhận
thức cho học sinh về các vấn đề liên quan đến đặc điểm văn hóa địa lí lối sống của
từng vùng miền.
Ở địa phương Lào Cai đã thành lập nhóm biên soạn chương trình giáo dục địa
phương. Trong quá trình tham gia vào biên soạn SGK địa phương môn Ngữ văn của
Lào Cai, tác giả biên soạn đã có chủ ý đưa vấn đề tích hợp dạy học trong quá trình dạy
chương trình địa phương. Khi dạy học các văn bản văn học địa phương: Sự tích đền
Ông Bảy, Ca dao Trẩy hội mùa xuân, thơ Con trai người Pa Dí, hay tản văn
Phansiphang – Đỉnh hùng sơn hùng vĩ học sinh có cơ hội được hiểu biết về địa lí, lịch
sử, phong tục tập quán văn hóa của địa phương, đặc biệt là sự hùng vĩ khoáng đạt của
thiên nhiên và bề dày lịch sử phong tục, chiều sâu của vẻ đẹp văn hóa và phẩm chất
của các dân tộc thiểu số ở Lào Cai, những tri thức phong phú đó sẽ là cội nguồn cho
niềm tự hào và tình yêu quê hương xứ sở của học sinh. Nội dung biên soạn chương
trình Ngữ văn địa phương sẽ được người viết đưa vào phần phụ lục của SKKN này.
4. Ra đề kiểm tra đánh giá theo hướng tích hợp.
Kiểm tra là khâu đánh giá kết quả học tập của học sinh, giúp giáo viên dựa vào
kết quả dạy học mà điều chỉnh phương pháp dạy học hợp lí nhằm nâng cao chất lượng
dạy học.
Kiểm tra theo hướng tích hợp là một hướng kiểm tra hiện đại được áp dụng
trong nhà trường những năm gần đây, nhất là trong các kì thi lớn.
Đề kiểm tra luôn thể hiện xu hướng tích hợp kiểu thức theo hai kiểu hình thức
tích hợp đã nêu. Đối với môn ngữ văn, trong đề kiểm tra, người ra đề đồng thời kiểm
tra các tri thức Tiếng Việt,Văn học và Làm văn. Thậm chí, xuất phát từ một ngữ liệu
(đoạn văn, tác phẩm ngắn), người kiểm tra đồng thời kiểm tra kiến thức của các phân
môn (Tích hợp ngang trong kiểm tra).
24
25