Ảnh hưởng của phân bón lá vi sinh tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây cải ngọt - Pdf 32

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau là nguồn thực phẩm rất cần thiết trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con
người. Rau cung cấp cho cơ thể các chất quan trọng như: lipit, protein, vitamin,
muối khoáng, axit hữu cơ, và chất thơm [1]. Ngoài những giá trị thực phẩm
trong các bữa ăn hằng ngày rau còn được sử dụng làm lương thực như khoai
tây, đậu đỗ,…Rau còn có giá trị về mặt y dược. Nhiều loại rau gia vị được sử
dụng như những bài thuốc dân gian có hiệu quả như hành, tỏi, gừng, rau thơm.
Đặc biệt khi mà lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu
cầu về số lượng cũng như chất lượng lại càng tăng như một yếu tố tích cực
trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ của con người.
Lượng tiêu thụ rau bình quân trên đầu người mỗi năm trên thế giới là
91,2 kg/năm, Trung Quốc 112 kg/năm còn ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở con
số khiêm tốn 65 kg/người/năm. Bởi vậy, chính phủ Việt Nam đã chủ trương mở
rộng diện tích trồng rau từ 445.000 ha năm 2001 lên 800.000 năm 2010 [41].
Trong những năm gần đây hàng loạt vụ ngộ độc đã xảy ra rộng khắp và
bên cạnh đó là những mối đe dọa “tiềm ẩn” chưa thấy hết đang nằm trong
chính cơ thể mỗi người tiêu dùng “rau không an toàn” và “cái giá” không nhỏ
về mặt môi sinh mà thế hệ chúng ta và con cháu đã và đang và sẽ phải trả. Theo
thống kê của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hằng năm trên thế giới có trên
40.000 người trong tổng số 2 triệu người bị ngộ độc rau. Tại Việt Nam theo
thống kê mới nhất của ngành y tế cho biết, trong vòng vài năm gần đây, tính
riêng số người ngộ độc thực phẩm phải nhập viện cấp cứu do nguồn rau, củ
thiếu an toàn đã lên đến con số hơn 700 người/năm. Vấn đề này càng trở nên
bức thiết hơn đối với những vùng đô thị, đông dân cư. Đó là những nơi có diện
tích đất nông nghiệp hạn chế nhất mà mức độ ô nhiễm môi trường lại đáng báo
động hơn cả.
Khi đánh giá thực trạng ngành sản xuất rau của nước ta, Nguyễn Thiện
Luân, Trần văn Lài, Trần Khắc Thi (2001) [22] cho rằng: một trong những
trọng tâm nghiên cứu của ngành trong thời gian tới là nâng cao năng suất đi đôi

trong nước, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón
lá vi sinh tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây cải ngọt tại Trung
tâm nông nghiệp hữu cơ Trường ĐHNN Hà Nội”.
1.2 Mục đích yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển, tình hình sâu
bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của rau cải ngọt với các
công thức bón phân khác nhau, lựa chọn được loại phân bón lá phù hợp nhất

Hå ThÞ M¹o – 8K

2

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


cho rau. Trên cơ sở đó góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho rau
cải ngọt, phục vụ sản xuất rau an toàn cho con người.
1.2.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình
sở dụng phân bón lá trong sản xuất rau an toàn trên cây cải ngọt.
1.2.3 Yêu cầu
- Tìm hiểu ảnh hưởng của từng loại phân bón lá tới sự sinh trưởng và
phát triển của rau cải ngọt.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại trên cây rau cải ngọt.
- Xác định loại phân bón lá phù hợp cho sản xuất rau cải ngọt làm cơ sở
cho việc xây dựng mô hình thâm canh cải ngọt trong thời gian tới.

Hå ThÞ M¹o – 8K

5
6
7
8
9
10

Hå ThÞ M¹o – 8K

Quốc gia

Diện tích (ha)

Thế giới
42.583.654
Trung Quốc
15.712.003
Ấn Độ
5.705.000
Mỹ
1.380.478
Nga
1.038.300
Indonexia
772.537
Ukraina
618.500
Philippin
588.802
Italia

Theo số liệu thống kê [15], diện tích trồng rau cả nước đến năm 2002 là
560.600 ha tăng lên 214,72% so với năm 1990 (261.090 ha). Bình quân mỗi
năm tăng 24,96 ha. Tuy nhiên, năng suất rau ở nước ta nói chung còn thấp và
không ổn định. Năm có năng suất cao nhất (1998) mới chỉ đạt 147,8 tạ/ha bằng
80% so với mức bình quân trên thế giới (sấp xỉ 180 tạ/ha) (Trần Khắc Thi và
cộng sự, 2005) [24]. Năm 2002 sản lượng thu hoạch rau đạt cao nhất là 7.484,8
triệu tấn so với năm 1990 là 3.200 triệu tấn tăng 4.274,8 triệu tấn. Sản lượng
tăng trung bình hàng năm của 12 năm qua gần 375 nghìn tấn/năm chủ yếu là do
tăng diện tích gieo trồng.
Bình quân sản lượng rau trên đầu người ở nước ta còn thấp khoảng 84
kg/người/năm. Tới năm 2010 nước ta sẽ có 90 - 95 triệu người, dân số đô thị sẽ
là 25 - 30 triệu người, rau tiêu dùng sẽ là 8,5 triệu tấn, rau cho đô thị là 3 triệu tấn
[1]. Từ đó cho thấy ngành sản xuất rau ở Việt Nam còn phải phát triển mạnh hơn
nữa mới đáp ứng được nhu cầ tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, mức sống của người dân được nâng cao thì
nhu cầu về rau sạch, rau có chất lượng cao cũng được tăng lên. Việc mở rộng
diện tích rau an toàn đã được triển khai ở các thành phố như: thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Lạt, Hà Nội… các công nghệ sản xuất rau sạch, rau an toàn dần được
giới thiệu và được sản xuất thử ở một số cơ sở sản xuất : Viện Nghiên cứu Rau
Quả và trường ĐH Nông Nghiêp Hà Nội như công nghệ rau trong nhà lưới Đài
Loan, công nghệ rau sạch theo kiểu Canada, Isarel và trồng rau trong dung
dịch. Một số công nghệ sản xuất rau an toàn đã được tiếp nhận và ứng dụng
bước đầu cho kết quả rất khả quan.
Bộ NN & PTNT đã đưa ra quan điểm về sản xuất rau an toàn như sau:
Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn thân, lá, củ, hoa, quả
có chất lượng tốt đúng như đặc tính của nó, hàm lượng các hoá chất độc và

Hå ThÞ M¹o – 8K

5

tích trồng rau an toàn tại tỉnh này. Thành phố Hồ Chí Minh- địa phương được
đánh giá là có phong trào phát triển diện tích rau an toàn khá mạnh. Đến tháng
5 năm 2007 có tổng số 1712 ha được công nhận là có đủ điều kiện sản xuất rau
an toàn trên tổng số hơn 2000 ha trồng rau [16].

Hå ThÞ M¹o – 8K

6

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


Hiện nay chưa có một quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn thống nhất
trong cả nước. Mỗi địa phương áp dụng một quy trình sản xuất rau an toàn
khác nhau. Ở các vùng rau an toàn, phần lớn ngươi dân tự sản xuất, tự tiêu thụ
đã dẫn đến đầu ra không ổn định, chưa gây dựng được niềm tin ở người tiêu
dùng về chất lượng rau.
Theo số liệu thống kê chính thức của tổng cục hải quan, kim ngạch xuất
nhập khẩu rau các loại từ năm 2004 đến 2009 tăng trưởng khá đều. Ước tính
chung 6 năm ( 2004 -2009 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,82 tỷ USD, tăng
trưởng bình quân đạt 20 %/ năm.
Cụ thể: Năm 2004: 179 triệu USD ; Năm 2005: 235 triệu ;năm 2006: 259
triệu; năm 2007: 306 triệu; năm 2008: 407 triệu ; năm 2009: 439 triệu.

Biểu đồ 2.1: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam những năm gần đây
Phấn đấu dến 2010 tổng kim ngạch rau hoa quả các loại đạt 760 triệu USD.
Tầm nhìn dến năm 2020 đạt khoảng 1,2 tỷ USD.
Bảng 2.2: Dự kiến sản xuất rau năm 2010
Cây trồng
Rau

lục. Đạm làm tăng sinh trưởng và phát triển của mô sống, quyết định chất
lượng nông sản. Lân là thành phần của axit nucleic, photphatit, protein, lipit,
coenzim…Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích sự phát
triển rễ, ra hoa, sự phát triển của quả và hạt. Kali hoạt hoá các enzim có liên
quan đến quá trình quang hợp, chuyển hoá hydratcacbon và protein cũng như
giúp di chuyển và duy trì sự sống của chúng. Kali điều khiển quá trình sử dụng
nước bằng cách đóng mở khí khổng, thúc đẩy quá trình sử dụng đạm NH 4+ và
tăng khả năng chống chịu bệnh [19].
Phân bón cho cây trồng có thể chia làm 2 loại là phân chậm tan và phân
dễ tan. Theo Karen Demboski và cộng sự [44], cả 2 loại phân bón này đều cần
thiết cho cây trồng trong khay, chậu. Bởi vì hầu hết các loại giá thể đều không
chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây sinh trưởng phát triển tốt
nhất. Các tác giả có giới thiệu một số loại phân như phân chậm tan Osmocote
có tỷ lệ 14-14-14, 10-10-10 hay 13-13-13, phân dễ tan như Perter 20-20-20,
Miracle Gro 15-30-15. Phân chậm tan nên sử dụng ngay từ đầu khi chộn phối
với giá thể. Phân dễ tan sử dụng khi cây bắt đầu sinh trưởng cho sản phẩm, sử
dụng với lượng 1-2 tuần 1 lần.
Lawtence và Neverell (1950) [37] cho biết ở Anh bổ sung1,5 kg đá vôi
nghiền và 3 kg supe photphat (20% P2O5) vào 1 m3 hỗn hợp giá thể làm bầu
cho cây con là hợp lý. Nhưng hỗn hợp giá thể trồng cây nên bổ sung 1,5 kg đá
vôi nghiền + 8,5 kg phân bazơ hoặc 12 kg phân NPK dạng 5-10-10 cho 1 m 3
hỗn hợp.
Theo Bunt (1965) hỗn hợp cho gieo hạt bổ sung 2,4 kg đá vôi nghiền + 0,6 kg
supe photphat (20% P2O5) + 285 g KNOP3. Hỗn hợp trồng cây nên bổ sung 1,8
kg đá vôi nghiền + 1,5 kg supe photphat (20% P2O5) + 740 g KNOP3 + 1,2 kg
NH4NO3

Hå ThÞ M¹o – 8K

8

2.2.2. Phân bón qua lá
Từ lâu các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, cây xanh hút các
chất dinh dưỡng ở dạng khí như: CO 2, O2, SO2, NH3, NO2 từ khí quyển qua lỗ
khí khổng (Nguyễn Hạc Thuý, 2001) [26]. Bằng phương pháp đồng vị phóng

Hå ThÞ M¹o – 8K

9

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


x cỏc nh khoa hc ó phỏt hin ra, ngoi b phn lỏ thỡ cỏc b phn khỏc nh:
thõn cnh, hoa, qu u cú chc nng hp th dinh dng.
Bng cỏc thớ nghim khỏc nhau cỏc nh khoa hc ó cho thy: Vic phun
cỏc cht dinh dng dng ho tan vo lỏ, chỳng c thõm nhp vo c th cõy
xanh qua l khớ khng c ngy ln ờm (Trn i Dng, 2004) [8].
C ch úng m khớ khng cú liờn quan n kớch thc di, rng ca l
khớ khng, liờn quan n ỏnh sỏng, m khụng khớ, nhit , m t, cỏc cht
dinh dng v sc sng ca cõy. C ch ny cũn liờn quan cht ch gia aixt
aixixic (ABA), pH dch bo, v ion kali. L khớ khng cú kớch thc di 7 - 40
àm, rng 2 - 12 àm vi s lng khỏ ln, nu bún phõn qua lỏ vo thi im khớ
khng m hon ton thỡ t hiu sut cao nht (Nguyn Vn Uyn, 1995) [27].
Theo Nguyn Vn Uyn (1995) [27], phõn bún lỏ trờn th trng trong
nc v trờn th gii rt phong phỳ, sn xut di dng cỏc ch phm bún qua
lỏ, cú th chia lm 3 nhúm:
- Nhúm ch cú cỏc yu t dinh dng a lng v vi lng phi hp
hoc riờng r.
- Nhúm cú thờm cht kớch thớch sinh trng, nhm thỳc y sinh trng
hoc thỳc y ra hoa, kt qu, gim t l rng qu, thỳc y quỏ trỡnh chớn hoc

Nhật Bản, Anh, Đức, Thái Lan, Trung Quốc… đã sản xuất và sử dụng nhiều
chế phẩm bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản,
không làm ô nhiễm môi trường như: Yogen, Atonik…(Nhật Bản), Organic,
Cheer…(Thái Lan), Bloomplus, Sduspray - N - Grow (Hoa Kỳ), Đặc đa thu,
Đặc phong thu, Diệp lục tố…(Trung Quốc)…Trong đó nhiều chế phẩm đã
được khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt
Nam (Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh, 1998) [17].
Theo số liệu được công bố, hiệu xuất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt
tới 95%. Ở Philippin dùng phân bón lá cho năng suất lúa tăng 1,5 lần so với
dùng phân bón qua gốc và gấp 3,3 lần khi không dùng phân bón. Khi sử dụng
phân bón lá cây lúa khoẻ hơn, cứng hơn, chịu được sâu bệnh, không làm chua
đất như khi bón nhiều và liên tục phân hoá học vào đất. Hạt thóc cũng nặng
thêm và chắc hơn, tỉ lệ gạo gãy không đáng kể, làm cho gạo của Philippin phù
hợp với thị trường quốc tế hơn.
Ở nước ta, từ những năm 80, Viện hoá học công nghiệp đã tiến hành
tách chiết axit axixic từ than bùn để điều chế một số loại Humat dùng làm
chất kích thích sinh trưởng phun cho cây trồng, kết quả là đã được thị trường
chấp nhận.
Theo tác giả Đường Hồng Dật (2003) [7], cho thấy bón qua lá phát huy
hiệu lực nhanh, tỉ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức độ cao 9095%, trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng được 40 - 45 %.

Hå ThÞ M¹o – 8K

11

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


Các tác giả Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh (1998) [17]
cho biết, chế phẩm bón qua lá đã làm tăng chất lượng nông sản: giảm hàm lượng

12

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


trường thì phân bón qua lá, vi sinh được khuyến khích đưa vào sử dụng có
ý nghĩa lớn trong phát triển nông nghiệp bền vững, trong vấn đề an toàn
dinh dưỡng cây trồng.
Rõ ràng phân bón qua lá không thể thay thế phân bón qua rễ nhưng vai
trò của nó là không thể phủ nhận. Vũ Cao Thái (1996) [20] cho rằng: Phân bón
qua lá một giải pháp chiến lược của ngành nông nghiệp, khi sử dụng hiệu quả
phân bón lá trên cây trồng thì sản lượng trung bình tăng cao cao 20 - 30 lần với
cây lấy lá, 10 - 20 lần với cây ăn quả, 5 - 10 lần với cây lúa, 10 - 30 lần với cây
công nghiệp ngắn ngày. Điều này hoàn toàn coá cơ sở khoa học vì lá là cơ quan
tổng hợp các chất hoá học, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, qua quá trình
sinh sinh lý, sinh hóa, quang hợp. Khi bón qua lá sẽ khắc phục được những hạn
chế khi bón vào đất như: bị rửa trôi, bốc hơi hoặc giữ chặt trong đất. Đây là cơ
sở để đưa nguyên tố vi lượng vào các chế phẩm phân bón lá, giúp cây trồng
trong những điều kiên bất lợi như: hạn hán, lũ lụt, thời kì khủng hoảng dinh
dưỡng, cây mau chóng phục hồi.
2.3. Sâu bệnh hại với rau an toàn
Rau thuộc họ hoa thuật tự là loại cây trồng phổ biến ở nhiều nước trên
thế giới. Trong suốt thời gian từ khi trồng tới khi thu hoạch chúng thường bị
nhiều loại rau hại tấn công và gây hại. ở Famaica có 17 loài sâu hại , riêng sâu
tơ Plutella xylostela L. Và sâu khoang Spođyptera lytura F.có tỷ lệ gây hại
năng suất cải bắp ( Alam M.1992 [3]. Ở Mĩ có 4loài ( Shelton et al ;1982 [33],
1990 [34]; Nhật Bản có 5 loài (Koshihara, 1988, [35] );Trung Quốc có 7 loài
(Chang et al , 1983 [36] )…Tuy số loài gây hại chủ yếu có khác nhau nhưng
sâu tơ,sâu khoang điều được coi là đối tượng gây hại quan trọng hầu hết các
nước ( Bahala 1985 [38], Salynas, 1985[39] emato et al, 1990 [40] ). Tại Việt

thì cây rau thường có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng lớn hơn trên cùng
một đơn vị diện tích.
Bảng 2.3: Hàm lượng dinh dưỡng của một số loại cây trồng
Cây trồng
Lúa
Cải
Súp lơ
Cà chua

Năng suất
Protein (Kg B –Carotene
tiêu thụ(tấn/
VitaminC(Kg/ha)
/ha)
(G/ha)
ha)
5.5
414
0
0
39.7
707
537
20.6
23.9
229
6.9
8
60.1
535

Hiền và cộng sự, 2001), [40].
Theo số liệu điều tra của Viện kinh tế nông nghiệp (1996), [3], tổng thu
nhập trên 1 ha rau tại tỉnh Hà Tây, Nam Định, Hà Nội và Thái Bình cao hơn rất
nhiếu so với lúa và ngô.
Khi so sánh hiệu quả kinh tế giữa các công thức luân canh ở vùng đồng
bằng Sông Hồng cho thấy tổng thu nhập trên đất chuyên canh rau cao hơn 2 lần
so với trên đất 1 lúa – 2 màu hơn 3 lần so với đất 2 lúa - 1 màu.
Hiệu quả sản xuất kinh tế rau còn hơn rất nhiều nếu sản phẩm được chế
biến. Khi sản xuất 1 ha dưa chuột và chế biến ( theo kiểu chẻ 4 dầm dấm) lợi
nhuận từ 18 -20 triệu đồng. Chế biến cà chua cô dặc cho lợi nhuận tăng từ 4,5
triệu đồng lên 6,5 triệu đồng ( Nguyễn Tiến Mạnh, 1999).
2.5. Giới thiệu chung về cây rau cải ngọt
Rau cải là loại rau được gieo trồng ở nhiều nơi trên thế giới nhưng phổ
biến ở các nước Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.
Hiện nay, chưa xác định chắc chắn nguồn gốc của rau cải, tuy nhiên nhiều tác
giả nhất trí trung tâm đa dạng của cải xanh ngọt là Trung Á.

Hå ThÞ M¹o – 8K

15

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


Cải xanh ngọt có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng ẩm. Trong
mùa lạnh, cải sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao trên đất giàu mùn, thoát
nước tốt.
Rau thuộc họ thập tự Cruciferae là loại rau phổ biến khắp nơi trên thế
giới, từ vùng nhiệt đới nóng, ẩm đến miền cực lạnh giá. Trong điều kiện khí
hậu Việt Nam, rau họ thập tự có thể sinh trưởng phát triển gần như quanh năm



Rau cải là cây ưa ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn cây con và giai đoạn
sinh trưởng. Cây quang hợp mạnh ở bức xạ mặt trời 20000-22000 lux. Rau cải
là cây ngắn ngày dài nên nếu trồng trong điều kiện ánh sáng đầy đủ thì cây sẽ
sinh trưởng và phát triển tốt.
c. Yêu cầu về độ ẩm
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây rau cải yêu cầu độ ẩm đất
và không khí cao. Do cường độ thoát hơi nước ở lá của cây rau cải rất cao. Các
nhà nghiên cứu đã xác định cường độ thoát hơi nước của cây rau cải ngọt là
12g/h/m2 diện tích bề mặt lá. Độ ẩm tối thích trong giai đoạn sinh trưởng là 8085% độ ẩm đồng ruộng, độ ẩm không khí là 85-90%.[5], [9].
d. Yêu cầu vê dinh dưỡng và đất trồng
Rau cải phát triển tốt trên các loại đất cát pha, thịt nhẹ, thoáng khí và có
khả năng giữ ẩm.Rau cải không thích hợp trồng trên loại đất nghèo dinh dưỡng,
đất cát pha nặng cũng như trên loại đất có phản ứng axit. Phát triển tốt trên đất
có độ pH = 5,5 – 6,5. Trong thời gian ngắn cây rau cải ngọt có thể tạo nên khối
lượng chất hữu cơ lớn vì vậy chúng yêu cầu tăng cường chất dinh dưỡng đặc
biệt là đạm, lân, kali, canxi. Mỗi thời kỳ sinh trưởng cây rau cải ngọt có yêu cầu
lượng dinh dưỡng khác nhau, các giống khác nhau thì yêu cầu về dinh dưỡng
cũng khác nhau.
Rau cải yêu cầu về dinh dưỡng đạm nhiều hơn so với các loại dinh
dưỡng khác. Nhưng trong điều kiện ánh sáng không đầy đủ, thời tiết khô hanh
nếu bón quá nhiều đạm cũng ảnh hưởng không tốt tới quá trình quang hợp của
cây, vì vậy cần phải tăng cường bón thêm kali. Tuy nhiên tốt nhất vẫn là bón
cân đối giữa các loại phân N, P, K, bón hợp lý và bón đúng thời kỳ để đảm bảo
được năng suất và chất lượng rau.
Đất trồng cần phải thường xuyên bổ sung các loại dinh dưỡng để đảm
bảo cây có đủ dinh dưỡng trong suốt quá trình sống. Nếu thiếu một trong các

Hå ThÞ M¹o – 8K

2. Ba lá xanh supen crow
Thành phần: N 5%; P2O5; K2O 5%; Vitanmin; trung vi lượng 300- ppm
3. Pnik
Thành phần: N 5% ; P 5%; K 5%; Axithumic 0,1%; AxitFuvic 500ppm;
NAA 50ppm; Mg 300ppm; Ca 300ppm; Zn 200PPM; Cu 200ppm; B 500ppm;
Fe 100ppm; Mn 100ppm; Mo 30ppm.
Công dụng: Kích thích phát triển thân lá, búp… tăng ra hoa đậu quả
4. Chelax sugar
Thành phần: Compont 67% Mososaccharide; 1,67% L Cysteine
5. Tổ hợp dinh dưỡng (cho rau cải ngọt)
Thành phần: 30ml cá + 20ml xương dấm + 20ml thân chuối + 20ml ngãi
cứu +10ml tỏi
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 29/03/ 2010 đến 04/06/2010
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Hå ThÞ M¹o – 8K

19

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm nông nghiệp hữu cơ, Trường
ĐH Nông Nghiệp Hà Nội
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá đến một số chỉ tiêu sinh trưởng,
phát triển của rau cải ngọt
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá đến mức độ gây hại của sâu,
bệnh hại.

CT V.2
CT II.1

CT IV.3
CT II.2
CT III.2

CT VI.3
CT I.2
CT V.1

CT V.3
CT III.2
CT VI.1

CT II.3
CT IV.2
CT 1.1

20
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Dải bảo vệ


- Tổng số ô thí nghiệm: 18 ô
Diện tích mỗi ô thí nghiệm =3 × 1m 2 (3m2/ô ).
- Tổng số ô thí nghiệm: 18 ô
- Diện tích mỗi ô thí nghiệm = 3 x 1m2 (3m2/ô)
- Tổng diện tích thí nghiệm: 80m2
- Liều lượng cho mỗi lần phun: phun lần đầu (sau khi cây con ra lá thật

gieo có thể tưới thúc nhẹ từ 1 – 2 lần bằng dinh dưỡng: xương dấm 30ml + tỏi
30ml/10lít nước. Cây con 15 – 17 ngày sau gieo có thể nhổ cấy.
3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Theo dõi thí nghiệm ngay sau gieo hạt. Khi cây có từ 2-3 lá thật thì bắt
đầu phun phân bón lá, cách 7 ngày phun 1 lần. Sau phun 5 ngày bắt đầu theo
dõi các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, cách 5 ngày đo 1 lần.
3.3.3.1 Thời gian sinh trưởng (ngày)
- Thời gian từ gieo đến nảy mầm: 10% và 85%
- Thời gian từ gieo đến 1 - 2 lá thật
- Thời gian từ gieo đến 3 - 4 lá thật
- Thời gian từ gieo đến 5 - 6 lá thật
- Thời gian từ gieo đến 7 - 8 lá thật
- Thời gian thu hoạch
3.3.3.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): đo chiều cao cây từ gốc đến
mút lá cao nhất. Mỗi ô theo dõi 10 cây. Theo dõi 5 ngày/lần.
F2 – F1
V tăng trưởng =T2 – T1
Trong đó: + F2: số đo lần 2
+ F1: số đo lần 1
+ T2 – T1: khoảng thời gian giữa 2 lần đo
- Động thái ra lá (lá): đếm số lá 5 ngày/lần. Mỗi ô theo dõi 10 cây
- Màu sắc lá
3.3.3.3 Tình hình sâu, bệnh hại
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại: theo dõi tình hình dịch hại xuất hiện
về thành phần, số lượng gây hại, phân cấp bộ phận gây hại (thân, lá, rễ ...)
Cấp hại
1
2
3

51 – 75
76 - 100

x 100

Trong đó:
P% tỷ lệ cây có sâu bị hại
N tổng số cá thể điều tra trong đơn vị điểu tra
n số cây bị sâu bệnh hại
3.3.3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của rau cải ngọt
- Năng suất thực thu (g/ô)
- Năng suất lý thuyết (g/ô)
- Năng suất lý thuyết (g/m2)
- Tỷ lệ chất khô của cải (P tươi, P khô, % chất khô)
3.3.3.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Tổng chi = Chi phí trung gian + Chi phí lao động
+ Chi phí trung gian ( phân bón, giống …)
+ Chi phí lao động
Tổng thu = Giá bán × Năng suất thực thu
Lãi thuần = Tổng thu - Tổng chi
Thu nhập = Tổng thu - Chi phí trung gian
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý thống kê bằng chương trình IRRISTAR và EXCEL
3.4. Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc
Thời vụ: vụ Xuân hè (từ 04/2010 - 05/2010)
Phương pháp gieo trồng: gieo hạt trực tiếp trên luống.

Hå ThÞ M¹o – 8K

23

nắng nóng nên tưới nước 2lần/ ngày, trời mưa thì 4 ngày tưới 1 lần.Việc bón
phân bón lá trong giai đoạn cây phát triển cũng cần được định kì. Bảy ngày
phun phân bón lá vi sinh một lần và ngừng phun phân thuốc trừ sâu trước khi
thu hoạch 1 tuần.
- Bón thúc: phun phân bón qua lá vi sinh, 7 ngày phun một lần.

Hå ThÞ M¹o – 8K

24

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


- Thu hoạch : Khi ruộng cải đã được khoảng 30 ngày tuổi, các cây phát
triển căng, mọng, cây đạt từ 35 – 40 cm, thì cũng là lúc có thể thu hoạch. Dùng
dao cắt bỏ phần gốc, lá vàng, sâu bệnh.

Hå ThÞ M¹o – 8K

25

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp


Trích đoạn Ảnh hưởng của phân bón lá tới chiều cao và số lá cuối cùng Đánh giá hiệu quả kinh tế của phân bón lávi sinh đối với cải ngọt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status