Tìm hiểu giá trị lịch sử văn hoá khu di tích trần phú ở đức thọ hà tĩnh - Pdf 32

Lời cảm ơn!

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, bản thân tôi luôn
luôn nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn
Hoàng Quốc Tuấn, các thầy cô trong khoa Lịch sử - Trờng Đại
học Vinh cùng các cô chú ở khu di tích Trần Phú huyện Đức Thọ
(Hà Tĩnh). Với sự nỗ lực, cố gắng hết mình của bản thân và sự
động viên khích lệ của gia đình, bạn bè đã giúp tôi hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp của mình.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
hớng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử cùng các cô chú ở
khu di tích Trần Phú và xin gửi đến lời cảm ơn chân thành nhất.
Vì thời gian và nguồn t liệu có hạn, vả lại bản thân còn
đang là sinh viên tập nghiên cứu khoa học. Đây là công trình
thử thách bớc đầu của mình, nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót,
mong nhận đợc sự thông cảm và ý kiến đóng góp của quý thầy,
quý cô và những ngời quan tâm đến đề tài này. Một lần nữa tôi
xin chân thành cảm ơn.
Vinh, tháng 5 năm 2005.
Tác giả Cao Thị Hờng
mục lục
Trang


PhÇn A.

Më ®Çu

1

2

3.5.
Phần C.

Lý do chọn đề tài
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phơng pháp nghiên cứu
Bố cục của đề tài
Nội dung
Khái quát đặc điểm tự nhiên, lịch sử-xã hội huyện Đức
Thọ-Hà Tĩnh
Đặc điểm tự nhiên
Đặc điểm lịch sử xã hội
Vài nét về lịch sử làng Tùng ảnh - Đức Thọ
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Phú
Tuổi thơ ảm đạm
Đờng đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành Tổng bí
th đầu tiên của Đảng
Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin
Tổng bí th đầu tiên của Đảng
Hãy giữ vững chí khí chiến đấu
Khu di tích lịch sử văn hoá Trần Phú trên quê hơng
Đức Thọ-Hà Tĩnh
Lời giới thiệu
Nhà thờ dòng họ Trần ở Tùng ảnh - Đức Thọ
Lịch sử ra đời
Quá trình tôn tạo và đổi mới
Nội dung và cách bài trí bàn thờ
Nhà trng bày lu niệm cố Tổng bí th Trần Phú
Lịch sử ra đời và quá trình đổi mới

18
20
20
28
35
39
39
40
40
41
43
45
45
49
65
67
70
73
74
76


Bùi Dơng Lịch, và đặc biệt là vị Tổng bí th đầu tiên của Đảng Cộng sản
Việt Nam- Trần Phú.
Cuộc đời của đồng chí Trần Phú tuy ngắn ngủi, nhng để lại một tấm gơng sáng chói về chí khí và tinh thần kiên trung, bất khuất của ngời cộng sản.
Mặc dù mới chỉ về nớc hoạt động đợc một thời gian và giữ cơng vị Tổng bí
th trong sáu tháng, nhng đồng chí Trần Phú đã có những đóng góp nhiều mặt
vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của cả dân tộc ta.
Là một vùng đất hiếu học, trọng đạo nghĩa uống nớc nhớ nguồn và cũng
để nêu gơng cho con cháu muôn đời sau, trên quê hơng Đức Thọ đang bảo

vấn đề mới mẻ nữa. Vấn đề này đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu
kỹ và đã giới thiệu qua nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, tìm
hiểu giá trị lịch sử- văn hoá của khu di tích Trần Phú ở Đức Thọ- Hà Tĩnh là đề
tài hấp dẫn mà lại cha có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu nó.
Trong cuốn: Trần Phú- Tổng bí th đầu tiên của Đảng của tác giả Đức
Vợng- NXB Chính trị Quốc gia(1994) đã nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp
hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Phú. Trong đó, tác giả đã giới thiệu
rất rõ và cụ thể về cuộc đời của đồng chí Trần Phú, từ tuổi thơ mồ côi vơn lên
học hỏi, rồi con đờng tiếp cận chủ nghĩa Mác- Lênin cho đến lúc trở thành
Tổng bí th của Đảng Cộng sản Việt Nam và đến giây phút hy sinh.
Trong cuốn Trần Phú- Tổng bí th đầu tiên của Đảng, một tấm gơng
bất diệt của NXB Chính trị Quốc gia, là cuốn hồi ký gồm nhiều bài phát
biểu của các vị lãnh đạo, nhiều bài viết của những ngời thân trong gia đình và
bạn bè của đồng chí Trần Phú. Các tác giả đã viết lên những tình cảm thật sâu
đậm đối với đồng chí kể từ khi còn sống đến khi đã hy sinh. Đặc biệt, nhiều
bài phát biểu đợc đọc trong buổi lễ truy điệu và di dời hài cốt đồng chí Trần
Phú trở về quê hơng Đức Thọ. Nhờ vậy, chân dung đồng chí Trần Phú đợc
khắc hoạ rõ nét ở mọi khía cạnh. Các tác giả đã làm nổi bật phẩm chất đạo
đức, tinh thần yêu nớc kiên trung cũng nh những tình cảm thờng nhật đối với
ngời thân và bạn bè của đồng chí.
Trong cuốn: Trần Phú của nhà văn Sơn Tùng- NXB Thanh Niên đợc
viết dới dạng truyện đã cố gắng đi sâu tìm hiểu cụ thể cuộc sống hàng ngày
của đồng chí Trần Phú, từ Tuổi thơ ảm đạm trải qua quá trình hoạt động
cách mạng cho đến lúc Chuông ngân trong ma sa là tiếng chuông nhà thờ
tiễn đa linh hồn đồng chí về thế giới bên kia.
Hay trong một số bài viết nh: Đồng chí Trần Phú với cách mạng Việt
nam và quê hơng Hà Tĩnh của tác giả Đặng Duy Báu, Tấm gơng đạo đức
của đồng Trần Phú của tác giả Trình Mu, Nguyễn ái Quốc với Trần Phú
tác giả Trần Huy Tảo, Con đờng xuất dơng của đồng chí Trần Phú của tác
giả Phan Văn Khoa, Trần Phú và những ngời thân của anh- tác giả Nguyễn

Với đề tài Tìm hiểu giá trị lịch sử- văn hoá của khu di tích Trần Phú
ở Đức Thọ- Hà Tĩnh, tôi mong muốn góp phần bảo lu, phát huy những giá
trị tốt đẹp cũng nh đề xuất những kiến nghị, giải pháp để khu di tích Trần
Phú ngày càng đợc phát triển hơn. Từ đó, thực hiện chính sách của Đảng và
Nhà nớc nhằm tôn vinh những ngời có công với quê hơng đất nớc.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

6


Nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích
Trần Phú nhằm tìm hiểu cụ thể các giá trị về mặt lịch sử cũng nh văn hoá
của khu di tích.
Với mục đích đó, khoá luận đề cập đến điều kiện tự nhiên và xã hội
huyện Đức Thọ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Trần Phú.
Quá trình ra đời, phát triển cũng nh kiến trúc của khu di tích Trần Phú. Trọng
tâm nghiên cứu của khoá luận là những giá trị hiện thực nằm trong khuôn
viên khu di tích Trần Phú.
Để nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu giá trị lịch sử của khu di tích Trần
Phú ở Đức Thọ- Hà Tĩnh, tôi tập trung nghiên cứu các tài liệu có liên quan
đến đề tài nh:
Tài liệu thành văn:
1. Trần Phú- Tổng bí th đầu tiên của Đảng của tác giả Đức Vợng- NXB
Chính trị Quốc gia (1997)
2. Trần Phú-Sơn Tùng- NXB Thanh Niên.
3. Tạp chí Văn hoá Hà Tĩnh số 69- Năm thứ 12 tháng 4/2004.
4. Di tích danh thắng Hà Tĩnh- Trần Tấn Hành chủ biên- Sở Văn hoá
Thông tin Hà Tĩnh.
5. Tạp chí Xa và Nay- Cơ quan hội khoa học lịch sử Việt Nam số 212 tháng
5/2004.

hành chính của đất nớc, huyện Đức Thọ cũng có sự thay đổi về địa giới và tên
gọi. Theo sách Đại Việt Sử ký toàn th của Ngô Sĩ Liên, dới thời Bắc thuộc, từ
năm 220 đến 280 (thời kỳ thuộc Tam Quốc và Lỡng Tấn), Đức Thọ nằm trong
đơn vị hành chính với tên gọi là Cửu Đức, bao gồm các huyện Thanh Chơng,
Nam Đàn, Hng Nguyên và Đức Thọ ngày nay. Từ năm 541 đến 602 (thời tiền
Lý và hậu Lý thuộc nhà Lơng- Trung Quốc), Cửu Đức có sự thay đổi về địa giới
so với thời Tam Quốc và Lỡng Tấn. Đến thời kỳ thuộc Tuỳ (603-605), tên gọi là
Việt Thờng, thuộc quận Nhật Nam. Địa giới của huyện thời kỳ này bao gồm
8


huyện Đức Thọ và phía nam huyện Hơng Sơn ngày nay. Dới triều Trần (1226),
Đức Thọ đợc gọi là phủ Đức Quang bao gồm Đức Thọ, một phần huyện Can
Lộc và một phần huyện Hơng Sơn ngày nay. Dới triều Lê, các đơn vị hành
chính có sự thay đổi trong đó phủ là cấp lớn hơn huyện nên Đức Thọ bấy giờ đợc gọi là huyện La Sơn thuộc phủ Đức Thọ.
Năm 1831, vua Minh Mạng lấy hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa lập ra tỉnh
Hà Tĩnh. Từ đó, phủ Đức Thọ có tên gọi ổn định cho đến ngày cách mạng
tháng Tám thành công.
Vào đầu thế kỷ XX, Đức Thọ gồm bảy tổng. Đến năm 1923 tổng Lai
Thạch nhập về huyện Can Lộc vì thế trớc cách mạng tháng Tám, Đức Thọ có
sáu tổng với dân số 80.000 ngời. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
nay, huyện Đức Thọ là tên gọi ổn định nhng địa giới vẫn có một số thay đổi
do sự biến đổi của nền kinh tế, chính trị và xã hội. Năm 1946 sát nhập thêm
các xã Lâm Thao, Hoà Duyệt thuộc tổng Hơng Khê, làng Ân Phú (Đức Anh)
thuộc tổng Di ốc thuộc huyện Hơng Sơn. Các làng Thợng Bồng, Hạ Bồng
(nay thuộc xã Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Hơng) thuộc tổng Thợng Bồng,
huyện Hơng Sơn về huyện Đức Thọ. Năm 1948, tổng Trung Lơng của Can
Lộc lại nhập về huyện Đức Thọ (xã Đức Hồng - Đức Thuận) và khi quyết
định thành lập thị xã Hồng Lĩnh thì một số xã nh Đức Thuận, Đức Hồng và
một phần Đức Thịnh tách khỏi Đức Thọ.

Thiện vào Can Lộc, đờng số 28 chạy từ Linh Cảm ven theo chân núi Trà Sơn
đến Can Lộc. Ngoài ra, Đức Thọ còn có đờng số 5, đờng Đò Hào.
Đê La Giang là một con đê lớn, đợc xây đắp từ năm 1934 với chiều dài
là 19,3km từ Linh Cảm đến sát chân núi Hồng Lĩnh, đây là tuyến đê quan
trọng nhất của tỉnh Hà Tĩnh, ngoài tác dụng chống lũ lụt cho các huyện Đức
Thọ, Can Lộc, Thạch Hà con đê này còn là tuyến đờng giao thông thuận lợi
cho nhân dân trong huyện.
Nhìn chung các tuyến giao thông đờng sông, đờng bộ, đờng sắt đã tạo
điều kiện thuận lợi cho Đức Thọ trong việc mở rộng sự tiếp xúc, liên kết và
giao lu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, các xã trong huyện, cũng nh với các
huyện trong tỉnh, với thành phố Vinh, cảng Bến Thuỷ và nớc bạn Lào anh
em.
Thiên nhiên u đãi cho Đức Thọ không chỉ có sông mà còn có núi. Đó là
dãy núi Thiên Nhẫn chạy từ bến Tam Soa đến Nam Đàn, núi Trà Sơn từ Linh
Cảm kéo dài đến giáp hai huyện Can Lộc và Hơng Khê. Ngoài hai dãy núi
trên, ở một số xã còn có đồi núi xen kẽ với đồng ruộng. Chính hệ thống đồi
núi này đã tạo nên nền kinh tế Đức Thọ phát triển đa dạng, đặc biệt là sự kết
hợp giữa nông nghiệp trồng lúa với chăn nuôi gia súc, trồng cây công nghiệp,
trồng rừng...
10


Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên nh vậy Đức Thọ còn có
những khó khăn nhất định. Nằm trong vùng tiểu khí hậu khu vực Vinh- Bến
Thuỷ, Đức Thọ hàng năm có gió mùa khô hanh, có mùa ma mùa nắng. Mùa
khô hành kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 thờng có gió Đông Bắc. Mùa nắng
kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 thờng có gió Phơn Tây Nam nóng bức, hạn
hán kéo dài làm ảnh hởng đến sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, đến sức
khoẻ con ngời. Mùa ma thờng kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, lợng ma năm
cao nhất là 2300mm năm thấp nhất là 1400mm, lợng ma trung bình hàng

chuyển đến thành phố Vinh, một trung tâm công nghiệp của Bắc miền Trung.
1.2. Đặc điểm lịch sử - xã hội.
Từ xa xa, nhân dân Đức Thọ luôn luôn cố gắng vợt qua mọi khó khăn để
xây dựng cuộc sống. Ngời dân Đức Thọ không chỉ siêng năng, cần cù chịu
khó và sáng tạo mà còn nổi tiếng là hiếu học. Thời xa xa, khi chữ Hán còn
thịnh hành, dù phải ăn rau, ăn cháo nhiều gia đình ở đây vẫn dành dụm chung
nhau góp tiền, góp gạo nuôi thầy cho con cháu ăn học. Vì thế, ở Đức Thọ vùng
nào cũng có trờng dạy chữ Hán, mặc dù các trờng đó chỉ là trờng t. Nhờ có
lòng hiếu học nên Đức Thọ là nơi có số đông các sĩ tử dự các kỳ thi Hơng, thi
Hội, thi Đình. Trong các khoa thi Hơng sĩ tử Đức Thọ thờng chiếm tỷ lệ cao
hơn so với các huyện khác trong tỉnh và trong thi Hội, thi Đình cũng có nhiều
nhà khoa bảng đỗ đạt cao. Theo thống kê dới chế độ phong kiến, từ khoa thi
đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919), toàn tỉnh Hà Tĩnh có 148 ngời
đậu đại khoa, trong đó Đức Thọ chiếm 45 vị. Dới triều Trần xã Đức Thuận có
hai ngời đỗ Trạng Nguyên đó là Sử Hy Nhan và Đức Huy.
Từ ngàn xa, việc học hành thi cử ở Đức Thọ đã trở thành phong trào thi
đua trong mọi tầng lớp nhân dân, không riêng gì con nhà quyền quý giàu
sang mà nhiều nho sĩ bần hàn cũng không hề chịu thua kém trên con đờng cử
nghiệp. Tuy vậy, việc học hành thi cử vẫn không phải là con đờng tiến thân
và là mục đích duy nhất của những nho sĩ ở đây. Có nhiều ngời thi đỗ nhng
không chịu ra làm quan mà chọn nghề làm thuốc, dạy học, sống gần gũi chan
hoà với bà con lao động. Có ngời tuy uyên thâm về chữ nghĩa nhng không
chịu ràng buộc bởi những lễ giáo phong kiến. Không ít ngời đã kịch liệt
chống lại mọi quyền uy trái với đạo lý, trái với tinh thần truyền thống của
dân tộc sẵn sàng khớc từ công danh phú quý để lo việc đại nghĩa ích nớc, lợi
dân. Có thể kể ra đây cha- con Trần Văn Phổ và Trần Phú- hai ngời con của
quê hơng Đức Thọ toả sáng những phẩm chất trên để tên tuổi sống mãi cùng
tơng lai của quê hơng, đất nớc.
Bên cạnh cuộc sống lao động, ngời dân Đức Thọ cũng tạo cho mình một
đời sống văn hoá tinh thần phong phú với nhiều thể loại nh văn học dân gian

Trung Lễ có ông Lê Đinh đã tuyển mộ nghĩa quân đánh đồn Trung Lễ sau
đó tấn công thành Hà Tĩnh, giết chết tay sai khét tiếng của thực dân Pháp là
Bố chánh Lê Đại.
Sau phong trào Cần Vơng, cuộc vận động cứu nớc của nhân dân ta
chuyển sang bớc phát triển mới. Ngọn cờ tập hợp, hiệu triệu yêu nớc đợc
chuyển sang tay Phan Bội Châu cùng những đồng chí của ông. ở Đức Thọ
một số ngời yêu nớc nh Lê Văn Trung, Lê Văn Cầu đã tham gia phong trào
Đông Du sang Nhật, một số sỹ phu yêu nớc khác nh Lê Văn Huân, Phan Văn
13


Ngôn, Đậu Quang Lĩnh đã liên lạc, vận động, tổ chức các hội buôn nh hội
Mộng Thanh,để giúp đỡ phong trào Đông Du.
Năm 1908, hởng ứng phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, nhân dân
một số làng nh làng Đông Thái, Yên Vợng, Trung Lễ, Văn Xá,đã tập hợp
nhau lại kéo vào thị xã Hà Tĩnh đòi giảm thuế. Phong trào Đông Du, Duy
Tân, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ cuối cùng đã bị thực dân Pháp đàn áp
khốc liệt. Nhiều chí sỹ ở Đức Thọ đã bị bắt, tù đày nh Lê Văn Huân, Đậu
Quang Bình, Phạm Văn Ngôn,
Từ 1912-1920, cùng với nhân dân cả nớc nhân dân Đức Thọ đã hởng
ứng sôi nổi phong trào Việt Nam Quang Phục hội. Điều đặc biệt nhất là
ngày 14/7/1925 Trần Phú, Lê Văn Huân, Trần Đình Thanh, Ngô Đức Diễn,
Tôn Quang Phiệt đã sáng lập ra một tổ chức cách mạng lấy tên là Hội Phục
Việt. Hội đã vạch ra chơng trình hành động gồm ba điểm: Một là nghiên
cứu thấu đáo hoàn cảnh nớc nhà để tìm một hớng hành động thuận lợi nhất.
Hai là đặt quan hệ với các phần tử xuất dơng ở hải ngoại. Ba là kết nạp Đảng
viên. Các cơ sở của Đảng này đã phát triển mạnh mẽ ở Đức Thọ.
Từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhân dân Đức Thọ trớc sau nh một
luôn luôn trung thành với sự lãnh đạo của Đảng, với sự nghiệp giải phóng
giai cấp, giải phóng dân tộc. Đức Thọ là huyện có vị trí và điều kiện địa lý tự

(1254- ?)- thuỷ tổ họ Phan Tùng Mai sống vào đầu thời Trần đợc phong là
Trần Triều vơng phó s, hiện vẫn còn mộ táng ở vùng này. Các ông Phan Đán,
Lê Bôi, Nguyễn Lộng, đều là các tớng lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn lập đợc nhiều công lớn nên khi khởi nghĩa giành thắng lợi, vua Lê phong cấp thởng ở vùng này. Các dòng họ đến muộn hơn nh họ Trần, nếu tính từ Trần Văn
Phái thì cũng về lập nghiệp ở đây từ đầu thế kỷ XVI (1532). Đáng nói là mộ
tổ của các dòng họ Phan Đán, Phan Hách, Lê Bôi và gia phả các dòng họ
khác vẫn còn và đợc lu giữ khá nguyên vẹn.
Thứ hai, xét về đặc điểm địa hình thì làng Tùng ảnh có hai phần
chính, đó là núi đồi và sông bãi. Dãy Trà Sơn và các sông La, Ngàn Sâu ôm
trọn lấy làng. Núi đồi bắt đầu từ Tùng Lĩnh và núi Quần Hội kéo dài theo
chiều Tây Bắc - Đông Nam cho đến hết làng, sông Ngàn Sâu thì ở Phía Tây
còn sông La thì ở phía Bắc của làng.
Làng có nhà thánh thờ Khổng Tử, mới bị phá vỡ trong thời kỳ chống
Mỹ nay vẫn còn ao cũ gọi là ao Thánh. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của
mình, việc học hành thi cử ở Tùng ảnh khá phát đạt. Khoa bảng xa có các
tiến sỹ là Phan Khắc Kỷ (thế kỷ XV), Phan Phúc Cẩn (thế kỷ XV), Phan D
Khánh (thế kỷ XV), Phan Khiêm Thụ (thế kỷ XVIII), Phan Nh Khuê (thế kỷ
XVIII), Ngoài ra còn có rất nhiều ngời đỗ tú tài, cử nhân. Hầu nh dòng họ
nào cũng có ngời đỗ đạt cao. Cử nhân Phan Cự Châu làm tri huyện Nam Đàn
15


đã kiện thắng một tên Tây đoan để bảo vệ dân, sau đó ông cáo quan về làng.
Cử nhân Trần Văn Phổ khi làm tri huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), do không
chịu sự áp bức, ức hiếp của giặc Pháp đã tự vẫn. Các con ông là Trần Phú,
Trần Ngọc Danh sau này trở thành những ngời chiến sĩ cộng sản nổi tiếng.
Sau đó, làng còn có bộ trởng Phan Anh, Phan Mỹ. Càng về sau thì truyền
thống học tập của làng Tùng ảnh ngày càng đạt nhiều thành tựu hơn. Ngời
dân làng Tùng ảnh dù có học hành đỗ đạt hay không đều có một nét chung
về tính cách, đó là tinh thần yêu nớc, cơng trực, hào hiệp và hơi chút ngang
tàng, bất cần. Lúc nào gian khó thì ngời Tùng ảnh sẵn sàng thể hiện trách

giới.
Trần Phú sinh ngày 1/5/1904 nhng theo t liệu của gia tộc (lá số tử vi
của đồng chí Trần Phú) thì đồng chí Trần Phú sinh vào giờ Tuất (17 giờ- 19
giờ) ngày 3 tháng 7 năm Quý Mão (tức ngày 25/8/1903) tại huyện Tuy An,
tỉnh Phú Yên. Quê ở xã Tùng ảnh (trớc là xã Việt Yên Hạ, sau đổi là Đức
Sơn rồi xã Tùng ảnh), huyện Đức Thọ- Hà Tĩnh.
Trần Phú là con trai thứ t trong gia đình có 8 anh chị em. Cha là Trần
Văn Phổ, mẹ là Hoàng Thị Cát xuất thân từ gia đình nhà nho nghèo, năm
1848, ông Phổ thi đỗ giải nguyên. Sau khi thi đỗ giải nguyên, ông đợc bổ làm
chức giáo thụ tại huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Đầu năm 1901, ông đợc
17


điều chuyển vào dạy học tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên ông Phổ đem theo
cả gia đình đến địa phơng này, Trần Phú đã đợc sinh ra ở đây. Năm 1907,
triều đình Huế bổ nhiệm ông làm tri huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Trong
thời gian làm tri huyện ông vẫn tỏ rõ là một ngời thực sự có lòng thơng dân
và xót xa trớc cảnh đất nớc bị thực dân Pháp xâm lợc. Ông sống cuộc đời
thanh liêm, ghét cảnh ồn ào. Năm 1908, cuộc đấu tranh chống su cao thuế
nặng đợc khơi xuất bằng sự nổi dậy của nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng
Nam sau đó nhanh chóng lan sang Bình Định, Phú Yên, Tuy Hoà... Chính
phủ bảo hộ và bọn bù nhìn Nam triều ra lệnh cho các tổng đốc, tri huyện phải
thẳng tay đàn áp phong trào. Trớc sức mạnh của quần chúng nhân dân và trớc
tội ác dã man của thực dân Pháp , tri huyện Trần Văn Phổ quyết định không
chịu thi hành mệnh lệnh của triều đình. Đêm 18/04/1908, khi ông Phổ đang
trằn trọc suy t day dứt thì tên đồn trởng ở Đức Phổ là Đô-đê xông thẳng vào
nơi ông Phổ nằm ra lệnh cho ông phải cấp ngay cho chúng một số ngựa để đi
đàn áp phong trào chống thuế. Chúng còn buộc ông phải nộp lúa, nộp cỏ cho
ngựa ăn và cung cấp 150 phu đinh phục dịch cho cuộc hành quân của chúng.
Tri huyện Trần Văn Phổ đã từ chối, ông không thể hại dân và nếu vậy thì

2.2.1. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trong những năm làm giáo viên ở trờng Cao Xuân Dục, thành phố
Vinh,Trần Phú nổi tiếng là một giáo viên dạy giỏi, yêu trò, đoàn kết với các
đồng nghiệp. Tuy nhiên, mục đích làm thầy giáo của anh không phải để tạo
ra lớp ngời thông, phán làm tay sai cho thực dân, mà anh muốn lợi dụng
cơ hội làm thầy để tạo ra lớp ngời có ích cho dân, cho nớc, khơi dậy trong
thế hệ trẻ tinh thần yêu nớc, yêu quê hơng và lòng căm thù giặc sâu sắc.
Những ngày dạy học ở Vinh đã giúp Trần Phú có dịp gần gũi với công
nhân và nhân dân địa phơng từ đó thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân lao động.
Trong những năm 1923- 1925 ở Vinh đã bắt đầu xuất hiện một số cuộc
đấu tranh của công nhân. Đó là các cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy
xe lửa Trờng Thi nơi có 4000 công nhân, công nhân xởng ca Bến Thuỷ có
300 công nhân, công ty Diêm Đông Dơng có 750 công nhân.
Tình cảnh của công nhân cùng với phong trào đấu tranh của họ đã
nung nấu thêm ý chí muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp trong anh
tại Vinh. Trần Phú đã tham gia sáng lập Hội Phục Việt (sau đổi thành Hội Hng Nam), lãnh đạo phong trào làm đơn lấy chữ ký đòi thực dân Pháp trả lại tự
do cho Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh, mở các lớp dạy
chữ quốc ngữ cho quần chúng lao động.
Những tin tức của cách mạng thế giới và những t tởng, hoạt động của
Nguyễn ái Quốc ngày càng dội về trong nớc. Hội Hng Nam đón nhận
luồng ánh sáng đó với khát vọng cứu nớc. Báo Le Paria đợc các hội viên
19


của Hội đón đọc say mê. Trần Phú đã tiếp nhận những t tởng yêu nớc và cách
mạng của Nguyễn ái Quốc qua sách báo truyền vào Việt Nam lúc đó trong
nhóm bí mật ở Vinh.
Bớc ngoặt trong cuộc đời cách mạng của Trần Phú là việc anh đợc Hội
Hng Nam cử sang Quảng Châu bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng
thanh niên. Ngày 12/7/1926, Trần Phú cùng các đồng chí của anh lên đờng đi

M.M. Bôrôđin và Lê Hồng Phong. Lớp học khai giảng đầu tháng 8/1926.
Mỗi ngày anh em nghe giảng hai buổi, tối về tự nghiên cứu. Trần Phú là ngời
say mê học tập lý lụân nên anh tranh thủ mợn tài liệu của giáo viên đọc thêm.
ở đây, Trần Phú thờng xuyên đợc đọc báo Thanh Niên do Nguyễn ái Quốc
sáng lập. Qua đó, anh có thể học tập lý luận Mác Lênin tìm hiểu phong trào
cách mạng thế giới và phong trào cách mạng Việt Nam.
Nội dung, chơng trình học do Nguyễn ái Quốc biên soạn sau này đợc
tập hợp lại thành sách Đờng cách mệnh. Ngoài ra còn có một số bài giảng
có tính chất ngoại khoá nh lịch sử phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở
một số nớc thuộc địa và nửa thuộc địa, chủ nghĩa Tam dân, chủ nghĩa
Găngđi.
Khi giảng dạy đồng chí Nguyễn ái Quốc luôn luôn gắn lí luận với
thực tiễn nên học viên nắm chắc đợc nội dung học tập. Khi giảng về lí luận
cách mạng và các trào lu t tởng khác nhau, đồng chí rút ra kết luận : Bây giờ
học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc
chắn nhất, cách mệnh nhất, là chủ nghĩa Lênin.[28;35]. Giảng về lịch sử
các cuộc cách mạng, đồng chí Nguyễn ái Quốc nói đến cách mạng Mỹ 1776
và cách mạng Pháp 1789- 1794 là những cuộc cách mạng không đến nơi vì
tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tớc lực công nông, ngoài
thì nó áp bức thuộc địa.[ 28;43 ]. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã hớng cho
các học viên nghiên cứu sâu sắc những bài học kinh nghiệm của cách mạng
tháng Mời Nga. Đồng chí nói: Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga
là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng đợc hởng cái
hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng gian dối nh
đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên Việt Nam. Cách mệnh Nga đã
đuổi đợc vua, t bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công nông các nớc và dân bị
áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và
t bản trong thế giới
Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công
thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền

đồng chí Nguyễn ái Quốc dặn dò anh em một cách tỉ mỉ từ phơng pháp hoạt
động đến t cách đạo đức của ngời làm cách mạng, rồi đến việc cần phải đi
sâu vào quần chúng lao động để nắm bắt tình hình đến cả cách thức hoạt
động cách viết th, viết báo cáo bí mật.
Đồng chí Nguyễn ái Quốc và các đồng chí Lê Hồng Phong, Hồ Tùng
Mậu, Trơng Văn Lĩnh, Đặng Thái Thuyến, đã lu luyến đa tiễn các học viên
về nớc. Trong giờ phút xúc động chia tay, Đặng Thái Thuyến đã đọc bài thơ
tiễn bạn:
Trên bến Châu Giang dới bóng tà
22


Nhìn nhau lã chã giọt châu sa
Hồn quê muôn dặm non sông khách,
Tiếng cuốc năm canh đất nớc nhà
Đất Bắc, tôi nào ghê gió bụi
Trời Nam, anh chớ ngại xông pha
Còn trời, còn đất, còn non nớc
Vận hội sau này ta với ta [25;91-92].
Từ Quảng Châu, Trần Phú bí mật xuống tàu thủy về đến Hải Phòng
vào tháng 11/1926 từ Hải Phòng, Trần Phú lên xe lửa về Hà Nội rồi từ Hà Nội
về Vinh. Tại Vinh, qua tiếp xúc với các cơ sở hoạt động anh nhận thấy Việt
Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã gây đợc
ảnh hởng lớn trong quần chúng, phong trào đấu tranh của công nhân và nông
dân đang lên cao dới sự lãnh đạo của Thanh niên. Trớc tình hình nh thế, thực
dân Pháp run rợ đa ra khẩu hiệu Pháp- Việt đề huề để lừa bịp dân chúng và
một số ngời yêu nớc nhng nhẹ dạ, cả tin. Nắm đợc tình hình này, Trần Phú
thấy rõ nhiệm vụ của Thanh niên lúc này là phải tiến hành cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa cải lơng t sản và phê phán khuynh hớng cách mạng nửa vời
của giai cấp tiểu t sản. Vấn đề đặt ra là phải làm cho quần chúng thấy rõ đâu

chơng trình năm thứ nhất để đọc rồi đến th viện tìm sách báo đọc để nắm rõ
thêm chủ nghĩa Mác- Lênnin. Vì miệt mài học tập một cách quá sức bệnh
tràng nhạc của anh lại tái phát và anh phải nằm viện mất gần một tuần lễ.
Với phong thái lịch thiệp và chân tình, Trần Phú nhanh chóng làm
quen với nhiều bạn bè trong trờng, họ là ngời ấn Độ, Mông Cổ, Trung Quốc,

Những ngày sống tại Trờng Đại học Phơng Đông, ngoài việc hoàn thành
chơng trình học tập kết hợp với việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin, Trần
Phú còn năng nổ trong công tác Đảng. Tại đây anh làm Bí th của nhóm Đông
Dơng. Trần Phú thờng tổ chức các buổi sinh hoạt để anh em trao đổi về phơng
pháp nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, về các
Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản hoặc những bài viết của Lênin đấu tranh
chống bọn cơ hội trong Quốc tế hai. Những tin tức từ Việt Nam đa sang là
những vấn đề thời sự nóng bỏng mà nhóm anh thảo luận sôi nổi, giải phóng Tổ
quốc Việt Nam luôn luôn là khát vọng của Trần Phú.
Tháng 9/1927, Trần Phú vô cùng mừng rỡ khi đợc tin đồng chí Nguyễn
ái Quốc đến thăm. Đồng chí Nguyễn ái Quốc cho Trần Phú biết làn sóng
cách mạng đang dâng cao ở Việt Nam và cần phải có một chính đảng lãnh
đạo. Dù chỉ gặp đồng chí Nguyễn ái Quốc có mấy phút nhng Trần Phú mãi
mãi ghi nhớ lời căn dặn của Ngời.
Trung tuần tháng 9/1927, năm học thứ hai bắt đầu trong những ngày
học tập bệnh cũ lại tái phát nhng không làm mất đi niềm lạc quan yêu đời
24


trong anh. Cũng trong thời gian này, Trần Phú đợc chứng kiến một sự kiện
lịch sử trọng đại: Đại hội lần thứ VI Quốc tế cộng sản (họp từ ngày 17/7 đến
ngày 2/9/1928) đã thông qua đề cơng cách mạng ở các nớc thuộc địa và nửa
thuộc địa. Trong những ngày học tại trờng Đại học Phơng Đông, Trần Phú đã
nghiên cứu Luận cơng về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.


Trích đoạn Khu mộ đồng chí Trần Phú. Cơ cấu theo chức năng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status