i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ của nhiêu cá nhân, đơn vị và tổ chức.
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn của mình là
giảng viên Trần Thị Kim Anh, người đã định hướng, tận tình chỉ bảo hướng dẫn, giúp đỡ
tôi trong thời gian thực hiện đề tài này.
Tiếp đến tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô là cán bộ giảng dạy trong khoa
Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh đã truyền giảng cho tôi những kiến thức, kinh
nghiệm quý báu trong hơn 4 năm qua.
Tôi xin chân thành cám ơn cán bộ công tác trên Trại Thực nghiệm NTTS nước ngọt
tại Hưng Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất cũng như hướng dẫn
tôi trong thời gian thực tập vừa qua.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các anh, các chị, bạn bè, những người
luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian đã qua.
Xin chân thành cảm ơn !
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký tự viết tắt
Tên đầy đủ
ANOVA:
Analysis of variance
TB:
Trung bình
TL:
Chiều dài toàn thân
TLS:
Tỷ lệ sống
W:
Khối lượng
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Bảng 1.1. Nhu cầu Protein của cá Vược qua các nghiên cứu..............................................7
Bảng 2.1. Công thức thức ăn làm thí nghiệm......................................................................20
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm........................................................................................21
Bảng 2.3. Kế hoạch đo các chỉ số môi trường.....................................................................21
Bảng 3.1. Một số yếu tố môi trường trong các giai thực nghiệm........................................24
Bảng 3.2. Các chỉ tiêu so sánh hiệu quả kinh tế của các công thức thức ăn........................37
iv
1.1.3.2. Thích nghi...............................................................................................................5
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng................................................................................................6
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng................................................................................................7
1.1.6. Đặc điểm sinh sản của cá Vược................................................................................8
1.1.6.1. Thành thục sinh dục................................................................................................8
1.1.6.2. Sức sinh sản và đẻ trứng.........................................................................................8
1.1.6.3. Phát triển phôi và ấu trùng......................................................................................9
1.2. Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Vược trên thế giới và tại Việt Nam..........................9
1.2.1. Trên thế giới..............................................................................................................9
1.2.2. Ở Việt Nam................................................................................................................13
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........17
2.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................................17
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu................................................................................17
2.3. Vật liệu nghiên cứu.......................................................................................................17
2.4. Nội dung nghiên cứu....................................................................................................18
2.5. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................18
2.5.1. Sơ đồ khối nghiên cứu...............................................................................................18
2.5.2. Bố trí thí nghiệm........................................................................................................19
2.5.3. Phương pháp theo dõi một số chỉ tiêu.......................................................................21
2.5.3.1. Xác định các chỉ số môi trường..............................................................................21
vi
2.5.3.2. Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu ...........................................................................21
2.6. Phương pháp xử lý số liệu............................................................................................23
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN......................................24
3.1. Sự biến động của các yếu tố môi trường......................................................................24
3.2. Tăng trưởng của cá Vược khi ương ở các loại thức ăn khác nhau...............................25
3.2.1. Tăng trưởng về chiều dài...........................................................................................25
Trong các trại sản xuất giống, một số nơi vẫn còn sử dụng cá tạp làm
nguồn thức ăn cho cá giống. Những nơi khác lại sử dụng các loại thức ăn
công nghiệp dành cho các loài động vật thủy sản khác như thức ăn cho tôm,
hay thức ăn của các loài cá khác để cho ăn, giá trị dinh dưỡng không phù hợp
ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Vược giống.
Một bước tiến mới trong thời gian gần đây trong việc cải tiến khẩu
phần ăn của cá vược là sử dụng thức ăn tự chế với tỷ lệ bột cá 70% và bột
cám hoặc tấm với tỷ lệ 30% (Trung tâm khuyến ngư quốc gia) nhưng vẫn
1
trong giai đoạn thí nghiệm. Việc tìm ra và sử dụng các công thức thức ăn tự
chế phù hợp sẽ giúp cá Vược sinh trưởng và phát triển tốt hơn, tăng tỷ lệ sống
trong giai đoạn cá hương lên cá giống, từ đó giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh
tế cho công tác sản xuất giống cá Vược.
Với mục đích tìm ra công thức thức ăn phù hợp với cá Vược, giảm
thiểu chi phí thức ăn trong quá trình nuôi cá vược thông qua giảm tỷ lệ bột cá
trong thức ăn tự chế và thay thế bằng protein thực vật là bột đậu nành, qua đó
tăng hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh
hưởng của thức ăn tự chế đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá vược
(Lates calcarifer Bloch, 1790) từ giai đoạn cá hương lên cá giống ương
trong môi trường nước ngọt”
Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn tự chế lên tốc độ tăng
trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Vược trong giai đoạn cá
hương lên cá giống. Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình ương cá Vược.
Xác định công thức thức ăn tự chế thích hợp, từ đó khuyến cáo
sử dụng nhằm tăng hiệu quả kinh tế.
Tiếng Nhật: Akame
Tiếng Anh khác: Giant sea perch, white sea bass
Tiếng Trung: Maan cho.
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Hình 1.1. Cá Vược (Lates calcarifer Bloch, 1790)
Cá Vược Lates calcarifer có thân dài dẹt, cuống đuôi khuyết sâu. Đầu
nhọn, nhìn bên lõm về phía lưng và lồi phía trước vây lưng. Miệng rộng hơi
3
so le, hàm trên chồm tới phía sau mắt, răng dạng lông nhung, không có sự
hiện diện của răng nanh. Mép dưới của xương trước nắp mang có gai cứng,
nắp mang có một gai nhỏ và một vẩy bên có răng cưa trước đầu đường bên.
Vây lưng có 7 - 9 gai cứng và 10-11 tia mềm, tia vây ngực ngắn và tròn có
các rãnh răng cưa cứng và ngắn phía trên gốc, vây lưng và vây hậu môn có
vảy bao phủ, vây hậu môn có 3 gai và 7 – 8 tia mềm, vây đuôi tròn, vẩy dạng
lược rộng. Màu sắc cá Vược thay đổi theo 2 giai đoạn: giai đoạn còn nhỏ cá
màu ôliu ở trên, màu bạc ở 2 bên và bụng, giai đoạn trưởng thành cá có màu
xanh lá cây hay xanh nước biển ở trên và màu bạc ở dưới. Trên cơ thể và vây
không có những đốm tròn hoặc những vệt sắc tố [18].
1.1.3. Đặc điểm phân bố và thích nghi
1.1.3.1. Phân bố
Cá Vược phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc các nước ở
khu vực Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, kéo dài từ kinh tuyến 50º Đông đến
160º Đông và vĩ độ 24º Bắc tới 25º Nam. Cá còn phân bố ở Bắc Châu Á, phía
Nam còn kéo dài đến Queensland-Australia, phía Tây đến phía Đông châu Phi
(FAO,1974).
Các yếu tố môi trường khác như pH, DO, NH 3…, khi hàm lượng vượt
quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá.
Độ pH cho cá phát triển từ 7,0 – 8,5; DO > 4ppm; NH 3 < 0,25 ppm
(Kungvankij và ctv, 1994) [19].
Nhờ có khả năng thích nghi như trên, hiện nay cá Vược đã được nuôi
trong các ao cả ở nước ngọt, nước lợ, cũng như nuôi bằng lồng trên biển, tuy
5
nhiên khi đưa đến nuôi ở các độ mặn khác nhau thì cá giống cần phải thuần
hóa độ mặn một cách từ từ.
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng
Cá Vược trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng ở các thủy vực nước
ngọt, lợ, khi đạt kích cớ trưởng thành (tuổi từ 3 – 5 +; kích cỡ từ 3 – 5kg). Cá
trưởng thành 3 – 4 tuổi di cư từ vùng nước ngọt về vùng của sông và ra vùng
biển có độ muối dao động từ 30 – 32‰ để tiến hành sinh sản. Cá đẻ trứng
theo chu kì tuần trăng, khi thủy triều lên, diều này giúp trứng và ấu trùng trôi
vào vùng cửa sông, tại đó ấu trùng bơi ngược dòng và lớn lên. Hiện tại, chưa
biết được cá trưởng thành di cư ngược dòng trở lại hay chúng tiếp tục giai
đoạn sống còn lại ở ngoài biển [21].
So với nhiều loại cá khác, cá Vược là loài có tốc độ tăng trưởng rất
nhanh. Tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào giai đoạn sống và bị tri phối rất
nhiều bởi các điều kiện môi trường sống.
Cá Vược là loài có kích thước lớn, khối lượng tối đa có thể đạt 60kg.
Cá tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20 - 30g, tốc độ tăng trưởng
nhanh hơn và chậm lại khi đạt 4kg. Cá khi mới nở cá chiều dài 1,44mm; sau
40 ngày đạt cỡ 17,4mm; 50 ngày đạt 28,9mm; 90 ngày đạt chiều dài 93mm,
khối lượng là 9g (Kungvankij et al., 1994). Trong điều kiện nuôi, cá giống cỡ
20 – 25mm sau thời gian ương từ 30 – 45 ngày đạt cỡ 50 – 110mm, sau từ 6 –
50%, giai đoạn nuôi thương phẩm từ 40 – 45% (Boonyatatpalin & Williams,
2002) [29].
Bảng 1.1. Nhu cầu Protein của cá Vược qua các nghiên cứu
Nhu cầu Protein Năng lượng
thô (%)
45,0 - 55,0
Trọng
Nhiệt độ
thô (MJ/kg) lượng cá (g)
13,4 - 16,4
KXĐ
Tác giả
(ºC)
KXĐ
Cuzon (1988)
50,0
KXĐ
7,5
KXĐ
Williams et al. (2003a).
20,9 - 22,8
80
28
Williams et al. (2003a).
Ở nước ngoài hầu hết cá Vược nuôi được cho ăn thức ăn viên tổng hợp,
mặc dù cá tạp vẫn được sử dụng trong một số khu vực do có giá rẻ hoặc có
sẵn hơn so với thức ăn dạng viên tổng hợp. Cá ăn cá tạp được cho ăn 2
lần/ngày, cho ăn lượng 8-10% khối lượng cơ thể khi cá khoảng 100g và giảm
xuống còn cho ăn từ 3 - 5 % khối lượng cơ thể khi cá hơn lớn hơn 600g.
Vitamin và khoáng tổng hợp có thể được thêm vào các cá tạp với tỷ lệ của
2%, và cám gạo hoặc tấm có thể được thêm vào để giảm chi phí thức ăn. Hệ
số chuyển hóa thức ăn (FCR) của thức ăn là cá tạp rất cao, thường khác nhau
khoảng từ 4 - 8. Cá ăn thức ăn viên tổng hợp thường được cho ăn 2 lần/ngày
trong những tháng ấm hơn và cho ăn 1 lần/ngày trong mùa đông. Trang trại
lớn hơn sử dụng các hệ thống cho ăn tự động, trong khi đó các trang trại nhỏ
hơn có thể cho ăn bằng tay. Trong điều kiện thử nghiệm, cá đã đạt được FCRs
là 1 - 1,2. Nhưng trong điều kiện nuôi thực tế FCRs đạt 1,6 – 1,8 là bình
thường. FCR thay đổi theo mùa, thường tăng lên hơn 2,0 trong mùa đông
[33].
1.1.6. Đặc điểm sinh sản của cá Vược
1.1.6.1. Thành thục sinh dục
Cá Vược Lates calcarifer là loài có khả năng chuyển đổi giới tính, giai
đoạn nhỏ là cá đực sau đó chuyển thành cá cái, thời điểm chuyển đổi giới tính
cá có màu sáng bạc, có khả năng bơi lội và bắt mồi chủ động.
1.2. Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Vược trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Cá Vược lần đầu tiên được nghiên cứu sản xuất giống thành công ở
Thái Lan vào những năm 1971 (Wongsomnuk và Maneewoongsa) bằng
9
phương pháp vuốt trứng những cá bố mẹ chín muồi sinh dục đánh bắt được từ
tự nhiên.
Đến năm 1973, Wongsomnuk và Maneewoongsa tiếp tục thành công
khi tiêm hormone kích thích đàn cá nuôi đẻ tự nhiên trong bể.
Tới năm 1981, Kungvankij đã thành công trong việc kích thích cá
Vược đẻ bằng điều khiển các yếu tố môi trường và phát hiện ra những quy
luật thay đổi của các điều kiện môi trường cần thiết cho sự đẻ trứng tự nhiên.
Từ đó, quy trình sản xuất giống cá Vược ngày càng được hoàn thiện và
lan rộng ra nhiều nước trên thế giới như : Philippine, Indonexia, Malayxia,
Singgapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Australia,…
Việc sản xuất giống cá Vược ở Malayxia được tiến hành đầu tiên tại
Viện nghiên cứu nghề cá Glugor – Penang vào năm 1982. Ở Philippine là vào
tháng 3/1983, lần này kỹ thuật sản xuất được cải tiến và đơn giản hóa nên dễ
sử dụng và đã đạt hiệu quả cao hơn.
Kungvankij và nnk (1986), Parazo và nnk (1986), Duray và Juario
(1987), Schipp (1996) đã nghiên cứu quá trình thành thục của cá Vược trong
điều kiện nhân tạo. Kết quả thu được là cá có khả năng phát triển tuyến sinh
dục tốt cả ở trong lồng và bể nuôi. Trong bể xi măng, sử dụng hệ thống nước
chảy tuần hoàn, nhiệt độ khoảng 28 - 34ºC, độ mặn khoảng 28 - 30‰. Thức
ăn là cá tạp, lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày giảm từ 5% trọng lượng thân
xuông 1% trọng lượng thân trước mùa sinh sản một tháng (Kungvankij, 1986)
Một số nghiên cứu về dinh dưỡng của cá Vược có thể kể đến như: M.
R. Catacutan và R. M. Coloso (1994) nghiên cứu về ảnh hưởng của thành
phần tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn đến tăng trưởng, tỷ lệ sống, và thành
phần cấu tạo cơ thể của cá Chẽm giống châu Á, Lates calcarifer. Kết quả cho
thấy tỷ lệ tối ưu protein/năng lượng (P/E) cung cấp cho cá vược giống (trọng
lượng cơ thể 1,34 ± 0,01 g) được xác định bằng cách sử dụng chế độ ăn thực
tế trong 3 × 3 giai thừa thử nghiệm. Ba mức độ protein (35, 42,5 hoặc 50%)
11
và ba cấp độ lipid (5, 10 hoặc 15%) ở mức carbohydrate cố định của 20% đã
được thử nghiệm. P/E tỷ lệ của chế độ ăn dao động từ 104 đến 157 mg
protein/kcal. Cá được nuôi trong 54 ngày trong bể 60 lít có dòng chảy lưu
thông, nước biển có độ mặn 32 ppt và nhiệt độ 29 ° C. Cá được cho ăn chế độ
có chứa 50% protein và lipid 15% (P/E tỷ lệ 125 mg/kcal) cho thấy tăng trọng
lượng cao nhất và tốc độ tăng trưởng cụ thể. Những cá thức ăn với 42,5%
protein và lipid 10% (P/E tỷ lệ 128 mg/kcal) cho thấy chỉ số tốc độ tăng
trưởng rất tốt, tỷ lệ hấp thụ và tích trữ protein rõ rệt. Chế độ ăn cá có chứa
35% protein cho thấy sự phát triển kém nhất. Những khẩu phần ăn với lipid
5% bất kể hàm lượng protein cho thấy có dấu hiệu đỏ lên bất thường ở vây,
cho thấy thiếu hụt axit béo thiết yếu. Cá được chế độ ăn có chứa 35% protein
và chất béo 5% có hàm lượng chất béo trong cơ thể thấp nhất, chất tro cao
nhất và chứa nhiều nước. Chế độ ăn có chứa 42,5% protein và lipid 10% với
tỷ lệ P/E của 128 protein mg/kcal được tìm thấy là tối ưu nhất cho cá chẽm
giống theo các điều kiện thí nghiệm được sử dụng trong nghiên cứu [31].
Năm 1996, M. R. Catacutan and R. M. Coloso nghiên cứu tiếp về tốc
độ tăng trưởng của cá Vược giống châu Á (Lates calcarifer) khi cho ăn thức
ăn có các mức carbohydrate và lipid khác nhau. Kết quả cho thấy hiệu quả
tăng trưởng của cá chẽm giống (khối lượng cơ thể ban đầu 0,90 ± 0,04 g)
1.2.2. Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu về cá Vược ở Việt Nam được tiến hành đầu tiên là
nghiên cứu của Mai Đình Yên (1979) và tiếp sau đó là của Nguyễn Nhật Thi
(1991) về đặc điểm hình thái, phân bố, đặc điểm sinh học và đánh giá nguồn
lợi cá Vược [4], [5].
Năm 1994, Võ Ngọc Thám và ctv tiến hành nghiên cứu về đặc điểm
sinh học sinh sản của cá Vược tại đầm Nha Phu – Khánh Hòa. Tác giả đã
13
khẳng định các điều kiện môi trường sống của đầm Nha Phu rất thuận lợi cho
cá hoàn thành vòng đời của mình. Tác giả cũng đã xác định được một số bãi
đẻ của cá Vược là nơi có độ sâu 5 - 6m, độ mặn 30 - 33‰, nhiệt độ 28 - 32ºC.
Cá thường xuất hiện vào mùa khô (từ tháng 2 đến tháng 8), hoạt động sinh
sản mạnh vào các tháng 4, 5 và 6, mùa sinh sản sẽ kéo dài đến mùa mưa [6].
Năm 2000, Nguyễn Duy Hoan và Võ Ngọc Thám đã thực hiện thành
công đề tài về nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống cá Vược lates calcarifer
tại Khánh Hòa. Các tác giả đã dưa ra được quy trình sản xuất giống nhân tạo
và ương nuôi cá Vược từ giai đoạn cá bột lên cá giống. Thành công này giúp
cho nghề nuôi cá Vược ở Việt Nam bước thêm một bước tiến mới. Huỳnh
Văn Lâm (2000) cũng tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh
thái lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Vược từ giai đoạn sau khi nở đến 25
ngày tuổi đã đem lại những kết quả khả quan, hoàn thiện dần quy trình sản
xuất giống cá Vược [8], [9].
Gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề cải tiến
công nghệ sản xuất giống cá Vược. Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu
sau:
Ngô Thế Anh (2005) tiến hành đề tài về nghiên cứu ứng dụng sinh sản
nhân tạo và ương nuôi giống cá Vược (Lates calcarifer Block, 1790) tại trại
Thí nghiệm được tiến hành với 3 chu kỳ quang (12L : 12D, 18L : 16D và 24L
: 0D) và 3 cường độ chiếu sáng (486 lux, 972 lux và 1480 lux). Kết quả cho
thấy tốc độ tăng trưởng về chiều dài và khối lượng giảm khi tăng cường độ
chiếu sáng. Tuy nhiên sự khác biệt này không lớn, các chỉ tiêu tăng trưởng
của cá nuôi dưới cường độ chiếu sáng 486 lux (TL: 34,02 ± 0,8 mm; SGR L:
3,86 ± 0,07 %/ngày; BW: 0,66 ± 0,09 g/ngày; SGR W: 11,94 ± 0,63 %/ngày)
lớn hơn cá ương dưới cường độ chiếu sáng 1480 lux (TL: 32,48 ± 1,33 mm;
SGRL: 3,64 ± 0,2 %/ngày; BW: 0,56 ± 0,07 g/ngày; SGRW: 11,11 ± 0,63
15
%/ngày). Chu kỳ quang không ảnh hưởng đến sinh trưởng , mức độ phân đàn,
tỷ lệ sống và tỷ lệ ăn thịt đồng loại. Trong đó, cá chết do ăn thịt lẫn nhau
chiếm 12 đến 31%. Chỉ có một phần nhỏ từ 0,44 đến 2,96% là chết không rõ
nguyên nhân [14].
Ngô Văn Mạnh, Hoàng Tùng (2009) nghiên cứu về ảnh hưởng của chế
độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Vược
giống trong mương nổi. Cá nuôi có kích thước thả giống là khoảng 17,8 ± 2,0
mm và 0,08 ± 0,03 g, sử dụng 4 chế đọ cho ăn là 2,4,6 và 8 lần/ngày, mỗi
nghiệm thức lặp lại 3 lần và kéo dài trong 17 ngày. Kết quả cho thấy: Chế độ
cho ăn khác nhau ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của cá, tốc độ tăng trưởng
thấp ở chế độ cho ăn 2 lần/ngày với 15,8 %/ngày,và không có sự sai khác
đáng kể giữa các chế độ cho ăn từ 4 đến 8 lần/ngày với 16,2 - 17,0 %/ngày.
Tuy nhiên chế độ cho ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống là từ 68,5 - 79,5%
và hệ số FCR đạt 0,57 - 0,61. Ăn thịt lẫn nhau trong quần đàn là nguyên nhân
chính làm giảm tỷ lệ sống của cá ương. Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy,
nên áp dụng chế độ cho ăn 4 lần/ngày để ương cá Vược trong mương nổi
[16].
Nhìn chung, tại Việt nam việc nhiên cứu về loài cá Vược (Lates
Hình 2.1. Thiết bị thí nghiệm sử dụng
2.4. Nội dung nghiên cứu
Ảnh hưởng của thức ăn tự chế đến tăng trưởng của cá Vược ( Lates
calcarifer, Block 1790 ) từ giai đoạn cá hương lên cá giống ương trong môi
trường nước ngọt.
Ảnh hưởng của thức ăn tự chế đến tỷ lệ sống của cá Vược từ giai đoạn
cá hương lên cá giống trong môi trường nước ngọt.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của từng công thức thức ăn trong quá trình
ương giống cá Vược trong môi trường nước ngọt.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Sơ đồ khối nghiên cứu
18