1
lời cảm ơn
Luận
văn này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô trong khoa Lịch sử, đặc biệt với sự giúp đỡ
tận tình của giáo viên hớng dẫn ThS. Hoàng Thị Nhạc.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng song kinh nghiệm còn
nhiều hạn chế vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong đợc sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô
cùng bạn đọc để luận văn ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Ngời thực hiện
Sinh viên: Nguyễn Thị
Thuỷ
2
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, loài ngời đang chứng kiến sự
trỗi dậy của tôn giáo ở nhiều quốc gia khu vực trên thế giới. Các tôn giáo
truyền thống chuyển mình chấn hng đổi mới để bắt kịp hoà cùng với nhịp thở
của thời đại. Các tôn giáo mới (Trong đó có nhiều giáo phái đã bộc lộ tính
chất phản nhân văn, phi nhân tính) mọc lên nhiều nh nấm sau ma. Xung đột
sắc tộc, tôn giáo xảy ra nhiều nơi trên thế giới với tính chất khốc liệt ngày
càng gia tăng. Nhiều thế lực chính trị đang ráo riết lợi dụng tôn giáo để thực
3
tác giả đi sâu phân tích đặc điểm, rút ra những kết luận theo chứng kiến của
mình để tìm đợc những ảnh hởng của tôn giáo này đến các mặt trong đời sống
xã hội.
Chúng ta có thể điểm qua các công trình nghiên cứu sau:
- Nhóm các công trình mà tác giả là các tín hữu, chức sắc đạo Thiên
Chúa và các nhà thần học. Các công trình nghiên cứu này tập hợp đợc rất
nhiều tài liệu quý báu, sống động và giàu sức thuyết phục, song họ còn bị hạn
chế bởi cái nhìn phiến diện, một chiều.
Nh các công cứu trình
+ Thập giá và lỡi gơm của linh mục Trần Tam Tỉnh.
+ Lịch sử GHCG của linh mục Bùi Đức Sinh.
+ Lịch sử vơng quốc Đàng Ngoài của A Lexan drede Rhodes.
+ Việt Nam máu lửa quê hơng tôi của thiếu tớng quân đội Nguỵ Đỗ Mẫu.
- Nhóm các công trình mà tác giả là học giả, tri thức dới chế độ XHCN. Các
công trình nghiên cứu đi sâu vào phân tích bản chất, nguồn gốc, chức năng tôn
giáo, nó tồn tại nh thế nào trong lịch sử và tơng lai, diện mạo, số phận của nó
sẽ ra sao, có ngời xem xét mặt tiêu cực của tôn giáo, coi nó nh một thứ thuốc
phiện, một thứ rợu kém phẩm chất cần phải hết sức hạn chế ảnh hởng. Có ngời
đi sâu vào tính chất đạo đức, mặt tích cực tạo nên một xã hội có một nền luôn
lý cao. Có ngời nghiên cứu tác động tâm lý, tình cảm, lối sống của tôn giáo
này đối với đồng bào theo đạo
Nh các công trình.
+ Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa ở Việt Nam của Đỗ Quang Hng.
+ Sự phát triển t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng
tám. Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trớc nhiệm vụ lịch sử của
giáo s Trần Văn Giàu (1997) Nxb KHXH, Hà Nội.
+ Tôn giáo thế giới và Việt Nam của Mai Thanh Hải (1998) Nxb
CAND, Hà Nội.
Các công trình khoa học trên có đề cập đến nhiều vấn đề Thiên Chúa
Chơng II. Vài nét về giáo quyền đạo Thiên Chúa.
Chơng III. Những biến đổi chủ yếu của đời sống cộng đồng giáo dân ở
Nghệ An dới ảnh hởng của giáo quyền đạo Thiên Chúa.
5
nội dung
Chơng 1
Sơ lợc lịch sử đạo Thiên Chúa
1.1. sơ lợc Lịch sử đạo Thiên Chúa thế giới.
Theo truyền thuyết KiTô giáo thì ngời sáng lập ra đạo KiTô là Giê su
Cơlít. Con của đức bà đồng trinh Maria, đợc Đức chúa Trời đầu thai vào ngời.
Ông sinh ra tại làng Bethê Lem vùng Pa lextin (nơi sinh sống của dân tọc Do
Thái) một Tỉnh của đế quốc RôMa. Năm 30 tuổi ông bắt đầu đi truyền đạo.
Những t tởng nguyên sơ của tôn giáo này là tự do, bình đẳng bác ái, mọi ngời
cu mang đùm bọc coi nhau nh anh em ruột thịt, sẵn sàng chia sẽ niềm vui, nổi
buồn, của cải, vật chất trong cộng đồng cùng đức tin. Chính vì lý do đó ngay
từ khi những ngày đầu, mặc cho chính quyền tìm mọi cách truy bức, tàn sát
nhng số tín đồ ngày một tăng lên đáng kể. Từ chỗ truy bức hoàng đế La Mã
tiến đến công nhận và coi đây nh là một tôn giáo cho ngời nghèo bỡi họ nhận ra
tính bất bạo động sẵn sàng chấp nhận mọi hình thức bóc lột của những nhà quý tộc
với hy vọng chờ đón một thế giới tốt đẹp hơn sau sự sống.
Từ khi có mặt ở Phơng Tây, tôn giáo này đã đánh bật tôn giáo truyền
thống và từng bớc chiếm một vị trí quan trọng. Đến trớc thế kỷ XVII, thần
quyền của đạo Thiên Chúa luôn quyện chặt với thế quyền. Cả hai dựa vào
nhau để tồn tại, phát triển và bóc lột những nông nô nghèo đói. Qua lịch sử
chúng ta đã biết đợc hàng triệu ngời đã chết vì sự phán quyết của toà án Tôn
trờng; chống bất công trong xã hội Giáo hội đang có tham vọng xây dựng một
xã hội Thiên Chúa vợt trên các ý thức hệ khác nhau với mục đích dung hoà các
mâu thuẫn của xã hội nhằm tăng thêm uy tín để lôi kéo tín đồ.
1.2. sơ lợc Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam và ở Nghệ An.
1.2.1. Sơ lợc lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, lên làm vua, niên hiệu
Minh Đức. Mạc Đăng Dung và con là Mạc Đăng Doanh, tuy vẫn theo đờng
lối trị nớc của nhà Lê, nhng các cựu thần không phục nhà Mạc bỏ ra nớc
ngoài, có con Nguyễn Hoàng Dụ là Nguyễn Kim sang Ai Lao, Nguyễn Kim
cho chiêu tạp tớng sĩ rồi tìm con cháu nhà Lê để mu việc khôi phục. Năm
1533, Nguyễn Kim cho lập ngời con út của Lê Chiêu Tôn làm vua tức Trang
Tôn (1533 - 1548). Năm 1542, Nguyễn Kim đem quân đánh lấy Thanh Hoá,
Nghệ An, rồi năm sau chiếm luôn Tây Đô. Từ đó nớc Đại Việt chia làm Hai.
Từ Thanh Hoá trở vào thuộc nhà Lê đóng đô ở Vạn Lai (Trên tả ngạn sông
Chu) tức Nam Triều. Từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, kinh đô Thăng Long,
tức Bắc Triều. Năm 1545, Nguyễn Kim tiến quân ra Bắc, giữa đờng bị hàng tớng nhà Mạc đánh thuốc độc chết. Con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và
Nguyễn Hoàng còn nhỏ tuổi nên binh quyền đợc trao cả cho Trịnh Kiểm. Năm
1548, Vua Trang Tôn mất, Trung Tôn lên thay. Tám năm sau, Trung Tôn cũng
mất, Trịnh Kiểm lập Anh Tôn lên ngôi (1556 - 1573). Nam bắc đánh nhau trên
10 năm không phân thắng bại.
7
Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh
quyền nhau. Trịnh Cối thất thế đầu hàng nhà Mạc, Trịnh Tùng (1570 - 1623)
từ đấy nắm cả quyền hành. Vua Anh Tôn nghi ngờ mu trừ Trịnh Tùng bị Trịnh
Tùng sát hại; Lê Thế Tôn đợc lập lên thay (1573 - 1599). Trong 10 năm, Trịnh
Tùng giữ thế thủ, Mạc Mậu Hợp (1562 - 1592) đem quân vào đánh nhng
không thắng nổi.
Từ năm 1614 - 1625, các giáo sỹ của hội truyền giáo Bồ Đào Nha của
dòng tên lần lợt thâm nhập vào Việt Nam, năm 1614 thầy Busô Ni thuộc dòng
tên vào vùng Đàng Trong truyền đạo, cho đến năm 1639 đã gây đợc cơ sở, đã
rủ đợc khoảng 1 vạn tín đồ. Năm 1626 dòng tên ở Ma Cao gửi thầy Ban Đi Nô
Ti đến hoạt động ở Đàng Trong, nhng cha làm đợc điều gì lắm đã thấy Thiên
Chúa ở Đàng Trong gửi thầy ngởi Pháp A Lexan drede Rhodes cùng với một
giáo sỹ ngời Bồ Đào Nha là Ma Ke (Mau quers) đến cửa Bạng Thanh Hoá để
giảng đạo. A Lexan drede Rhodes ra sức học tiếng Việt, trong vòng 4 tháng
ông đã nghe đợc con chiên xng tội và 6 tháng có thể giảng đạo bằng tiếng
Việt. Nhờ đó A Lexan drede Rhodes đã làm lễ rửa tội hàng ngàn ngời.
A Lexan drede Rhodes vào Việt Nam đúng lúc đang có cuộc xung đột
giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, và cũng là lúc thơng nhân Bồ
Đào Nha và Hà Lan đang buôn bán ở đây.
Đến Đàng Trong, A Lexan drede Rhodes đợc chúa Sãi Vơng tiếp đón tử
tế và cho phép hoạt động trong một thời gian ngắn. Ông đã cải giáo đợc một
số ngời. Nhng vào năm 1626 A Lexan drede Rhodes lại đến Đàng Ngoài, ở
Đàng Ngoài trong một thời gian ngắn A Lexan drede Rhodes đã cải giáo đợc
một ngời chị của Chúa Trịnh và 17 ngời trong gia đình các quan lại và binh
lính cũng theo đạo. Chỉ trong năm đầu số ngời đã theo đạo lên tới 1.200. Nhà
thờ Hà Nội cũng đợc thành lập vào tháng 7 năm 1626. Hoạt động truyền giáo
của A Lexan drede Rhodes đã gây bất ổn trong d luận buộc Trịnh Tráng phải
hạ lệnh cấm đạo. A Lexan drede Rhodes bị bắt buộc rời khỏi Đàng Ngoài vào
năm 1629. Nhng chỉ mấy tuần sau bị đuổi A Lexan drede Rhodes lại quay trở
lại hoạt động, tìm một số thầy giảng ngời Việt giao trách nhiệm trong coi việc
đạo.
Cuối năm 1629, A Lexan drede Rhodes đi khỏi hẳn Đàng Ngoài. Tính từ
năm 1627 1630 số ngời theo đạo ở Đàng Ngoài lên tới 6.700 ngời.
Đến năm 1640 A Lexan drede Rhodes lại trở lại hoạt động ở Đàng Trong,
đợc chúa cho phép giảng đạo. Việc giảng đạo thuận lợi đợc một thời gian.
Cuối năm này A Lexan drede Rhodes lại bị đuổi. Năm 1642 A Lexan drede
động mới thành công. Giáo Hoàng A LecChanĐơ VII và tổng hội truyền giáo
đồng ý cử giáo sỹ Pháp sang Viễn Đông. Trong lần này, 3 giáo sỹ ngời Pháp là
Pallu, Laubert, và Cotolenđi đợc Giáo Hoàng phong chức Giám mục ở địa
phận Viễn Đông. Trong đó Pallu cai quản Đàng Ngoài với một số Tỉnh Trung
Quốc, Lambert cai quản xứ Đàng Trong và một số tỉnh thuộc Trung Quốc. Các
giáo sỹ quốc tịch khác, kể cả giáo sỹ Bồ Đào Nha đều phải phục tùng giáo sỹ
Pháp.
Sự đồng ý của Giáo Hoàng trong việc giám mục ngời Pháp đại diện toà
thánh La Mã sang Viễn Đông vào nửa sau thế kỷ XVII đã đánh dấu sự suy sụp
của ngời Bồ Đào Nha ở Viễn Đông và đánh dấu một bớc sự thâm nhập của ngời Pháp ở vùng này.
10
Nh vậy, Hội thừa sai có nhiệm vụ thông qua và kết hợp với truyền giáo để
hỗ trợ cho công cuộc thực dân của Pháp ở địa bàn hoạt động của hội. Nhng
hoạt động của các thơng nhân khiến giáo sỹ Pháp ở nớc ta cho đến cuối thế kỷ
XVII cha thu đợc kết quả gì to lớn. Mặc dù vấp phải thái độ của nhà cầm
quyền lúc niềm nở, lúc lạnh nhạt cấm đạo, thì các cha cố Pháp tỏ ra hết sức
kiên nhẫn, họ đã gây dựng đợc một số cơ sở đạo, nán lại lén lút hoạt động, khi
bị triều đình nhà Trịnh Đàng Ngoài và chính quyền nhà Nguyễn Đàng Trong
cấm đoán.
Ngay sau khi hội truyền giáo xứ Đàng Ngoài đợc thành lập cha A Lexan
drede Rhodes đợc cử ra Đàng Ngoài giảng đạo. Trong một báo cáo gửi về cha
bề trên có viết: Vua xứ Bắc khiến chúng ta xây cất gần dinh thự của ông, nhà
cửa và nhà thờ. Tại đó chúng ta đợc giúp đỡ nhiều trong khi tiến hành quân
sự. Mặc dù vợt các giáo sỹ Pháp dùng tang vật để gần gữi các nhà cầm quyền
(vua, chúa) thì cuối cùng họ cũng bị trục xuất vì âm mu tiến hành quân sự của
họ. Chủ trơng của Giáo Hoàng là sự kết hợp giữa truyền đạo và thơng mại đã
đợc các giáo sỹ hoàn thành một cách xuất sắc.
Nh vậy chúng ta thấy rằng vào thế kỷ XVI công cuộc truyền đạo của các
thế dấn thân vào đời của các giáo sỹ.
Cho đến năm 1858 Thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta thì việc dấn
thân vào đời của các giáo sỹ ngày càng đến độ nghiêm trọng khi nhu cầu tìm
kiếm thị trờng, thuộc địa để làm giàu đã trở nên cần thiết đối với các nớc t bản
Phơng Tây. Hoạt động truyền giáo của các giáo sỹ càng gắn bó với chủ nghĩa
thực dân Phơng Tây. Có không ít các giáo sỹ đã trực tiếp hay gián tiếp giữ vai
trò dẫn đờng cho thực dân xâm lợc. Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã đàn áp
dữ dội, đẫm máu, nhng các giáo sỹ vẫn lén lút hoạt động và thu đợc nhiều
thành tựu lớn, số tín đồ theo đạo ngày càng tăng nhiều. Có điều đáng chú ý
không chỉ đồng bào ven biển theo đạo mà nhiều tầng lớp dân chúng kể cả binh
lính, quan lại cũng theo đạo, không chỉ ngời ít đợc học hành mà cả ngời có
của, có văn hóa cũng theo đạo.
Nh vậy, từ giữa thế kỷ XVI - XVII - XVIII - XIX công cuộc truyền giáo
của các giáo sỹ Phơng Tây đã có một bớc phát triển mạnh, và Thiên Chúa đã
trở thành tín ngỡng tôn giáo trên đất nớc Việt Nam, cùng với sự tồn tại Thiên
Chúa ở Việt Nam, thì Thiên Chúa ở Nghệ An cũng ngày càng phát triển.
1.2.2. Sơ lợc lịch sử đạo Thiên Chúa ở Nghệ An.
Cuối tháng 3 năm 1629 hai linh mục dòng tên là Pedro Manguez vàA
Lexan drede Rhodes trên đờng bị dẫn độ vào Đàng Trong theo lệnh trục xuất
của chúa Trịnh Tráng đã dừng lại ở Nghệ An, đánh dấu những bớc đầu tiên
của công cuộc truyền đạo tại vùng đất này. Trong thời gian rất ngắn (khoảng
tháng 7), hai vị thừa sai đã làm phép đã rửa tội cho 25 tân tòng ở Bố Chính
(Quảng Bình), 112 tại Cửa Lò và khoảng 600 tại vùng Vinh. Đây là những tín
đồ đầu tiên trên đất Nghệ An. Từ năm 1632 đến 1659 có một thừa sai dòng tên
đến Nghệ An tiếp tục sự nghiệp của ông (trong đó tiêu biểu nhất là thừa sai
Ma- gro- Mi - ca ngời Italia 1632 - 1656).
12
Vì quyền lợi quốc gia hội thừa sai Pari đã giành quyền truyền giáo tại
Khác với những tôn giáo nh Nho, Phật, Lão, Hồi, tuy có mặt trên đất nớc
này hơn 400 năm nhng đạo Thiên Chúa vẫn gần nh giữ nguyên tính chất của
buổi ban đầu du nhập. Điều này do nhiều nguyên nhân tạo nên, song có lẽ
nguyên nhân chủ yếu vẫn là những đặc điểm giáo quyền riêng biệt đợc xây
dựng đợc củng cố, khẳng định trong tôn giáo này.
Để có thể phần nào hiểu rõ hơn về đạo Thiên Chúa tôi xin trình bày và
phân tích những đặc điểm của giáo quyền. Trớc hết chúng ta cần xem xét các
khái niệm cơ bản có liên quan.
2.1.1. Khái niệm về giáo quyền.
Giáo quyền là một dạng quyền lực trong các tôn giáo, các tôn giáo khác
nhau thông qua bộ máy tổ chức (giáo hội) sử dụng tín điều luật lệ, lễ nghi, giáo
lý nh một phơng tiện cơ bản giúp chủ thể (từng cấp độ khác nhau trong bộ máy
điều hành của giáo hội) có thể thoả mãn nhu cầu và ý chí của mình. Để nhận
thức rõ khái niệm giáo quyền trớc hết cần tìm hiểu khái niệm quyền lực.
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực tuỳ theo góc độ tiếp cận.
Chẳng hạn:
B. Russel: cho rằng, quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm có chủ ý.
R. bert. Danh định nghĩa, quyền lực là cái mà nhờ đó ngời khác phải
phục tùng.
A. Toffer khẳng định quyền lực là cái buộc ngời khác hành động theo ý
chí của ta.
Nói tóm lại: Quyền lực là khả năng buộc ngời khác phải hành động theo
ý chí của một chủ thể nào đó.
Quyền lực có chỉ số đo của nó, chỉ số đo đó đợc thể hiện ở sự tuân phục,
hiện thực trong thực thi yêu cầu.
Phơng thức cơ bản để giành giữ và thực thi là: bạo lực, của cải, trí tuệ. Trong
một thời điểm nhất định với trình độ phát triển kinh tế, dân trí, xã hội cụ thể tơng
quan giữa ba phơng thức này phải nhìn nhận và đánh giá một cách cụ thể. Xét trên
phơng diện tổng thể nên tuyệt đối hoá một phơng thức nào.
Cố định hoá, ổn định hoá theo ý muốn của chính Giáo Hoàng và các chủ
chăn. Đồng thời giáo hội khẳng định tính duy nhất thánh thiện, Thiên Chúa và
tông truyền để đảm bảo cho việc thực thi quyền lực của mình. Khó tìm ra một
tôn giáo mà trong bộ máy của nó có đủ cả ba bộ phận của một nhà nớc. Bộ
máy hành Pháp (từ Giáo Hoàng đến linh mục quản xứ), lập Pháp (Giáo
Hoàng và các thánh bộ, văn phòng), t Pháp (Giáo Hoàng và toà án tôn
giáo). Bộ máy t Pháp là một nét đặc sắc của đạo Thiên Chúa. Nó đã phát
huy tác dụng trong thời kỳ Trung Cổ Âu Châu và hiện vẫn tồn tại ba tôn giáo
(Giáo Hoàng tông toà xá giải, toà án tối cao ấn tín tông toà, toà án hôn phối
15
cùng các toà cơ sở). Trên thực tế tất cả đều thuộc quyền cúa chính Giáo Hoàng
(đây chính là hình mẫu của tổ chức tập quyền triệt để nhất). Thông qua tổ
chức này giáo quyền đợc thực hiện một cách nghiêm ngặt và hết sức hiệu quả.
Về phơng thức áp đặt quyền lực: Đạo Thiên Chúa áp đặt giáo quyền bằng
cả ba phơng thức: bạo lực, của cải và trí tuệ. Phơng thức bạo lực đợc giáo hội
sử dụng chủ yếu vào thời phong kiến và thực dân và đây chính là đặc điểm
riêng. Bên cạnh đó giáo hội có thế lực kinh tế hết sức hùng mạnh, họ đã triệt
để lợi dụng thế mạnh này trong việc áp đặt giáo quyền trong các cộng đồng
dân tộc khác nhau (Về thế mạnh kinh tế các tôn giáo khác không thể so sánh
đợc với đạo Thiên Chúa). Giáo hội Thiên Chúa hết sức quan tâm đến trí thức.
Trong quá trình lịch sử họ đã có những bổ sung và lợi dụng trí tuệ nhân loại để
tăng thêm quyền lực và phát triển các t tởng thần học.
Về khả năng áp đặt quyền lực: Hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
tổ chức có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ. Các bộ phận trong tổng thể bổ
sung cho nhau, tôn vinh nhau, cái này là cơ sở để cái kia tồn tại tất cả hớng tới
một mục đích duy nhất tạo ra khả năng và hiệu quả hết sức cao trong việc ràng
buộc tín đồ của họ.
Khả năng này có đợc do các dặc điểm của giáo quyền mà tôi xin làm rõ ở
Ngài đã dùng đứa con duy nhất để xác định quyền lực của Cha mình: Còn
bọn địch thù của ta kia, những ngời không muốn ta làm vua cai trị thì hãy dẫn
chúng lại đây và giết chết trớc mặt ta [23. 1984]. Tân ớc đã lập nên giao ớc
cuối cùng và vĩnh viễn, tính chất này sẽ đảm bảo cho việc không tái xuất một
đức Giê Su thứ hai trong lịch sử, với những cải cách mới nh Ngài đã làm mới
đạo Do Thái.
Kinh thánh khẳng định: Kẻ đại diện cho Thiên Chúa nơi trần thế là các
chủ chăn trong đó Giáo Hoàng có quyền lực tuyệt đối. Ngài là chân lý và đại
diện cho chân lý tối hậu của cuộc đời. Để tạo ra quyền lực có thể áp đặt đợc
cho tín đồ, tín lý KiTô cực kỳ đề cao Thiên Chúa Kính Chúa trời trên hết mọi
sự.
Bộ giáo luật cũng nh hệ thống đã khẳng định quyền lực tuyệt đối của
Giáo Hoàng và tầng lớp chủ chăn. Tín đồ chỉ đợc phép thi hành, không có
quyền thay đổi, khiếu nại, phán xét, bổ sung hay thêm bớt. Không có đội ngũ
này, cộng đồng giáo dân hoàn toàn bị cắt đứt sợi dây liên lạc với Thiên Chúa
và họ trở nên vô nghĩa.
Tính chất cực đoan thể hiện trong quá trình bành trớng của đạo Thiên
Chúa một cách rõ nét. Từ khi đợc công nhận và trở thành quốc đạo, tôn giáo
này dần tàn sát các tín ngỡng tôn giáo khác có mặt trên đế quốc La Mã cũng
nh các nớc Âu Châu. Tám cuộc thập tự chinh, quy mô trong gần 3 thế kỷ (từ
1096 đến 1291) đã biến một vùng đất rộng lớn trở thành bãi chiến trờng tàn
khốc trong lịch sử với mục đích bảo vệ đức tin và lãnh địa tôn giáo mình, theo
chân các nhà thực dân, giáo hội đã góp phần tàn phá cả một nền văn minh rực
rỡ của ngời da đỏ. Hàng chục ngời bị xua đuổi, bị tiêu diệt, bị cớp đi tất cả
những gì thiêng liêng nhất chỉ vì giáo hội Thiên Chúa không chấp nhận chia
sẽ quyền lực với bất kỳ tín ngỡng tôn giáo nào có mặt trên quả đất này. Năm
17
1454, Giáo Hoàng Ni- Cô- La trong bức thông điệp của mình đã nói rõ
trị.
Đạo Thiên Chúa buổi sơ kỳ là tôn giáo của ngời nghèo, tín đồ lúc bấy giờ
chủ yếu là những ngời nô lệ, những ngời tự do vô gia c và những ngời thất
18
nghiệp trong lòng đế quốc La Mã. Mối quan hệ trong công đoàn tín hữu lúc
bấy giờ mang tính bình đẳng. Họ chia sẻ vật chất, nỗi đau thơng mất mát
trong một xã hội mà thân phận của họ không khác gì một con vật. Tính nhân
đạo, tình nghĩa, tơng thân, tơng ái trong công đoàn này đợc Mác và Ăng ghen
đánh giá rất cao.
Sau 250 năm bị bách hại, tính chất tốt đẹp của tôn giáo này hoàn toàn
thay đổi khi nó đợc công nhận là quốc đạo (năm 325). Giáo quyền đạo Thiên
Chúa đã mang màu sắc thế tục bởi nó có sự dung hợp giữa thần quyền và thế
quyền. Chính Ăng ghen đánh giá sự kiện này nh sau : Chỉ cái việc là 250
năm sau khi ra đời, đạo Cơ Đốc đã trở thành một quốc giáo cũng đủ chứng
minh rằng nó là tôn giáo thích hợp với hoàn cảnh thời đại. Trong thời kỳ
Trung cổ, đạo Cơ Đốc cũng đã phát triển theo sự phát triển của chế độ phong
kiến mà trở thành tôn giáo phù hợp với chế độ ấy và có tôn ti phong kiến tơng
tự [25. 20] Giáo hội tự coi trách nhiệm của mình nh sau: Thế giới thời thợng cổ đã đợc KiTô hoá, nhng thế giới thời Trung cổ mới thực sự là con đẻ, là
sản phẩm của KiTô giáo. Trớc đây, hội thánh đem đạo lý của mình để uốn nắn
những gì đã có sẵn, nhng giờ đây hội thánh sẽ truyền thụ lại tất cả kho tàng
thiên phú và thủ đắc của mình để xây dựng lại một trật tự mới, theo chiều hớng mới. [15. 189]
Rõ ràng tham vọng của hội thánh đã từng bớc đợc thực thi trong các giai
đoạn tiếp theo. Họ dùng chính giáo quyền đạo Thiên Chúa để áp đặt quyền cai trị
của giai cấp bóc lột lên tuyệt đại đa số tầng lớp ngời lao động. Lịch sử Châu Âu
thời trung cổ gắn chặt với lịch sử đạo Thiên Chúa, tầng lớp giáo sỹ chiếm độc
quyền trí dục và nền giáo dục bấy giờ hoàn toàn mang tính thần học. Tầng lớp
quý tộc đè nén nông nô, dân lao động bằng vũ lực với một chế độ hà khắc nhất,
song đã đợc các giáo sỹ hợp lý hoá bởi một trật tự đã an bài của chúa.
nọ nối tiếp ngời kia, những kẻ báng bỏ thần thánh bắt đầu khoác vẻ ngoan
đạo, nói một cách kính cẩn đến giáo lý, giáo hội và nghi lễ của giáo hội và
thậm chí bắt đầu tuân theo những nghi lễ đó vì không thể nào bỏ qua đợc
Phải duy trì tôn giáo cho nhân dân - đó là phơng tiện cuối cùng và duy nhất để
cứu xã hội khỏi nạn diệt vong hoàn toàn sau khi cố gắng hết sức để vĩnh viễn
huỷ diệt tôn giáo [25. 86].
Chính giáo hội và tầng lớp giáo sỹ đã tạo mọi điều kiện tinh thần giúp các
nhà thực dân mở mang thuộc địa, hợp lý hoá chế độ áp bức trên tất cả mọi phơng
diện của chúng đối với các dân tộc dã man. Cha cho phép họ cớp bóc tiêu diệt,
bắt tất cả dân tộc này phải nô lệ vĩnh viễn. Chúa kiến tạo nên trái đất này cho nên
những đại diện của chúa có quyền làm bất cứ điều gì theo ý họ.
Từ khi tuyên ngôn cộng sản ra đời Bóng ma của chủ nghĩa Mác đã trở
thành hiện thực. Chính quyền t sản nhận rõ đối thủ lớn nhất của họ là những
ngời Cộng sản. Cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ ngày càng trở nên gay gắt
và quyết liệt. Chính quyền t sản đã sử dụng triệt để giáo hội nh một kẻ đồng
minh, nh một công cụ trong cuộc chiến sinh tử này bởi chính giáo hội tự cho
mình có trách nhiệm trọng đại là chống lại khuynh hớng đó. Là ngời Việt
20
Nam, chúng ta thấm thía nỗi mất mát xảy ra trong cuộc kháng chiến 9 năm
chống Pháp và hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ (những sự can thiệp đó có sự
can thiệp của giáo hội). Nếu nh không có thông điệp Chúa cứu thế của Giáo
Hoàng PIOXII, chắc có lẽ cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc của
nhân dân Việt Nam cũng nh những dân tộc yêu chuộng độc lập, t do khác,
chắc hẳn sẽ đỡ phần tốn kém sức lực và xơng máu hơn. Nếu không có bàn tay
Spenman và giáo hội RôMa, cuộc kháng chiến của chúng ta phần nào đỡ khốc
liệt hơn. Đối với lịch sử giáo hội Việt Nam, giáo hội phải chịu một phần trách
nhiệm trong nỗi đau thơng mất mát của những ngời đấu tranh cho sự nghiệp
thống nhất đất nớc. Giáo hội Rô Ma rất tự hào vì đã góp phần sụp đổ hệ thống
cứu chuộc của đức GiêSu. Bí tích rửa tội xuất phát từ phép rửa của thánh Joan
Baotixita giành cho Đức GiêSu. Bí tích sức dầu giải tội, cho tín đồ một hình
ảnh Đức GiêSu đã thực hiện những kỳ tích cứu sống bệnh nhân hiểm nghèo.
Bí tích thánh thế cho ta hình ảnh về bữa tiệc với 12 thánh tông đồ chính
trong lễ nghi chúng ta thấy rõ quyền năng của tầng lớp giáo sỹ, chỉ có họ mới
có quyền cử hành thánh lễ và ban trọn vẹn bí tích cho các tín đồ.
Trục cơ bản của tổ chức giáo hội Rô Ma: Giáo Hoàng - Giám Mục - linh
mục - phó tế là những ngời đại diện cho Thiên Chúa có quyền lực tối cao,
quyền lực này không chỉ vì sự khoa học trong cách phân bố mà nguyên do căn
bản là nó đợc giáo lý, giáo luật, lễ nghi suy tôn và khẳng định. Có trong tay
quyền lực tuyệt đối hội thánh là nơi duy nhất có đầy đủ khả năng và quyền
năng giải thích giáo lý, ban hành về luật, cử hành thánh lễ và ban bí tích cho
các tín đồ. Đây là mối liên kết hết sức tinh vi, chặt chẽ và tất cả chỉ hớng tới
mục đích duy nhất là đề cao giáo quyền.
Mọi tín đồ đạo Thiên Chúa đều chịu áp lực từ tất cả các bộ phận của hệ
thống một cách có chủ ý từ tầng lớp giáo sỹ. Vòng cơng toả đó điều chỉnh mọi
hành vi, ý nghĩ, những sự kiện lớn trong đời ngời và nó tạo nên ấn tợng sâu
đậm trong các tín đồ. Chính sự tính toán khôn khéo của các nhà thần học, giới
tăng lữ cùng với lòng mộ đạo ngây thơ của mình khiến chính các tín đồ không
nhận thấy sức ép của giáo quyền đến mọi hoạt động trong vòng đời. Để làm rõ
vấn đề này, tôi xin đa ra một dẫn chứng sau.
Để đảm bảo quyền lực tuyệt đối của Giáo Hoàng, kinh thánh đã tuyên xng: Ta sẽ trao chìa khoá nớc trời cho con, điều gì con cầm buộc dới đất, trên
trời cũng tháo cởi [15.14]. Nếu xét thật kỹ, ta nhận thấy vai trò của thánh Phê
Rô hoàn toàn không có gì nổi bật, ông ta đã run sợ trớc cái chết của Đức
GiêSu, ông ta đã chối Chúa ba lần trớc khi gà gáy để đảm bảo toàn tính mạng
của mình. Ngời kế nghiệp xứng đáng Đức GiêSu chỉ có thể là thánh Phao Lô
(kẻ ngoại đạo), nghĩa là xét về mặt thần học, thánh Phê Rô (mà Giáo Hoàng là
kẻ kế nghiệp sau này) cha thật xứng đáng, thiếu sức thuyết phục đối với tín đồ
và tầng lớp giáo sỹ. Để đảm bảo quyền lực của Ngài, bộ giáo luật quy định rõ
về chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Giáo Hoàng nh sau. Điều 331 Ngài
họ hay trởng ban hành giáo. Bộ giáo luật quy định rõ thân phận của tín đồ
trong cuốn 2 với tinh thần chủ đạo là phải tuyệt đối vâng lời tầng lớp giáo sỹ
và góp phần mở mang nớc chúa. Họ đợc giảng dạy giáo lý khi tuổi còn thơ bé,
khi cha hiểu đợc ý nghĩa những lời dạy đó và hàng tuần, cùng các ngày lễ
buộc phải có mặt ở nhà thờ để đợc nghe lời cắt nghĩa của linh mục. Lời giảng
dạy của linh mục là lời chúa, giáo dân chỉ đợc nghe và làm theo bởi họ không
có đặc ân hiệp thông với chúa để có thể có đủ khả năng hiểu hết ý nghĩa sâu
xa của Thánh Kinh. Cả vòng đời của tín đồ Thiên Chúa đều bị ràng buộc chặt
chẽ với các nghi lễ mà nổi bật là buộc phải nhận các bí tích. Khimới chào đời,
họ phải chịu bí tích rửa tội để đợc trở thành dân chúa. Khi xây dựng gia đình
họ phải chịu bí tích hôn phối để đợc sống trong tình thơng yêu và hoàn thành
23
trách nhiệm mở mang nớc chúa. Lúc ốm đau bệnh tật và cả khi sắp lìa cõi đời
họ phải chịu các bí tích xức dầu bệnh nhân, xá tội Trong cuộc sống thờng
nhật họ thờng xuyên gặp gỡ linh mục để đợc giải tội với mong muốn đợc chấp
nhận, sống trong tình thơng yêu của chúa. Điều này cho ta thấy hệ thống giáo
lý, giáo luật, nghi lễ, tổ chức cùng góp sức củng cố tính bất biến thiêng liêng
của từng bộ phận, củng cố quyền lực tuyệt đối của tầng lớp tăng lữ, củng cố
tin lý, đức tin và ràng buộc chặt chẽ ngời giáo dân vào tổ chức của đạo.
Đặc điểm thứ t: Giáo quyền đạo Thiên Chúa có tính bảo thủ.
Các tôn giáo chân chính buổi sơ kỳ cha bị chính trị lợi dụng thờng mang
tính chất tiến bộ. Phật giáo buổi sơ kỳ chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp
trong xã hội ấn Độ lúc bấy giờ. Phật giáo chủ trơng bình đẳng, bác ái. Khổng
giáo mong muốn xây xựng một xã hội thái bình, thịnh tri, trật tự kỷ cơng. Đạo
Thiên Chúa buổi sơ kỳ là một cuộc cách mạng của ngời nghèo chống lại chế
độ nô lệ hà khắc của chính quyền La Mã, bởi cuối cùng những ngời nô lệ,
những ngời vô quyền và những ngời không có tự do không thể giải phóng
mình đợc nh thất bại của ngời anh hùng Xpata cut đã chỉ ra điều đó [25. 20],
Cuộc đấu tranh chống lại t tởng bảo thủ trong giới giáo sỹ đã dẫn đến lần
ly giáo thứ hai trong lịch sử đạo Thiên Chúa. Về thực chất đây là một cuộc
cách mạng của giai cấp t sản với mục đích thoát khỏi sự quá mức của giáo
hội. Đạo tin lành đã ra đời từ trong cuộc cách mạng này, nó cho phép tín đồ
đợc tự do hơn trong hành đạo, trong tiếp xúc với giáo lý và phần nào đó không
quá phụ thuộc vào giáo sỹ. Đến những năm cuối của thế kỷ XX một số trờng
học của các nớc TBCN cha tiếp xúc với các thành tựu khoa học do áp lực của
chính nhà thờ. Giáo hội chỉ chính thức công nhận lỗi lầm của mình. Vào
những năm cuối của thể kỷ XX trong việc xử tội các nhà khoa học trớc đây.
Họ coi đó là những sai lầm trong quá trình nhận thức theo quy luật. Trên nhiều
lĩnh vực khác, giáo hội tìm mọi cách sử dụng các luận điểm khoa học thần
bí để bảo vệ cho những quan điểm lỗi thời của mình. Chính giáo lý hội khẳng
định: bởi vậy việc nghiên cứu có phơng pháp trong mọi ngành, Nếu tiến hành
một cách thực sự khoa học và theo tiêu chuẩn chân lý, sẽ không bao giờ trái
ngợc với đức tin, vì các thực tại trần thế và thực tại đức tin đều bởi một chúa
mà ra [22.75]. Trên các giáo đờng, trong các lớp học giáo lý,giáo hội vẫn tìm
mọi cách chứng minh vai trò sáng tạo của Thiên Chúa, Thiên Chúa của họ có
mặt khắp mọi nơi và can thiệp vào mọi hoạt động của con ngời, những phát
minh, sáng tạo chỉ là có ý định của chúa, những mất mát là do lỗi lầm của con
ngời không làm theo ý chúa. Đối với cộng đồng giáo dân Việt Nam, những t tởng bảo thủ này vẫn còn nguyên gía trị. Trong cách giảng dạy giáo lý cho tín
đồ và cho các em học sinh, họ tìm mọi cách lồng ghép, lý giải với màu sắc
khoa học để chứng minh cho sự tồn tại của Thiên Chúa ai làm cho mọi vật
chuyển đổi theo quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lợng ? Ai đặt định luật
này vào trong các vật ? Ai quy định cách chuyển động của các tiếng động và
25
ánh sáng. Thiên Chúa không những tạo nên mọi loài, mọi vật mà còn đặt ra
luật lệ cho chúng chuyển động theo ý Ngài [24.26].
Đối với những chủ trơng động chạm đến các luận điểm thần học của giáo
động về tôn giáo. Các thánh lễ vào thứ bảy và chủ nhật đợc tổ chức gọn nhẹ
không gây ảnh hởng đến thời gian và công việc của giáo dân. Các lễ trọng nh
lễ Chúa giáng sinh, lễ chúa hiễn vinh, lễ thánh Giê Su, lễ phục sinh đợc giáo