Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục tiểu học
--------***--------
đặng thị phơng thuỷ
thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong việc hình
thành biểu tợng về số lợng cho trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở trờng mầm non
Luận văn tốt nghiệp đại học
Giáo viên hớng dẫn: TH.S.phạm thị huyền
Vinh, 2005
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
a. Về lý luận.
Ngay từ thế kỷ XVII XVIII những nhà giáo dục vĩ đại I.A.Komenxki
(1592 - 1670), J.J Rutxô (1712 - 1778), G.Pestalogi (1746-1670) đã coi trò chơi
là một hoạt động hết sức cần thiết của trẻ. Vì tuổi mẫu giáo là thời kì phát triến
các giác quan nên ngời lớn cần tạo điều kiện cho trẻ chơi, tiếp xúc với thế giới
xung quanh và tri giác bằng các giác quan (nghe, nhìn, ngửi, sờ mó...) với những
thuộc tính của đối tợng nh: dài ngắn, to nhỏ, cao - thấp, phải - trái... mà
còn với những thuộc tính số lợng nh : ít hơn, nhiều hơn, nhiều hơn bao nhiêu,
bằng nhau và bằng bao nhiêu-khi phải phân chia các đối tợng (kẹo, bánh, đồ
chơi, đồ dùng.)
Do đó cần giúp trẻ vận dụng, luyện tập những kiến thức và kỹ năng về số
lợng một cách thờng xuyên để giúp trẻ giải quyết các bài toán trong cuộc sống và
dễ dàng tiếp cận với môn số học ở cấp 1 là điều cần thiết. Nhng bằng cách nào
cho hợp lý? Theo chúng tôi, đó là việc sử dụng trò chơi học tập.
Căn cứ vào những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài là: Thực trạng sử
dụng trò chơi học tập trong việc hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ mẫu giáo
nhỡ (4 - 5 tuổi).
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong việc hình thành biểu tợng về số lợng của trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi ở trờng mầm non.Qua đó,đề xuất
2
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
một số trò chơi học tập phù hợp trong việc hình thành biểu tợng về số lợng cho
trẻ 4-5 tuổi
3. Khách thể và đối tợng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình hình thành biểu tợng về số lợng
cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
3.2. Đối tợng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong việc
hình thành biểu tợng về số lợng của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
4. Giả thuyết khoa học:
Hiện nay thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong việc hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi còn nhiều hạn chế. Một trong những
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
4. Su tầm và giới thiệu một số trò chơi học tập phù hợp trong việc hình thành
biểu tợng về số lợng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
nội dung nghiên cứu
Chơng 1: cơ sở lý luận
1.1. Sơ lợc về lịch sử của vấn đề nghiên cứu:
Từ lâu hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo đã cuốn hút sự quan tâm của
các nhà triết học, dân tộc học,sinh học, tâm lý học, giáo dục học Sự quan tâm
trên không phải là ngẫu nhiên bởi lẽ các nhà giáo dục học, tâm lý học quan tâm
đến chơi của trẻ vì chơi chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của chúng.
Còn các nhà dân tộc học thì lại quan tâm đến chơi nh một hiện tợng của nền văn
hoá loài ngời, là cái nôi sáng tạo của nhân dân
Ngay từ thời xa xa, mỗi dân tộc đều đã nghĩ ra đợc những trò chơi học tập
lý thú để giáo dục và dạy dỗ con trẻ. Họ dùng trò chơi để dạy trẻ tiếng mẹ đẻ,
cho trẻ làm quen với thế giới xung quanh, giúp chúng tiếp thu nền văn hoá của
dân tộc mình cũng nh của loài ngời.
Những nhà giáo dục theo trờng phái sinh học (Kroos, Sfreud, A.attler..)
Với cách nhìn nhận "Trò chơi trẻ em nh một sự giải phóng năng lợng thừa, hoặc
xuất phát từ 1 biến đổi có sẵn, đã đợc hình thành ở một nơi nào đó trong ý thức
đã phải nhận ảnh hởng của môi trờng xã hội, vai trò tổ chức hớng dẫn của ngời
lớn đối với trò chơi trẻ em.
Các nhà giáo dục học tiến bộ của Nga K.D.usinxky (1824-1870) và E.I
chikhieva (1806 - 1944) đã xuất phát từ nhận thực duy vật về bản chất trò chơi,
với một kiểu hớng dẫn s phạm.
Các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực trò chơi học tập của các nhà giáo
dục học Xô Viết. (A.PUxôva, E.I.Uđenxôva, A.I.Xôrôkina, P.A.Vengher,
B.I.Lôghirô và P.G.Xamarukôva...) cho thấy các tác giả đánh giá cao trò chơi học
tập trong việc mở rộng, và chính xác hoá tri thức đã có của trẻ...
ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc
giáo dục trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi. Một số tài liệu nh: Tổ chức
hớng dẫn trẻ mẫu giáo chơi (Nguyễn ánh Tuyết-1996); Các trò chơi học tập sử
dụng trong trờng mẫu giáo và gia đình (Đỗ Mộng Liên, Nguyễn Quỳnh Hoa, Trờng Kim Oanh- 1983, Phan Kim Liên - 1987, Lê Minh Hoà, Đào Nh Trang1993,). Theo các nội dung: hình thành các biểu tợng toán học, tìm hiểu môi trờng xung quanh.
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu về trò chơi học tập đã có những thành tựu đáng
kể về quan điểm, nội dung và phơng pháp. Xu hớng nghiên cứu của đề tài này là
tiếp tục tìm hiểu việc sử dụng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi ).
Qua đó để khẳng định vị trí trung tâm của trò chơi học tập trong công tác
giáo dục mầm non.
1.2. Các vấn đề về trò chơi
1.2.1. Bản chất của trò chơi.
Trớc đây ngời ta cho rằng chơi có tính tự nhiên, tính bản năng (Trờng phái
sinh học). Không loại trừ hoàn toàn yếu tố sinh học của trò chơi, các nhà tâm lý
học trên thế giới đặc biệt là các nhà tâm lý học Macxit đã khẳng định bản chất xã
hội của trò chơi trẻ em. Trò chơi đợc xem là một hoạt động xã hội. Nó mang tính
xã hội cả về nguồn gốc ra đời, về khuynh hớng phát triển về nội dung và hình
thức biểu hiện.
Về nguồn gốc ra đời của trò chơi, ngay từ năm 1925 PlêKhanôp đã chú ý
đến trò chơi của trẻ em, ông cho rằng trò chơi là một nghệ thuật xuất hiện sau lao
động và trên cơ sở lao động. Từ nhận xét đó Plêkhanôp đã xem trò chơi là sợi
dây nối liền các thế hệ với nhau và truyền đạt những kinh nghiệm, những thành
quả văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong lịch sử mỗi dân tộc đều có một khối lợng lớn trò chơi trẻ em đợc
tích luỹ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong đó trẻ em một mặt đợc
giải trí mặt khác lại đợc hiểu biết thêm về thế giới xung quanh và hoàn thiện
nghiên cứu tâm lý trẻ em cũng đã xem trò chơi là một hiện tợng xã hội đáng
quan tâm. Ông đã chỉ ra đặc tính phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hoạt động vui
chơi của trẻ và đã xác định một loạt mức độ phát triển hoạt động vui chơi qua các
độ tuổi. Động cơ vui chơi của trẻ em theo Henri - Wallon là sự cố gắng đáng tích
cực của đứa trẻ để tác động lại thế giới bên ngoài nhằm lĩnh hội cho đợc những
năng lực của con ngời chứa trong thế giới đó. Trong trò chơi trẻ luyện tập đợc
năng lực vận động, cảm giác và những năng lực trí tuệ, luyện tập các chức năng
và các mối quan hệ xã hội.
Khẳng định bản chất xã hội của trò chơi trẻ em cũng là khẳng định tác
động tích cực của ngời lớn lên trò chơi trẻ em. Trong khi vấn đề trẻ em chơi một
cách tự nhiên chủ động, ngời lớn có thể hớng dẫn chúng chơi một cách có mục
đích, có phong hớng và có kế hoạch, nhằm tạo ra sự phát triển có hiệu quả nhất.
Nói cách khác là có thể sử dụng trò chơi nh la một phơng tiện giáo dục quan
trọng đối với trẻ em.
1.2.2. Đặc điểm của trò chơi:
6
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
Trong s phạm học Xô Viết trò chơi trẻ em đợc coi nh là một loại hoạt động
của trẻ mang tính lịch sử, đợc biểu hiện trong việc mô tả những hành động của
ngời lớn, những mối quan hệ giữa họ với nhau, trò chơi hớng tới tiếp thu thế giới
vật chất và xã hội. Nh vậy, trò chơi đợc xem nh là một hoạt động xã hội mang
tính chất xã hội về nguồn gốc ra đời của mình, về khuynh hớng, về nội dung và
về tính cách.
Các trò chơi trẻ em đợc phân biệt bởi sự phong phú và đa dạng, nó khác
7
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
cũng là những cái gì đó hao hao giống vẻ bên ngoài với ngời thật vật thật mà thôi
và dù ngời ta có cố tình là giống đi chăng nữa thì cũng chỉ là một sự mô phỏng
và chính sự mô phỏng đó là điều kiện cần thiết để có thể tạo cho trẻ những hành
động đợc tự do thoải mái trong khi chơi và thúc đẩy chúng đạt tới niềm say mê
đến tận cùng với bao ớc mơ ngộ nghĩnh và thú vị. Nh vậy chính trò chơi đã làm
nảy sinh trí tởng tọng của trẻ em, kích thích cho trí tởng tợng phát triển.
Mặt khác tính chất tợng trng của trò chơi cũng đơc thể hiện ở chỗ. Khi
chơi trẻ ớm mình vào một nhân vật nào đó trong cuộc sống và hành động ngụ ý
vào những vật thay thế, tất cả những cái đó đều là giả bộ, là kí hiệu, nhng lại
mang ý nghĩa rất thực vì nó đã mô phỏng đợc những điều có thực đã từng xảy ra
nh vậy throng cuộc sống. Từ đó,ở trẻ em đã ra đời một chức năng tâm lý mới chức năng ký hiệu tợng trng. Sự ra đời này chứng tỏ trẻ đã bớc sang một bớc mới
của việc nhận thức thế giới, nhờ một loại hình đặc trng của con ngời, đó là nhận
thức thế giới thông qua hệ thống kí hiệu.
Một đặc điểm thứ ba nữa của trò chơi đó là: Hoạt động vui chơi của trẻ em
không phải là hoạt động bắt buộc mà là một hoạt động mang tính tự do.
Khác với hoạt động khác, vui chơi là hoạt động không nhằm tạo ra sản
phẩm nên hành động chơi không buộc tuân thủ theo nguyên tắc chặt chẽ của hoạt
động thực tiễn. Điều đó giúp trẻ có những hành động tự do trong khi chơi. Ví dụ
nh trong trò chơi Lái xe nếu nh trẻ phải tuân thủ các thao tác cũng nh các
nguyên tắc của một tài xế thực sự thì trò chơi đó không còn là hoạt động tự do
nữa, nh thế thì không phù hợp với đặc điểm của trò chơi
Và các trò chơi khác nh trò chơi Bế em trò chơi Bác sỹ cũng vậy khi
nét trong hoạt động vui chơi, một biểu hiện độc đáo của tính độc lập đó là sự
điều khiển hành vi trong khi chơi đó không những gây cho trẻ niềm hào hứng và
lòng tự tin trong cuộc chơi mà còn giúp chúng phát huy khả năng tự lập của mình
trong cuộc sống.
Một đặc điểm không thể không nói đến trong trò chơi đó là: Hoạt động
vui chơi của trẻ là hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ
Đứa trẻ lao vào cuộc chơi với cả sự say mê và lòng nhiệt huyết vốn có của
nó. Khi mô tả cuộc sống con ngời vào trò chơi đứa trẻ lúc thì vui vẻ lúc thì buồn
sầu điều đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và khả năng tởng tợng tích cực của trẻ nhờ
vậy mà xúc cảm của trẻ đợc biểu hiện với nhiều sắc thái thật muôn màu muôn
vẻ.
Nhờ có thế giới tình cảm mà trò chơi dễ dàng thâm nhập và tác động mạnh
mẽ đến trẻ em hơn mà tình cảm đối với trẻ em là động cơ mạnh mẽ nhất nhiều
khi trẻ nhập vai vào trò chơi, hoá thân vào trò chơi tởng nh giữa thực và chơi,
giữa chơi và thực. Nhiều khi chúng xem con búp bê nh đứa con của mình, chúng
nâng niu và bảo vệ búp bê. Dẫu biết rằng trong trò chơi mọi cái đều giả vờ đều
không có thật nhng tình cảm mà các em biểu hiện trong trò chơi là tình cảm chân
thực thẳng thắn không hề mang tinh giả tạo không bao giờ đứa trẻ lại thơ ơ với
cái mà nó biểu hiện. Ngời mẹ tỏ ra thực sự buồn rầu khi đứa con không nghe
lời.
Trong khi chơi đứa trẻ phải hình dung lại những gì đã xảy trong cuộc sông
xung quanh để không chỉ thực hiện đúng luật chơi mà còn tuân thủ theo logic nội
tâm nhân vật mà mình đóng vai. Có lúc thì tỏ ra ân cần chu đáo khi phải chăm
sóc Ngời bệnh, có lúc thì đề cao cảnh giác khi đang tấn công Kẻ tội phạm.
Những biểu hiện tình cảm đó vừa sống động vừa chân thực mà những diễn viên
tài giỏi không phải lúc nào cũng có thể đạt tới.
Nh vậy trò chơi là phơng tiện phát triển toàn diện nhân cách của trẻ ngoài
việc phát triển các chức năng tâm lý còn phát triển các mặt của nhân cách nh: trí
tuệ, thể chất, đạo đức, thẩm mỹ.
9
nhiệm vụ nhận thức đợc đặt ra cho trẻ không trực tiếp mà thông qua trò chơi, các
nhiệm vụ học tập có mối liên hệ chặt chẽ với khởi điểm mang tính vui chơi một
cách thú vị tức là với các nhiệm vụ chơi và hoạt động chơi. Ví dụ nh trong trò
chơi "Cửa hàng" có mục đích dạy học là phát triển kỹ năng hiểu ý đến các thuộc
tính tiêu biểu của đối tợng dới dạng của nhiệm vụ chơi - Thể hiện đúng vai của
ngời mua và ngời bán, có kỹ năng mua và bán "hàng hoá". Tức là các nhiệm vụ
dạy học đợc "ẩn dấu" đối với trẻ. Mối quan hệ qua lại giữa ngời lớn và trẻ đợc
quy định không bởi từng tình huống học tập mà bởi trò chơi, bởi vì giáo viên và
trẻ(trớc hết là những ngời tham gia trò chơi). Nếu nguyên tắc này bị phá huỷ,
tính chất vui chơi của mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và trẻ biến mất và giáo
viên bớc vào con đờng dạy học trực tiếp trong trò chơi.
10
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
Theo A.P.Uxôva thì một trò chơi học tập sẽ nhanh chóng trở thành bài tập
nếu trong quá trình điều khiển nó ngời lớn điều khiển quá nhiều (Tâm lí học và
giáo dục học trò chơi của trẻ mẫu giáo Matxcơva 1966).
Trò chơi học tập đợc ngời lớn hớng dẫn kiểm soát quá trình chơi tuy nhiên
trò chơi học tập vẫn đảm bảo tính tự do độc lập của trẻ vì nó vẫn chứa đựng đặc
tính cơ bản của trò chơi: Thoả mãn nhu cầu và cảm xúc của trẻ, trẻ tự do chơi, tự
điều khiển sáng tạo không ngừng.
Tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về trò chơi học tập của các nhà nghiên
cứu Xô viết, thạc sỹ Trơng Xuân Huệ trong công trình nghiên cứu: Sử dụng phơng pháp trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ học toán lớp 1 (2001)
khẳng định rằng: "Trò chơi học tập đợc hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục,
tuệ cần thiết để trẻ vào học ở trờng phổ thông.
Mặt khác, nhờ có trò chơi học tập mà việc cũng cố kiến thức đợc tiến hành
một cách đa dạng, tạo ra sự hứng thú đối với trẻ khi chúng sử dụng điều đã biết
vào hoàn cảnh mới. Với một số tiết học nhất định, cô giáo có thể tiến hành dới
hình thức trò chơi, giúp trẻ dễ dàng tiếp thu trí thức, kỹ năng, kỹ xảo, đẩy mạnh
tính tích cực của trẻ bắt buộc trẻ phải huy động hoạt động trí tuệ của mình.
Có thể nói để giải quyết các nhiệm vụ mà trò chơi học tập đã đề ra, nhờ đó
óc phán đoán, suy luận, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát hoá những phẩm
chất t duy khác đợc phát triển, tức là phát triển trí thông minh. Trò chơi học tập
đã đợc thử thách qua nhiều thế hệ và ngời ta đều công nhận tính hiệu quả của trò
chơi trong việc rèn luyện trí não của ngời chơi.
12
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
Nh vậy muốn trò chơi học tập thực sự góp phần giáo dục và phát triển trí
tuệ cho trẻ mẫu giáo đòi hỏi cô giáo phải có những biện pháp tổ chức và biết sử
dụng nó vào mục đích giáo dục và dạy học.
Ngày nay các trờng mẫu giáo nớc ta, trò chơi học tập đợc sử dụng làm phơng tiện giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm, phát triển ngôn ngữ, làm
quen với môi trờng xung quanh, hình thành bểu tợng toán sơ đẳng cho trẻ mẫu
giáo.
1.2.3.4. Phân loại trò chơi học tập.
Nhằm mục đích giáo dục cảm giác cho trẻ mẫu giáo, các nhà nghiên cứu
Liên Xô đã sử dụng những loại trò chơi học tập sau đây:
- Trò chơi giao nhiệm vụ dựa trên hứng thú của trẻ đối với các hoạt động
cùng với các đồ vật, đồ chơi :thu nhặt, sắp xếp, rải ra, lắp vào, luồn vàocác
1.2.3.5. Vai trò của trò chơi học tập đối với sự hình thành biểu tợng về số lợng
cho trẻ .
Việc cung cấp cho trẻ các biểu tợng sơ đẳng về toán là điều kiện chuẩn bị
cho trẻ những cơ sở ban đầu để trẻ bớc vào phổ thông đáp ứng đòi hỏi của thực
tiễn và phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học hiện đại, đáp ứng đợc
yêu cầu chiến lợc phát triển con ngời. Đặc biệt về mặt trí tuệ, hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng góp phần làm giàu
biểu tợng về thế giới xung quanh cho trẻ. Vậy làm thế nào để phát triển khả năng
đó tốt nhất? Chỉ có trò chơi học tập mới giải quyết đợc nhiệm vụ đã đề ra. Vậy
trò chơi học tập có vai trò nh thế nào đối với việc hình thành biểu tợng về số lợng
cho trẻ 4 - 5 tuổi.
Theo quan điểm của nhà giáo dục Lily H.Wong (Singapore): Trẻ mầm non
có thể vận dụng tri thức nói chung và phép đếm nói riêng qua 3 hình thức: Vui
chơi - trải nghiệm - khám phá.
Nh vậy vui chơi là một hoạt động chủ yếu để thực hiện mục đích có thể đợc tiến hành trong mối quan hệ với hình thức khám phá - trải nghiệm của trẻ.
Việc đa các yếu tố kích thích trẻ trải nghiệm và khám phá trong các trò
chơi học tập là rất cần thiết. Vốn là hoạt động vui chơi, nên dù chứa đựng mục
đích dạy học (đợc thực hiện gián tiếp) trò chơi học tập vẫn phải đảm bảo vai trò
khơi dậy hứng thú tự nguyện hoạt động của trẻ. Một trong số các nhà nghiên cứu
đã khẳng định vai trò này cụ thể nh sau:
Quan điểm của PGS.TS. Ngô Công Hoàn về việc "Tổ chức cho trẻ mẫu
giáo học bằng chơi" là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống kinh nghiệm xã hội
nhẹ nhàng, tự nhiên, không gò bó, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý
của trẻ. Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú, tự nguyện ở trẻ, làm giảm thiểu sự
căng thẳng thần kinh, giữ đợc sự hồn nhiên ở trẻ thơ. Mặt khác các biểu tợng về
số lợng của trẻ rất khó nhớ và khó tởng tợng đối với trẻ. Nên khi sử dụng trò chơi
học tập thì sẽ dễ dàng hơn khi nhận biết các biểu tợng về số lợng.
Tóm lại trò chơi học tập có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của ngời
chơi để giải quyết các tình huống xẩy ra trong trò chơi nhằm đạt đợc các nhiệm
vụ nhận thức nhất định. Đây là loại trò chơi chủ yếu là dùng thao tác trí óc. Trò
không gặp khó khăn trong việc trả lời đúng. Đối với tơng ứng 1 - 1, trẻ cần có
khả năng nối kết từng đối tợng trong một nhóm: Thứ nhất, thứ hai, thứ ba... và
cần giữ nguyên những cặp đối tợng mà chúng kết nối. Piaget tin rằng sự hiểu
việc bảo toàn số lợng là thiết yếu,đó là với bất cứ cách sắp xếp (trật tự) nào của
những vật đợc đếm thì số lợng (bản số) của chúng cũng đợc giữ nguyên. Tuy
vậy,ngày nay ngời ta cho là đối với trể việc phát triển những kĩ năng đếm thời thơ
ấu quan trọng hơn cả và dựa trên cơ số cung cấp hiệu quả việc hiểu biết về số đợc
phát triển
Quan điểm của German và Gallistel (1986), Baroody(1987), Thompson
(1995) thì kinh nghiệm về phép đếm phát triển nhận thức về số và nhận thức này
dẫn đến tiến hoá thông qua những kinh nghiệm đếm. Trẻ có thể bắt đầu bằng
việc sử dụng những từ đếm một cách máy móc, trớc tiên là lặp lại chúng mà
không có một ý nghĩa nào kèm theo và rồi bắt đầu đếm những đối tợng, dần
chuyển sang cách nhìn tinh vi hơn về phép đếm và mối liên hệ của nó với số.
Nghĩa là, theo quan điểm này, sự phát triển những kĩ năng đếm song song với sự
phát triển khái niệm số và chúng hoà quyện với nhau một cách chặt chẽ.
Gelman và Gallistel (1968) đã đề ra 5 nguyên lí mà trẻ cần nắm đợc để trở nên
thành thạo về phép đếm, đó là:
15
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
a. Nguyên lí một đối một
Đây là sự tơng ứng giữa từ đếm và vật đếm: ứng với mỗi vật cần đếm đợc
gán cho một và chỉ một từ đếm theo thứ tự trong N*.
Để hiểu nguyên lí này, trẻ cần phải.
Gats (1957) cho rằng trẻ 3 - 4 tuổi chỉ có thể đếm những đồ vật giống hệt
nhau và bất cứ sự khác nhau nào về chất. Ví dụ: màu sắc, cũng gây nên "đổ vỡ"
16
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
cho khả năng đếm. ý kiến này dẫn đến quan điểm rằng tiền hành động số phải đợc dựa trên những hoạt động sắp xếp và phân loại.
Tuy nhiên, ngày nay ngời ta cho rằng kinh nghiệm thực hành của việc đếm
là những gì quyết định sự phát triển của trẻ em và vì thế trẻ nên đợc khuyến khích
đếm bất kì tập hợp nào mà chúng thu nhận đợc và xem nh đếm đợc.
e. Nguyên lí số lợng độc lập với cách sắp xếp.
Cách sắp xếp các đối tợng trong một nhóm không ảnh hởng gì đến bản số
của nó, trẻ cần có kinh nghiệm đếm những tâp hợp ở nhiều cách sắp xếp khác
nhau để bắt đầu hiểu ra điều này [1].
Năm nguyên lí nêu trên đợc chúng tôi sử dụng làm cơ sở quan trọng để
xây dựng các tiêu chí đánh giá khả năng hình thành biểu tợng về số lợng của trẻ
mẫu giáo (4-5 tuổi ) trong đề tài này.
1.3.2. Khái niệm về phép đếm và số lợng:
Phép đếm ra đời do nhu cầu của loài ngời cần biết rõ về số lợng các đối tợng trong mỗi tập hợp. Ngay từ thời cổ xa, khi cha có khái niệm về số, con ngời
đã biết so sánh số lợng các đối tợng giữa các tập hợp bằng cách đặt tơng ứng mỗi
phần tử của tập hợp naỳ với 1 phần tử của tập hợp kia. Sự so sánh này giúp con
ngời hình thành khái niệm" nhiều hơn, ít hơn, nhiều bằng nhau"
Sau đó con ngời đã biết dùng các tập hợp mẫu làm đại diện đặc trng cho
lớp các tập hợp tơng đơng. Chẵng hạn"mặt trời" đặc trng cho các tập hợp có 1
phần tử, "đôi mắt" đặc trng cho các tập hợp có 2 phần tử.Khi số lợng đối tợng
trẻ. Trẻ lĩnh hội số lợng của chúng bằng các giác quan khác nh: thị giác, thính
giác, giác quan vận động
Mỗi lứa tuổi khác nhau thì khả năng hình thành biểu tợng về số lợng khác
nhau: ở lứa tuổi nhà trẻ đã bắt đầu có những nhận biết về số lợng, đó là nấc thang
đầu tiên và cần thiết giúp trẻ nhận biết hiện thực xung quanh
Lên hai tuổi trẻ đã tích luỹ đợc những biểu tợng về số lợng các vật, các âm
thanh và các chuyển động, trẻ rất thích thú tạo ra số nhiều các vật giống nhau trẻ
thu vật lại thành đống, xếp đạt các vật với nhau, dịch chuyển chúng từ chỗ này
sang chỗ khác, xếp rải chúng ra Trong quá trình thao tác với các nhóm vật, ở
trẻ hình thành hứng thú phân biệt các nhóm vật có số lợng là một và nhiều và trẻ
lĩnh hội từ nhiều.
Lên ba tuổi trẻ đã phân biệt đợc các khái niệm: một, nhiều, ít, trẻ dễ dàng
thực hiện đợc nhiệm vụ đợc giao
Trẻ nhỡ (4 - 5tuổi), những biểu tợng tập hợp đợc phát triển và mở rộng, trẻ
có khả năng nhận biết tập hợp ngay cả khi các vật của các phần tử của chúng là
những vật không giống nhau. Ví dụ: tập hợp các hình học gồm các hình tròn,
hình vuông, hình tam giác có màu sắc khác nhau, hay một rổ bóng có hai màu
xanh và đỏ. Điều đó chứng tỏ đã có sự phát triển ở trẻ khả năng nhận biết chung
của tập hợp bất kì và bỏ qua những dấu hiệu khác của chúng
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã có kỹ năng phân tích từng phân tử của tập hợp, biết
đánh giá độ lớn của chúng theo số lợng các phần tử của tập hợp. Trẻ lứa tuổi này
đã nắm và sử dụng tốt biện pháp thiết lập tơng ứng 1:1 giữa các phần tử của các
tập hợp khi so sánh độ lớn của chúng. Trẻ có nhu cầu xác định chính xác số lợng
các phần tử có trong tập hợp. Vì vậy, khi thao tác với các tập hợp cụ thể trẻ bắt
đầu sử dụng tới các con số và pháp đếm, nhờ vậy mà trẻ bắt đầu nắm đợc vai trò
của số kết quả
Các thao tác đếm của trẻ đợc hình thành trên cơ sở trẻ thực hành thiết lập
mối tơng ứng 1:1 giữa các phần tử của các tập hợp khi đếm.
18
Pictures (hình ảnh)
Symbols (biểu tợng)
Nghĩa là sự nhận thức vận dụng của trẻ đạt đến mc độ tối u khi 4 yếu tố
sau đợc liên kết chặt chẽ và đồng bộ:
- Kinh nghiệm thực tiễn thể hiện, tích luỹ bằng hành động thực tiễn.
- Ngôn ngữ của trẻ - chủ yếu là lời nói.
- Hình ảnh: tranh vẽ,vật thật...
- Biểu tợng: Hình ảnh của sự vật và hiện tợng nảy sinh trong óc khi chúng
không còn đang trực tiếp tác động và các giác quan. Đó là kết quả của hoạt động
trí nhớ và tởng tợng.
19
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
Nh vậy kết quả của sự hình thành biểu tợng phép đếm phụ thuộc vào đối tợng đếm có đạt yêu cầu về 4 yếu tố nêu trên hay không? Đạt nhiều hay ít?
Haylock và Cockburn sử dụng sơ đồ này để nhấn mạnh các yếu tố sau đây
trong quá trình dạy trẻ nhận thức và vận dụng phép đếm:
- Sử dụng các nguyên vật liệu và trang thiết bị trong các tình huống thực tiễn.
- Lắng nghe và sử dụng các từ ngữ toán học mới, hợp lý.
- "Ghi chép lại" tình huống toán học bằng hình ảnh
- Sử dụng kiểu "ghi chép" bằng biểu tợng để diễn đạt các nội dung trên.
Quan điểm này đợc chia sẻ bởi nhiều nhà nghiên cứu về việc dạy toán cho
trẻ em ở nhiều bớc khác nhau. Trong nhiều chơng trình dạy trẻ làm quen với toán
ở các nớc Singapore, Israel, úc, Hàn Quốc... Ngời ta sử dụng các tình huống thực
tiễn với sự phối hơp giáo dục của phụ huynh, trẻ đợc học toán khi đi mua sắm, đi
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
Trẻ mẫu giáo nhỡ cần hiểu rằng tập hợp không chỉ đợc tạo bởi các vật và
các nhóm vật giống nhau, mà còn có thể đợc tạo bởi nhiều vật cũng nh nhiều
nhóm vật có những đặc điểm khác nhau về màu sắc, khích thớc Vì vậy cần dạy
trẻ nhận biết dấu hiệu chung của một tập hợp trọn vẹn, nhận biết các tập con
trong tập lớn.
Trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi tiếp tục đợc luyện tập so sánh độ lớn các tập hợp
bằng những biện pháp đã học nh: xếp chồng, xếp cạnh nhằm nhận biết và diễn
đạt mối quan hệ số lợng bằng các từ: bằng nhau - không bằng nhau, nhiều hơn- ít
hơn. Trên cơ sở so sánh số lợng các nhóm vật bằng cách thiết lập tơng ứng 1:1 để
xác định mối quan hệ số lợng giữa các nhóm vật, trẻ bắt đầu có nhu cầu xác định
chính xác số lợng các vật có trong nhóm bằng phép đếm với các con số. Vì vậy
cần dạy trẻ lứa tuổi này phép đếm xác định số lợng.
Ngay từ khi trẻ học ở trờng mầm non, cần hình thành biểu tợng này cùng
với quá trình dạy đếm cho trẻ. Các bài luyện tập tạo nhóm vật theo dấu hiệu
chung, tạo các tập hợp lớn gồm một số tập con, so sánh số lợng các nhóm vật
bằng thiết lập tơng ứng 1:1 giữa các vật của chúng đó là cơ sở để hình thành
biểu tợng về con số. Qua các thao tác thực tiễn với các nhóm vật, dần dần trẻ đợc
làm quen với phép đếm, nhờ vậy trẻ nắm đợc cách lập số và so sánh các số với
nhau.
Trong quá trình đếm xác định số lợng, trẻ cần nắm đợc mối quan hệ giữa
các số liền kề thuộc dãy số tự nhiên: mỗi số đứng trớc nhỏ hơn số đứng sau một
đơn vị và mỗi số đứng sau lớn hơn số đứng trớc một đơn vị. Bằng cách so sánh
các con số với nhau trẻ hiểu rằng có thể tạo ra số tiếp theo bằng cách thêm một
vào số đứng trớc và ngợc lãi trên cơ sở đó trẻ nắm đợc quy luật hình thành dãy số
tự nhiên n 1 cần dạy trẻ mẫu giáo nhỡ tìm kiếm các nhóm vật có số l ợng nhất
định trong môi trờng xung quanh trẻ, ban đầu trẻ tìm số lợng vật theo mẫu sau đó
độc lập với cách sắp xếp.
Để tìm hiểu khả năng hình thành biểu tợng về số lợng và phép đếm của trẻ
chúng tôi chú ý đến quan điểm của Haylock & Cockburn (1989) về 4 đặc điểm tơng quan của việc nhận thức - vận dụng phép đếm: kinh nghiệm thực tiễn, ngôn
ngữ, hình ảnh, biểu tợng.
Chơng 2
Thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong việc
hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi
ở các trờng mầm non thành phố vinh
2.1. mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng việc hình thành biểu tợng về số lợng của trẻ mẫu giáo
4 - 5 tuổi.
2.2. Nội dung nghiên cứu.
+ Điều tra sự phát triển biểu tợng về số lợng ở trẻ mẫu giáo nhỡ theo các
tiêu chí đã đề ra.
+ Tìm hiểu nhận thức của giáo viên Mầm non về việc hình thành biểu tợng
về số lợng cho trẻ 4 - 5 tuổi.
+ Quan sát một số tiết dạy hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ 4-5 tuổi.
+ Đánh giá chơng trình hiện hành nhằm hình thành biểu tợng về số lợng
cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
2.3. phơng pháp nghiên cứu.
- Phơng pháp nghiên cứu tài liệu:
Trên cơ sở lý luận về trò chơi học tập chúng tôi đánh giá chơng trình Chăm
sóc- giáo dục hiện hành về hình thành biểu tợng số lợng cho trẻ 4-5 tuổi, đồng
thời chọn lọc và biên soạn thành hệ thống trò chơi học tập nhằm phát triển khả
năng hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
- Phơng pháp quan sát:
22
Cách tiến hành:
Chúng tôi đã đặt hệ thống câu hỏi đóng và mở thành 30 bản, sau đó gửi
đến các trờng nói trên
Những số liệu thu thập đợc chúng tôi sẽ tiến hành xử lý, tính tỷ lệ phần trăm
Hệ thống câu hỏi điều tra Ankét chúng tôi ghi ở phần phụ mục
- Phơng pháp ghi chép: Ghi lại kết quả thực hiện của trẻ
* Mục đích: Nhằm ghi lại kết quả của trẻ một cách chính xác hơn.
* Cách tiến hành: Chúng tôi đã ghi lại những hiểu biết của trẻ trong quá
trình tiếp xúc. Mặt khác chúng tôi đã sử dụng phơng pháp này để ghi lại những
hiểu biết cũng nh những biểu hiện của trẻ trong quá trình quan sát.
2.4. kết quả Nghiên cứu:
23
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Thủy
Ngời thực hiện: Đặng Thị Ph ơng
2.4.1. Kết quả đánh giá nhận thức của giáo viên về trò chơi học tập và
việc sử trò chơi học tập trong việc hình thành biểu tợng về số lợng cho trẻ 4-5
tuổi.
Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thông qua hệ thống câu hỏi điều tra Ankét
và gửi cho 30 cô giáo dạy lớp 4-5 tuổi và thu đợc kết quả nh sau:
Bảng 1: Thành phần các giáo viên dạy mẫu giáo nhỡ đợc tham khảo ý kiến:
Trình độ
Số lợng %
Thâm niên công tác
Số lợng %
Đại Học
Cha bao giờ
0
0
Từ kết quả thu đợc ở bảng trên chúng ta thấy rằng mức độ sử dụng trò chơi
học tập đợc các cô giáo sử dụng thờng xuyên chiếm 96,6%, tuy nhiên vẵn có
3,3% cô giáo thỉnh thoảng mới sử dụng trò chơi học tập. Không có cô giáo nào
cha bao giờ sử dụng trò chơi học tập để dạy trẻ.
P
Bảng 3: Hệ thống các phơng pháp:
Phơng pháp, biện pháp sử dụng
- Phơng pháp quan sát
- Phơng pháp sử dụng hệ thống câu hỏi
-
- Phơng pháp luyện tập
-
-Phơng pháp trò chơi
ý kiến
8
3
9
10
%
27
10
0
60
30
Chúng ta nhận thấy rằng số lợng giáo viên sử dụng trò chơi vào thời điểm
cuối tiết học là nhiều nhất chiếm 60 % tuy nhiên vẫn có 30% cô giáo sử dụng trò
chơi suốt cả tiết học và có 10% cô giáo sử dụng trò chơi vào đầu tiết học không
có cô giáo nào sử dụng trò chơi vào thơi điểm giữa tiết học
Bảng 5: Vai trò vị trí của trò chơi trong tiết học
Vai trò, vị trí của trò chơi
Số ý kiến
%
Là phơng tiện cũng cố
12
40
Là phơng tiện dạy học
0
0
Cả hai
18
60
Dựa vào bảng trên ta thấy có 60% giáo viên cho rằng trò chơi có vai trò
nh một phơng pháp dạy học và phơng tiện cũng cố tuy nhiên có 40% giáo viên
cho rằng trò chơi là phơng tiện cũng cố và không có giáo viên nào cho rằng trò
chơi nh một phơng tiện dạy học
Bảng 6: Nhận thức về hiệu quả của việc sử dụng trò chơi.
Hiệu quả
Số ý kiến
%