1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KIỀU QUÝ HỢP
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC
VẦN Ở TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
VINH – 2009
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KIỀU QUÝ HỢP
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG
DẠY HỌC VẦN Ở TIỂU HỌC
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS CHI THỊ HÀ THANH VINH – 2009
4
lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp là chữ viết, phân môn Học
vần có một vị trí vô cùng quan trọng. Từ mẫu giáo lên lớp 1, trẻ em bắt đầu thực hiện
“bước quá độ vĩ đại nhất” trong đời: Từ hoạt động chủ đạo là “vui chơi” ở mẫu giáo
chuyển sang hoạt động chủ đạo là “học tập”. Sự khác biệt của hai loại hoạt động này
tạo ra một số khó khăn không nhỏ cho trẻ em, một cửa ải đòi hỏi sự thích nghi về
nhiều mặt mà các em không dễ gì vượt qua. Lớp 1 chứa đựng những thử thách quan
trọng đầu tiên của cuộc đời. Từ đây các em phải đối mặt với hàng loạt những khó
khăn trong học tập nói chung và phân môn Học vần nói riêng. Người giáo viên tiểu
học cần giúp trẻ thích nghi dần với cuộc sống mới bằng sự nhạy cảm, nghệ thuật sư
phạm và những phương pháp dạy học thích hợp để “mỗi ngày đến trường là một ngày
vui”, trao cho trẻ sự hứng thú với mỗi bài học, mỗi hoạt động học tập và cảm giác
mong đợi từng tiết học.
Khổng Tử đã từng dạy học trò của mình rằng “biết mà học không bằng thích
mà học, thích mà học không bằng vui say mà học”. Vì vậy một trong những giải pháp
đảm bảo sự thành công trong dạy học cho học sinh lớp 1 nói chung và phân môn Học
vần nói riêng là tạo được sự hứng thú nhận thức cho các em. Trò chơi với tính hấp
dẫn tự thân của mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu
quả kích thích sự hứng thú nhận thức, niềm say mê học tập và tính tích cực sáng tạo ở
học sinh.
Trong thực tế, phân môn Học vần lớp 1 ngày càng được quan tâm chú ý. Nhiều
chương trình mới được xây dựng, nhiều phương pháp và hình thức dạy học mới được
nghiên cứu và ứng dụng đã mang lại những hiệu quả giáo dục đáng trân trọng. Tuy
nhiên, người giáo viên tiểu học phần lớn mới chỉ chú ý đến việc bằng mọi cách cung
cấp hết kiến thức trong sách giáo khoa, mà ít quan tâm đến thái độ, cảm xúc của trẻ.
Chính vì vậy nhiều tiết Học vần trở thành tiết học nặng nề, mệt mỏi đối với học sinh.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà áp lực do đòi hỏi từ phía xã hội, gia đình,
nhà trường lên đứa trẻ ngày càng lớn, thì ngày càng xuất hiện những học sinh sợ mà
6
Luận văn tập trung nghiên cứu việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân
môn Học vần ở một số trường tiểu học trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức
Thọ tỉnh Hà Tĩnh.
7. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, so sánh, hệ thống hoá, các quan điểm lí luận từ các công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát và ghi chép để nhận xét đánh giá về cách tổ chức trò chơi dạy Học vần
của giáo viên lớp 1.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Điều tra bằng ankét cho giáo viên tiểu học để tìm hiểu thực trạng tổ chức trò
chơi dạy Học vần trong trường tiểu học.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu sản phẩm của giáo viên, cụ thể là các giáo án sử dụng trò chơi dạy
Học vần và giáo án không sử dụng trò chơi dạy Học vần.
Nghiên cứu sản phẩm của học sinh: Bài kiểm tra, vở viết, vở bài tập…
7.2.4. Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với giáo viên tiểu học nhằm tìm hiểu về nhận thức, về thực tế tổ chức
trò chơi dạy Học vần, nguyên nhân và những giải pháp cho thực trạng ấy.
Phỏng vấn học sinh để tìm hiểu sự hứng thú của học sinh đối với trò chơi học tập nói
chung và trò chơi trong phân môn Học vần nói riêng.
7.2.5. Phương pháp thử nghiệm
Thử nghiệm một số tiết học có sử dụng trò chơi dạy Học vần theo đúng những
8
Các nhà khoa học Xô viết này đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu về trò chơi học
tập, họ chỉ ra vai trò của trò chơi học tập trong sự hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ.
Theo nhà sư phạm nổi tiếng N.K. Crupxkaia thì “Trò chơi học tập không những
là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ em đi tìm chân lí mà còn
giúp trẻ xích lại gần nhau, giáo dục cho trẻ tình yêu quê hương lòng tự hào dân tộc.
Trẻ em không chỉ học trong lúc học mà còn học trong lúc chơi. Chơi với trẻ vừa là
học, vừa lao động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc”. Còn nhà sư phạm E. I.
Chikhieva cho rằng “Trò chơi học tập đẩy mạnh sự phát triển chung của trẻ, nó giúp
trẻ xích lại gần nhau, phát huy tính độc lập của chúng. Nếu cô giáo biết cách tổ chức
hướng dẫn loại trò chơi này một cách khéo léo và sinh động thì trẻ sẽ rất thích thú và
tràn ngập niềm vui”.
* Khuynh hướng thứ 2: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập bó hẹp trong
mục đích dạy học, coi trò chơi học tập như một phương tiện dạy học. Có nghĩa là trò
chơi học tập được xác định không những như là một phương pháp, biện pháp dạy học
mà là một hình thức dạy học phù hợp với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp
1 nói riêng (I. B. Bazêđora, Ph. Phroebel; X.G. Zalxmana…)
Theo nhà sư phạm người Đức Ph. Phroebel, trò chơi học tập phát triển thể chất,
làm giàu vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ. Tuy nhiên
ông xem xét trò chơi dưới góc độ duy tâm thần bí. Ông cho rằng trò chơi để phát triển
cái vốn có sẵn của trẻ em, vì thế ông đã loại bỏ khả năng tưởng tượng, óc sáng tạo và
tính tích cực của trẻ trong hoạt động vui chơi.
Nhà sư phạm nổi tiếng A. I. Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan
trọng về tính đặc thù của dạy học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá
trình phức tạp, nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi. Điều này được
thể hiện rõ ở tính chất đặc trưng các mối quan hệ giữa cô giáo và trẻ, giữa trẻ với
trẻ… nghệ thuật của cô giáo là ở chỗ, vẫn giữ được tính chất của trò chơi, thông qua
10
Trong dạy học Tự nhiên và xã hội có “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và xã
hội lớp 1,2,3” do tác giả Bùi Phương Nga chủ biên [13]. Cuốn “Học mà vui, vui mà
học” của tác giả Vũ Xuân Đĩnh [5] giới thiệu một số trò chơi dùng trong dạy học môn
Tự nhiên và xã hội.
Trong dạy học môn Đạo đức có “Trò chơi học tập môn Đạo đức ở tiểu học”
của tác giả Lưu Thu Thuỷ [18].
Các công trình khác như: “100 trò chơi vận động cho học sinh tiểu học” của
Trần Đồng Lâm [11], “Tổ chức hoạt động vui chơi cho học sinh tiểu học” của Hà
Nhật Thăng [17], “Tổ chức cho học sinh tiểu học vui chơi giữa buổi học” của Trần
Đồng Lâm (Chủ biên)
Đối với môn học Tiếng việt có “Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo
chương trình mới” [22], cuốn “Vui học Tiếng Việt” [10], “Trò chơi thực hành Tiếng
Việt 1” [24], … Các tài liệu này đã trình bày về vai trò của trò chơi trong việc thực
hiện mục tiêu giáo dục tiểu học, một số lí luận về trò chơi, những nguyên tắc và quy
trình lựa chọn, tổ chức trò chơi cho học sinh tiểu học. Có thể nói đây là bước khởi
đầu cho việc đẩy mạnh tổ chức trò chơi ở trường tiểu học.
Một số tài liệu tham khảo đã xây dựng, giới thiệu hệ thống trò chơi Học vần
như “Trò chơi học âm vần Tiếng Việt”[20], “Trò chơi với chữ cái và phát triển ngôn
ngữ”[16]…. Hhững tài liệu nói trên mới chỉ chú ý đến việc nghiên cứu về cơ sở lí
luận chung của trò chơi, các trò chơi dạy Học vần đã được giới thiệu chưa phong phú
mới chỉ dừng lại ở một số trò chơi quen thuộc, việc hướng dẫn chơi còn sơ sài, có
nhiều hạn chế. Vì vậy, xây dựng biện pháp tổ chức trò chơi Học vần có ý nghĩa cả về
mặt lí luận cả về mặt thực tiễn đối với việc tổ chức trò chơi dạy Học vần ở tiểu học
hiện nay. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng những thành tựu nghiên cứu đã điểm dẫn ở
trên chứa đựng những nội dung quan trọng, trực tiếp góp phần làm cơ sở lí luận cho
việc nghiên cứu đề tài.
Loại trò chơi này sẽ được trình bày một cách cụ thể ở phần tiếp sau.
Trên đây là 5 loại trò chơi cơ bản. Tuy nhiên sự phân loại này chỉ có tính tương
đối. Trên thực tế có những loại trò chơi hỗn hợp, tổng hợp của hai hoặc nhiều loại trò
chơi trên.
1.2.1.4. Ý nghĩa của trò chơi
Nhân cách của mỗi con người không chỉ được hình thành trong học tập và lao
động mà còn được hình thành trong hoạt động vui chơi. Chơi là hoạt động rất tự
nhiên trong cuộc sống của mọi người, nó đặc biệt quan trọng đối với trẻ em. Đối với
trẻ thơ thì chơi chính là cuộc sống thực của chúng, không chơi trẻ em không thể phát
triển được, không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải là đang sống. Đó là một
thực tế mang tính quy luật.
Có thể nói rằng, trò chơi có hiệu quả kép… chơi làm thoả mãn nhu cầu của trẻ.
Trò chơi phát triển các chức năng tâm lí và hình thành nên nhân cách.
14
Trò chơi nếu được tổ chức hợp lí thì sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Trong khi chơi, trẻ phát triển tri giác nhanh, phát triển trí nhớ, phát triển các
thao tác tư duy, phát triển tưởng tượng và phát triển ngôn ngữ. Hoạt động chơi một
mặt làm nảy sinh các yếu tố tâm lí của hoạt động học tập ở trẻ: nhu cầu, động cơ nhận
thức, chú ý, sự nổ lực ý chí… mặt khác, qua chơi vốn hiểu biết và kinh nghiệm của
trẻ được mở rộng và phát triển - một điều kiện quan trọng để trẻ học tập có kết quả.
Từ chỗ ý thức của trẻ hướng tới bản thân thao tác chơi chuyển dần sang mục
đích, nội dung và yêu cầu khách quan của trò chơi, hành động chơi được hình thành ở
trẻ. Từ đó xuất hiện hàng loạt tiền đề tâm lí để trẻ hình thành động cơ học tập như sự
phát triển các chức năng tâm lí phục vụ cho nhận thức và phát triển nhân cách.
Trước hết, tính chủ động của các quá trình tâm lí: Chú ý có chủ định, ghi nhớ có
chủ định được hình thành và phát triển trong lòng hành động chơi. Bởi lẽ chính nội
dung chơi, luật chơi đòi hỏi đứa trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định. Nếu
ng thi nú vn l trũ chiKhi cỏc mi quan h chi b xúa b, ngay lp tc trũ
chi bin mt v khi y, trũ chi bin thnh tit hc, ụi khi bin thnh s luyn tp.
Đối với học sinh tiểu học, trò chơi học tập thờng có nội dung đơn giản, có yêu
cầu thấp, vừa sức.
Tác giả Đỗ Tiến Đạt cho rng : Trò chơi học tập là hoạt động đợc tổ chức có tính
chất vui chơi, giải trí, thông qua đó học sinh có điều kiện "Học mà vui, vui mà học".
Nh vy, các nội dung học tập của trẻ (Tiếng Việt; Toán; Khoa hc; Lịch sử; a
lớ; Tự nhiên và xã hội; Đạo đức.....) đợc thể hiện vào trong trò chơi và thông qua trò
chơi học sinh nắm đợc nội dung mà giáo viên cần truyền đạt.
Tỏc gi Trần Thị Ngọc Trâm [21] cho rằng: " Trò chơi học tập là một trong
những phơng tiện có hiệu quả để phát triển các năng lực trí tuệ, trong đó có khả năng
khái quát hoá là một năng lực đặc thù của khả năng con ngời.
Trò chơi, khi đa vào giờ học thì nhất thiết phải là một bộ phận của nội dung bài
học, phải góp phần vào việc hình thành các kiến thức cơ bản hoặc rèn luyện kỹ năng
cơ bản của tiết học. Việc thiết kế các trò chơi trong quá trình dạy học là một nghệ
thuật s phạm trong dạy học và việc tổ chức trò chơi lúc này đợc xem nh là một phơng
pháp dạy học thực sự một phơng pháp s phạm tích cực.
16
1.2.2.2. Đặc điểm trò chơi học tập
Những thành tựu nghiên cứu về trò chơi đặc biệt về sự phân loại trò chơi cho
phép khẳng định:
Trò chơi học tập thuộc nhóm trò chơi có luật thường được dùng vào mục đích
giáo dục và dạy học hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ.
Trò chơi học tập khác với các loại trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và
luật chơi trong trò chơi đòi hỏi trẻ phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng chúng
lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị. Khác với nhóm trò chơi luật ẩn
(luật chơi được ẩn sau chủ đề, hành động và vai chơi). Trò chơi học tập thuộc nhóm
thức không đặt ra một
cách trực tiếp, rõ ràng, cách trực tiếp và công
17
công khai thông qua khai trước trẻ mà nằm
lệnh bài tập.
trong nhiệm vụ chơi,
Việc giải quyết
trong luật chơi và trong
nhiệm vụ nhận thức hành động chơi. Việc
chính là mục tiêu của giải quyết nhiệm vụ
hoạt động.
nhận thức chỉ là con
đường, cách thức để đi
đến đích cuối cùng là
“thắng” chứ không phải
là mục tiêu của hoạt
động.
- Đặc điểm, tính
chất của hoạt động
- So sánh kết quả
- So sánh kết quả
với nhau để xác định
với đáp án để xác định “thắng thua” (có yếu tố
“đúng sai” (trong hoạt “thi đua” ngay trong
động không có yếu tố bản thân hoạt động
“thi đua”)
18
1.2.2.3. Cấu trúc của trò chơi học tập
- Nhiệm vụ nhận thức
Đây chính là nội dung chơi có tính chất như một bài toán mà học sinh phải giải
dựa trên các điều kiện đã cho. Nhiệm vụ nhận thức là thành phần cơ bản của trò chơi
học tập, nó khêu gợi hứng thú sinh động của học sinh, kích thích tính tích cực và
nguyện vọng chơi của các em. Mỗi một trò chơi học tập có nhiệm vụ nhận thức của
mình, chính điều đó làm cho trò chơi này khác với trò chơi kia.
- Hành động chơi
Là những tác động trẻ phải làm trong lúc chơi và nó cũng là thành phần quan
trọng của trò chơi học tập “Các hành động chơi là thành phần chính của trò chơi học
tập, thiếu chúng thì không còn là trò chơi nữa. Các hành động chơi như là những hoạ
tiết của chủ đề chơi”. Những hành động ấy càng nhiều bao nhiêu thì bản thân trò chơi
càng lí thú bấy nhiêu. “Hành động chơi càng đa dạng và phong phú bao nhiêu thì trẻ
càng tích cực bấy nhiêu. Điều đó đã tạo cho cô giáo cơ hội hình thành mối quan hệ
qua lại giữa học sinh với nhau: các em biết hành động theo thứ tự, theo lượt phù hợp
với luật chơi, biết tính đến mong muốn của người khác và biết giúp đỡ bạn bè trong
Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy: Những trò chơi này giúp
học sinh nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát về sự vật hiện tượng theo một dấu
hiệu bề ngoài. Trong quá trình phân loại, trẻ phát hiện những dấu hiệu giống nhau,
những dấu hiệu khác nhau giữa các đối tượng, để đi đến sự sắp xếp của sự vật hiện
tượng theo những dấu hiệu chung. Như vậy khả năng khái quát của trẻ được hình
thành và phát triển.
Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưởng tượng: Đây là loại trò chơi mà học
sinh sử dụng vốn sống, những biểu tượng đã có trong đầu để thực hiện các thao tác
chơi, nội dung chơi. Nhờ óc tưởng tượng các em thực hiện được các thao tác chơi, nội
dung chơi và nhập vai thực sự vào cuộc chơi.
20
Trò chơi học tập phát triển trí nhớ. Là loại trò chơi rèn luyện và phát triển trí
nhớ của học sinh về những tri thức, khái niệm, biểu tượng mà các em đã lĩnh hội
được trước đó. Khả năng ghi nhớ, tái hiện của các em phụ thuộc vào những ấn tượng
mạnh - yếu của thế giới xung quanh tác động vào giác quan của các em.
Trò chơi học tập giúp cho sự phát triển, chú ý, ngôn ngữ… của học sinh.
Sự phân loại trên chỉ có tính tương đối, giúp chúng ta dễ nhận ra ý nghĩa vai trò của
trò chơi học tập đối với sự phát triển tâm lí và trí tuệ của các em. Trong thực tế nhiều
trò chơi học tập có ý nghĩa tổng hợp. Nó vừa có ý nghĩa đối với sự phát triển của các
giác quan, vừa có ý nghĩa đối với sự phát triển các thao tác trí tuệ, óc tưởng tượng, sự
chú ý….
1.2.2.5. Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí tuệ của học
sinh.
Học trong quá trình vui chơi, là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống kinh nghiệm
xã hội nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí ở học sinh.
Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm thiểu sự căng thẳng thần
kinh ở các em, giữ được sự hồn nhiên ở trẻ thơ.
Mọi học sinh đều có vị trí, nhiệm vụ như nhau khi tham gia vào trò chơi.
- Thứ ba: ở trò chơi học tập học sinh cảm nhận được một cách trực tiếp kết quả
hành động của mình: Đúng hay sai, phát hiện ra cái mới…Kết quả này có ý nghĩa to
lớn đối với các em, nó mang lại niềm vui vô hạn, thúc đẩy tính tích cực, mở rộng
củng cố và phát triển vốn hiểu biết ở các em.
1.2.2.6. Trò chơi học tập trong môn Học vần ở tiểu học
Theo chúng tôi: Trò chơi học tập trong môn Học vần là các trò chơi trong đó
có chứa các nội dung kiến thức của phân môn Học vần. Nó được thể hiện ở một khâu
nào đó trong việc dạy học (đầu tiết, giữa tiết, cuối tiết hoặc trong giờ luyện tập, ngoại
khoá...) nhằm mục đích: dẫn dắt, hình thành kiến thức mới, hay củng cố, ôn luyện nội
dung kiến thức đã học cho học sinh.
22
Nói cách khác tức là chuyển nội dung kiến thức của bài học Học vần thành các
nhiệm vụ học tập thông qua trò chơi và cách thức chơi để lĩnh hội tri thức của bài
học.
1.3. SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẦN Ở TIỂU
HỌC
1.3.1. Mục tiêu của dạy Học vần
Trước đây vấn đề xác định mục tiêu cụ thể của môn học này chưa có những ý
kiến hoàn toàn thống nhất. Về cơ bản có hai quan niệm:
+ Chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục xác định mục tiêu của dạy
Học vần là dạy học chữ, dạy các em biết nhận mặt các con chữ rồi ghép vần ghép
tiếng để biết đọc biết viết.
+ Chương trình sách giáo khoa công nghệ giáo dục là dạy âm (dạy âm vị). Dạy
cấu tạo ngữ âm Tiếng Việt để thông qua đó trẻ biết đọc, biết viết một cách khoa học.
Để xác định mục tiêu của dạy học Học vần cần làm rõ một số vấn đề sau:
- Thứ nhất là: Học vần là môn học khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một
các lớp trên.
1.3.2. Chương trình, nội dung Học vần
1.3.2.1. Chương trình
Môn Tiếng Việt 1 chương trình tiểu học mới được tiến hành trong 35 tuần.
Trong đó phần Học vần được dạy trong 21 tuần đầu. Mỗi tuần dạy 5 bài trong 10 tiết.
Mỗi bài dạy trong hai tiết, thời gian cho mỗi tiết là 35 phút (có quy định nghỉ giải lao
giữa tiết là 5 phút)
Tri thức cụ thể được giới thiệu trong phần Học vần gồm có: hệ thống âm, chữ
ghi âm, thanh điệu được giới thiệu trong 28 bài đầu, hệ thống vần được giới thiệu
trong 75 bài tiết theo.
1.3.2.2. Nội dung
Nội dung dạy học được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt và sách tập
viết.
24
Phần Học vần gồm 103 bài, trong đó có 83 bài thuộc tập 1, 20 bài thuộc tập 2.
Mỗi bài của phần Học vần được trình bày trên hai trang sách (trang thứ nhất là trang
chẵn và trang thứ hai là trang lẻ)
Phần Học vần gồm hai dạng:
* Các bài học giới thiệu âm, chữ ghi âm và thanh điệu gồm:
Bài 1: e
Bài 8: l, h
Bài 15: t, th
Bài 22: p – ph, nh
Bài 26: y, tr
Bài 6: be, bè, bẻ, bẽ bẹ
Bài 13: n, m
Bài 20: k, kh
Bài 27: Ôn tập
Bài 7: ê, v
Bài 14: d, đ
Bài 21: Ôn tập
Bài 28: Chữ thường, chữ hoa
* Các bài học giới thiệu vần
Bài 29: ia
Bài 69: ăt, ât
Bài 66: uôm, ươm
Bài 33: ôi, ơi
Bài 30: ua, ưa
Bài 70: ôt, ơt
Bài 87: ep, êp
Bài 74: uôt, ươt
Bài 51: Ôn tập
Bài 38:
Bài 88: ip, up
eo, ao
Bài 75: Ôn tập
Bài 52: ong, ông
Bài 39: au, âu
Bài 89: iêp, ươp
Bài 76:
Bài 53: ăng, âng
oc, ac
Bài 40: iu, êu
Bài 90: Ôn tập
Bài 80: iêc, ươc
Bài 57:
Bài 44: on, an
Bài 94: oang, oăng
Bài 81: ach
Bài 58:
Bài 45: ân, ă - ăn
Bài 95: oanh, oach
Bài 82:
Bài 59:
Ôn tập
Bài 46: ôn, ơn
Bài 96:
oat, oăt
Bài 83: Ôn tập
ôm, ơm
Bài 49: iên, yên
Bài 99:
uơ, uya