Khóa luận tốt nghiệp
trờng đại học vinh
khoa lịch sử
-----------------
sử dụng trò chơi học tập trong dạy học
môn tiếng việt ở các lớp 1, 2, 3
tóm tắt khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: phơng pháp dạy học văn-tiếng việt
Giáo viên hớng dẫn: TS.Chu Thị Hà Thanh
Sinh viên thực hiện:
Hoàng Mạnh Hà
Lớp:
43A1 - Giáo dục tiểu học
Vinh - 2006
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn !
1. Lý do chọn đề tài.
- Mục tiêu GDTH nằm trong mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 nêu
rõ: Phát triển những đặc tính tốt đẹp tự nhiên của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng
ham hiểu biết và những đặc tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và
học tập tốt. Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập GDTH trong cả nớc.
- Những định hớng về mục tiêu GDTH đến năm 2010, những đổi mới về nội
dung chơng trình môn Tiếng Việt sau năm 2000, đòi hỏi phải đổi mới trong phơng
pháp và hình thức tổ chức dạy học:
+ Dạy học Tiếng Việt hớng đến mục đích giao tiếp. Học không phải vì tiếng
mà vì để giao tiếp.
+ Chú trọng đến việc sử dụng kinh nghiệm vốn có của học sinh đã tích luỹ đợc
trong quá trình sống cùng gia đình, môi trờng, lĩnh hội đợc trong quá trình học mẫu
giáo.
Nh vậy, dạy Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp đợc u tiên hàng đầu.
Theo đó phơng pháp chung đợc đặc biệt coi trọng là: Giáo viên tổ chức cho học sinh
học theo cá nhân và học theo nhóm ngay trong giờ học với những tài liệu học tập có
loại hình phong phú, hấp dẫn.
- Giai đoạn thứ nhất của bậc tiểu học (các lớp 1,2,3 ) việc sử dụng hình ảnh
minh hoạ, trò chơi ngôn ngữ, trò chơi đóng vai, hình thức tổ chức học tập bằng trao
đổi, thảo luận để tổ chức bài học có một vai trò đặc biệt quan trọng.
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
dạy học môn Tiếng Việt ở các lớp 1,2,3.
5.4. Hệ thống hoá, xây dựng và đề xuất một số trò chơi phù hợp
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
5.3. Thực nghiệm cách thức sử dụng .
6. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong môn Tiếng Việt ở các lớp 1,2,3.
7. Phơng pháp nghiên cứu
7.1. Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết.
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài.
7.2. Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phơng pháp quan sát: Dạy của giáo viên và học tập của học sinh ở trờng tiểu
học.
- Phơng pháp thực nghiệm s phạm.
- Phơng pháp trò chuyện đàm thoại.
- Phơng pháp thống kê toán học để chứng minh độ tin cậy của kết quả nghiên
cứu.
- Phơng pháp Anket (trắc nghiệm điều tra) với mục đích thu thập thông tin về
thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt ở các lớp 1,2,3. Để từ đó
làm cơ sở cho việc đánh giá, xác lập cách thức và quy trình sử dụng trò chơi trong
học tập trong môn Tiếng Việt.
Cuốn sách nêu lên một số vấn đề cơ bản:
+ Đa trò chơi vào lớp học nhằm mục đích gì?
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Đa trò chơi vào lớp học tức là biến việc học tập trên lớp thành một cuộc
chơi. Và qua việc tổ chức vui chơi mà giúp cho học sinh tiếp nhận kiến thức một
cách dễ dàng hơn, hào hứng hơn, giúp cho việc rèn luyện kĩ năng đạt hiệu quả cao
hơn. Đa trò chơi vào lớp học đã đáp ứng đúng đợc cùng lúc hai nhu cầu của con ngời: Nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập.
+ Trò chơi nào có thể đa vào lớp học ?
Mọi trò chơi đều có tác dụng nhất định đối với con ngời, nhng không phải tất
cả trò chơi đều có thể đa vào lớp học. Trò chơi một khi thâm nhập vào lớp học nhất
thiết phải là một bộ phận nội dung của bài học, phải là một thành phần cấu tạo nên
tiết học, phải góp phần vào việc hình thành kiến thức cơ bản hoặc rèn luyện kĩ năng
cơ bản của tiết học . Nội dung của trò chơi phải là một phần của tiết học. Cho nên lí tởng nhất là biến các bài tập trong SGK thành trò chơi.
+ Trò chơi đợc sử dụng vào lúc nào ?
Trò chơi có thể đợc sử dụng ở bất kì bớc lên lớp nào. Có thể sử dụng kiểm
tra đầu giờ, có thể sử dụng để hình thành bài học hoặc để củng cố bài học . Có
nghĩa là nó có thể xuất hiện ở bất kì thời điểm nào trong suốt quá trình dạy học tuỳ
thuộc vào nội dung và cách thức tổ chức giờ dạy của giáo viên.
+ Tổ chức chơi trong giờ học nh thế nào ?
Theo tác giả : Cho các em vui chơi trong giờ học là để các em học, cho nên
không thể chỉ có chơi cho vui. Sau cái vui đó, phải là bài học, phải nhận thức đợc
bài học thể hiện trong trò chơi .Vì vậy tổ chức đa trò chơi vào lớp học nhất thiết cần
Các tác giả nhấn mạnh : Những trò chơi đa vào sách thờng dựa vào nội dung
cụ thể của từng phân môn. Khi vận dụng để tổ chức cho học sinh chơi mà học, giáo
viên có thể thay đổi ngữ liệu hoặc điều chỉnh mức độ, yêu cầu trò chơi cho phù hợp
điều kiện cụ thể, không nên áp dụng một cách máy móc các trò chơi này.
Tóm lại: Khi xây dựng trò chơi sử dụng trong quá trình dạy học môn tiếng
Việt ở các lớp 1,2,3, các tác giả đều dựa vào nội dung SGK và từng bài học cụ thể.
Nh thế có thể thấy nội dung bài học đợc các nhà nghiên cứu cho là yếu tố quyết định
trong việc lựa chọn và xây dựng trò chơi học tập.
Mặt khác trong các tài liệu đều đánh giá cao vai trò của TCHT nhằm kích
thích hứng thú học tập của học sinh tiểu học: Thông qua TCHT, học sinh đợc phát
triển cả thể lực, trí tuệ lẫn nhân cách từ đó giúp cho việc học Tiếng Việt nhẹ nhàng
hiệu quả.
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Các tác giả chỉ đa ra những trò chơi cho từng tiết học, từng bài học cụ thể điều
này vừa có tác dụng tốt khi sử dụng trò chơi là đỡ tốn thời giam tìm hiểu, xây dựng
cho giáo viên. Tuy nhiên nó cũng có tác dụng ngợc lại là làm cho giáo viên sử dụng
máy móc, thụ động nếu họ không thực sự sáng tạo và linh hoạt.
Lí luận chung về TCHT và TCHT Tiếng Việt là đề tài cha có nhiều công trình
nghiên cứu, một số tài liệu có đề cập đến vấn đề này lại không đầy đủ rõ ràng mà chỉ
nêu chung chung (nếu không nói là manh mún), hoặc những vấn đề lí luận liên quan
trực tiếp đến vấn đề mà họ quan tâm.
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi xin mạnh dạn đa ra những lí luận cơ bản
nhất về trò chơi và TCHT sử dụng trong dạy học môn tiếng Việt nói chung và quá
hấp dẫn và không còn ý nghĩa.
2)- Trò chơi đợc giới hạn bởi không gian và thời gian. Đặc trng này sẽ quy
định quy mô, điều kiện, vật chất và số lợng ngời chơi cho phù hợp.
3)- Trò chơi là một hoạt động bất định. Đây là một đặc trng tạo nên sức hấp
dẫn, sức hút. Bởi vì không ai dám khẳng định diễn biến và kết quả cuối cùng của trò chơi.
4)- Trò chơi là một hoạt động có quy tắc. Dù đơn giản đến bao nhiêu cũng
phải có quy tắc nhất định và vì vậy tạo nên không khí bình đẳng giữa những ngời
tham gia chơi.
5)- Trò chơi là một hoạt động giả định, là tổng hợp của những hành vi không
bình thờng, nhng ai cũng có thể thực hiện đợc nếu cố gắng hơn, kiên trì hơn, dũng
cảm hơn mức bình thờng một chút.
1.2.1.3.Trò chơi học tập:
a) Khái niệm:
Là một loại trò chơi có luật, nó có tác động trực tiếp đến việc củng cố kiến
thức và phát triển qúa trình nhận thức cho trẻ. Thông qua trò chơi nhiệm vụ giáo dục
trí tuệ đợc trẻ giải quyết: Phát triển ngôn ngữ, phát triển nhân cách, rèn luyện kĩ năng
kĩ xảo, nâng cao tính độc lập sáng tạo và tính tích cực hoạt động nhận thức của trẻ.
Có ý kiến khác cho rằng: Trò chơi học tập là một loại trò chơi đặc biệt có
những yếu tố khác với trò chơi thông thờng mà các nhà s phạm sử dụng trong dạy
học nhằm đạt những kết quả cao nhất trong việc nhận thức của học sinh, củng cố kĩ
năng, củng cố tri thức.
b) Luật chơi của trò chơi học tập:
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Những em nào giải đợc bài tập thì thắng cuộc, những em nào không giải đợc thì thua
cuộc. Kết quả kiểm tra cho thấy rằng trong các giờ học không có trò chơi đó chỉ có
đợc 20% câu trả lời đúng, còn trong giờ học có trò chơi đó số câu trả lời đúng đã đạt
88%.
+ N.X.Lukin nhận xét rằng: ý nghĩa của trò chơi có chủ đề đối với trẻ em cấp
1 là ở chỗ trò chơi này là phơng tiện để nhận thức hiện thực, để xây dựng tập thể, để
giáo dục tính ham hiểu biết và hình thành các phẩm chất ý chí cá nhân.
Trên tinh thần đó học mà chơi, chơi mà học là một quan điểm dúng đắn
trong quá trình hớng dẫn và tổ chức chơi cho các em. Trò chơi học tập vừa chú trọng
mục đích giải trí nhng quan trọng hơn là phát triển t duy cho học sinh.
1.2.3. Trò chơi học tập Tiếng Việt.
1.2.3.1 Sử dụng TCHT trong dạy học Tiếng Việt
* Theo tiến sĩ Lê Phơng Nga: Kết hợp sử dụng các hình thức trò chơi về Tiếng
Việt làm phơng tiện hỗ trợ cho việc phát triển Tiếng Việt cho học sinh. Có thể nêu
một vài hình thức: Trò chơi đó chữ, truyền tin, thi viết chữ đẹp, thi viết đúng các từ
ngữ có vần khó, thi kể chuyện
Đối với học sinh lớp 2,3 việc sử dụng các hình thức trò chơi khá thích hợp với
đặc điểm tâm sinh lí của các em, đòng thời giúp các em bộc lộ và rèn luyện một
cách tự nhiên các kĩ năng nghe, nói. Một số bài tập trong vở bài tập Tiếng Việt, ngời
biên soan đã chú ý kết hợp với một vài hình thức trò chơi. Vì vậy, giáo viên cần tìm
cách phát huy trong tiết dạy của mình, tạo cho học sinh sự hấp dẫn và thoại mái.
*Thông qua các hoạt động trò chơi học sinh đợc củng cố về môn Tiếng Việt
(bao gồm: Ngữ âm , chữ viết, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và văn bản). Tạo điều kiện
chơi chỉ cho phép một ngời thực hiện một số lần nhất định. Nhóm nào cũng có số
lần thực hiện thao tác nh nhau nhng nhóm nào nhanh hơn, nhiều hơn nhóm đó sẽ
thắng. Có thể gọi hình thức này là Trò chơi tiếp sức.
2)- Cá nhân thực hiện trên phiếu rời có ghi sẵn đề bài, hoặc thực hiện trên tờ
giấy rời có đề bài ghi trên bảng phụ. Sau đó dán tờ giấy hoặc phiếu kết quả trên bảng
lớp để giáo viên chấm.. Hình thức này thờng phải giới hạn số lợng bài dán trên bảng
lớp không thể quá 8. Có nghĩa là không chỉ đòi hỏi ngời chơi trả lời đúng mà còn
phải nhanh để lọt đợc vào số danh sách 8 ngời kia. Có thể gọi hình thức này là Trò
chơi tăng tốc.
3)- Cá nhân thực hiện trên tờ giấy, hoặc phiếu rời, nhóm chọn ra một phiếu
dán trên bảng, còn các phiếu khác nạp cho giáo viên. Giáo viên kiểm tra phiếu để
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
biết có hoàn thành công việc hay không, còn giáo viên chấm phiếu trên bảng và cho
điểm cả dộ chính xác và độ nhanh nhẹn. Nh vậy các nhóm sẽ đợc tính theo 3 mặt :
Điểm đồng đội (số phiếu hoàn thành), điểm chính xác (bài đại diện) và điểm nhanh
nhẹn (thứ tự trên bảng). Có thể gọi hình thức này là Trò chơi đồng đội
Đối với TCHT để tăng thêm hứng thú khi chơi chúng ta có thể đa thêm vào trở
ngại khi thực hiện các thao tác giải bài tập. Phổ biến và dễ thực hiện là có các trở
ngại trên đờng đi: Từ chỗ đứng sát ngay bảng lớp đến mức độ khó hơn là đứng ở cuối
lớp, không để từng ngời lên thực hiện trên bảng nữa mà cứ từng cặp 2 bạn một dắt
nhau lên bảng
Chọn hình thức chơi nh thế nào là lệ thuộc vào nội dung trò chơi nhng phần
quan trọng hơn là lệ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng tiết, từng đối tợng (khả năng
giáo dục các em ý thực kỉ luật. Đồng thời trò chơi còn giúp các em hoàn thiện các kĩ
năng ứng dụng học vấn vào cuộc sống hàng ngày.
Tóm lại: Chúng ta coi trọng vai trò tích cực của TCHT nhng không vì thế mà
lạm dụng khi đa trò chơi vào quá trình dạy học, không nên biến cả tiết học thành tiết
chơi. Hiệu quả của quá trình đa trò chơi vào lớp học còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
và bản thân khả năng ngời hớng dẫn tổ chức
Không nên dừng lại ở mức độ giải trí đơn thuần mà các nhà s phạm phải xem
trò chơi nh là một phơng tiện giáo dục hiệu quả nhất, dễ tiếp thu nhất, góp phần quan
trọng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trờng Tiểu học nói chung và mục
tiêu dạy học môn Tiếng Việt nói riêng.
1.4. Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học.
1.4.1 Đặc điểm sinh lí:
Trẻ em Tiểu học có những đặc điểm về cơ thể mà nhà s phạm cần phải chiếu
cố đến trong công tác s phạm:
- Học sinh đầu cấp I chóng mệt khi làm các động tác nhỏ bằng ngón tay vì các
đốt xơng cổ tay cha hoàn toàn cốt hoá, ít nhất đến 12 tuổi quá trình cốt hoá mới hoàn
thành.
- Hệ cơ và tim mạch của trẻ phát triển cha đầy đủ vì vậy mức độ vận động cho
trẻ là phải phù hợp, không căng thẳng quá mức.
- Não của trẻ đạt xấp xỉ 90% trọng lợng não của ngời lớn ( 7 tuổi đạt 1280g, 9
tuổi 1350g ). Hệ thống tín hiệu thứ I phát triển .
1.4.2. Đặc điểm tâm lí
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Tình cảm: Đặc trng cơ bản trong đời sống tình cảm của các em là dễ xúc
động, sống nhờ bằng xúc cảm, tình cảm. Tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực
quan và giàu cảm xúc.
Những đặc điểm tâm sinh lý của các em cha hoàn thiện, cha ổn định và cha
bền vững, nên các nhà s phạm không nên vội vàng, áp đặt những cách của ngời lớn
mà cần phải bằng công tác giáo dục có hệ thống của mình: Nh đa các em vào tập thể
khuyến khích động viên các em và kích thích tính nhận thức của các bằng các hình
thức giáo dục nhẹ nhàng, hấp dẫn.
1.5. Kết luận:
1.5.1. Trò chơi là một phơng pháp đợc áp dụng trong quá trình dạy học nhằm
làm cho quá trình dạy học thêm sinh động và hiệu quả.
Sử dụng TCHT làm cho không khí lớp học trở nên sôi động (vui trong lúc
học), khi vui trẻ sẽ cảm thấy kiến thức đỡ khô khan, dễ tiếp nhận hơn (nhờ đó nó có
tác dụng học trong lúc vui chơi). Trò chơi không đòi hỏi một năng lực siêu cao mà
nhẹ nhàng phù hộp với sở thích và mang tính vừa sức với các em.
1.5.2. Sử dụng TCHT trong dạy học nói chung, trong quá trình dạy học Tiếng
Việt lớp 1,2,3 nói riêng là rất cần thiết. Nó vừa là nội dung giáo dục, vừa là phơng
thức đồng thời cũng là phơng tiện giáo dục rất phù hợp với tâm sinh lí của học sinh
tiểu học. TCHT phát triển cho học sinh tiểu học một cách toàn diện về nhân cách, kĩ
năng, kĩ xảo, nó còn có tác dụng kích thích quá trình nhận thức và tiếp nhận tri thức
Tiếng Việt của học sinh. Góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam mới từ
lứa tuổi tiểu học.
1.5.3. Tuy nhiên để phát huy hết đợc vai trò tác dụng của trò chơi, giáo viên
cần có quá trình tìm hiểu và nắm rõ cách thức đa trò chơi vào lớp học. Để từ đó lựa
Số phiếu
76
4
0
Tỉ lệ (%)
95,0
5
0
Bảng 2: Tác dụng của trò chơi trong dạy học.
TT
1
2
3
4
Tác dụng của trò chơi
Tích cực
Bình thờng
Không tác dụng
Tiêu cực
Số phiếu
78
1
1
0
Tỉ lệ %
viên thờng xuyên sử dụng trò chơi trong dạy học Tiếng Việt ( 53,75% ), vẫn còn
nhiều giáo viên chỉ thỉnh thoảng mới đa trò chơi vào lớp học (46,52 ). Không có giáo
viên lựa chọn phơng án không bao giờ.
2.4.2 Mục đích và hình thức tổ chức trò chơi
Bảng 4: Mục đích sử dụng trò chơi.
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
TT
Mục đích sử dụng trò chơi
Tần suất
Tỉ lệ %
1
Mở rộng - khắc sâu tri thức
68
24,82
2
Củng cố bài học
78
28,47
3
Giải quyết một bài tập nào đó
66
24,09
4
60,23
Giáo viên khi tổ chức trò chơi đều cố gắng để cả lớp cùng tham gia (17,05%),
tuy nhiên không vì thế mà quên đi hoạt động theo nhóm (22,72%). Nhng hình thức
tổ chức đợc giáo viên coi trọng nhất là phối hợp tất cả các hình thức trên (60,23%).
2.4.3. Xây dựng, tổ chức và sử dụng trò chơi.
Bảng 6: Nguồn gốc trò chơi mà giáo viên sử dụng
TT
1
2
3
Nguồn gốc
Tự thiết kế
Có sẵn trong sách giáo viên
Su tầm thêm
Tần suất
80
72
74
Tỉ lệ(%)
35,40
31,86
32,74
Có 87,8% giáo viên sử dụng trò chơi từ cả 3 nguồn trên. Mặt khác trò chơi do
giáo viên tự thiết kế ( 35,40% ) thì trong quá trình sử dụng và tổ chức sẽ chủ động
hơn, dễ dàng hơn.
11
0
2,5
12,8
0,0
Theo giáo viên: Khâu lựa chọn trò chơi là khó khăn nhất (84,7%) lí do mà họ
đa ra là vì lựa chọn trò chơi phải phù hợp nội dung, điều kiện cụ thể là hết sức quan
trọng và ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng. Điều này cũng chứng tỏ giáo viên rất tự tin
khi tổ chức trò chơi ( các giai đoạn khác của quá trình tổ chức trò chơi không gây
khó khăn đối với họ ).
Bảng 8: Sử dụng trò chơi trong những phân môn Tiếng Việt
TT
1
2
3
4
5
6
7
Phân môn
Luyện từ và câu
Tập đọc
Tập viết
Chính tả
Kể chuyện
Tập làm văn
Học vần
Thời điểm
Đầu giờ
Giữa giờ
Cuối giờ
Bất cứ lúc nào tuỳ nội dung
Tần suất
0
2
19
61
Tỉ lệ(%)
0,0
2,44
23,17
74,39
Phần lớn giáo viên cho rằng thời điểm sử dụng trò chơi là tuỳ nội dung bài học
(74,39%). Một số giáo viên lựa chọn thời điểm sử dụng trò chơi hiệu quả nhất là ở
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
cuối tiết học (23,17%). Lí do mà họ đa ra là lúc này cần trò chơi để vừa thay đổi
TCHT không phải do nội dung quy định, mà trò chơi đa vào lớp học chỉ là phần phụ
không ăn nhập với bài học.
Nh vậy có thể khẳng định hầu hết giáo viên đều coi nội dung dạy học là cơ sở
để lựa chọn và sử dụng trò chơi.
2.5. Kết luận về thực trạng sử dụng trò chơi của giáo viên
Đa TCHT vào quá trình dạy học môn Tiếng Việt là việc làm phù hợp với thực
tế khách quan, đồng thời góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lợng dạy học
môn Tiếng Việt.
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy: Đa giáo viên đã nhận thức đúng đắn vai trò
và tầm quan trọng của TCHT trong dạy học môn Tiếng Việt. Tuy nhiên, họ còn lúng
túng trong lựa chọn, sắp xếp và sử dụng trò chơi. Vì vậy, vấn đề trang bị kiến thức
khoa học về lựa chọn, sắp xếp và sử dụng trò chơi là việc làm cấp bách.
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Chơng hai
Sử dụng trò chơi học tập
trong môn Tiếng việt ở các lớp 1, 2, 3.
Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt hầu hết giáo viên còn bế tắc khi lựa
chọn, sắp xếp và hớng dẫn trò chơi. Vì thế chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất cách lựa
chọn, sắp xếp và hớng dẫn sử dụng một số trò chơi trong quá trình dạy học môn
Tiếng Việt ở các lớp 1, 2, 3.
1. Yêu cầu đối với việc sử dụng và tổ chức trò chơi học tập
kiểm tra đánh giá cuộc chơi một cách công bằng, chính xác theo đúng luật đã nêu.
Muốn thế:
- Lệnh đa ra phải gọn, rõ về nội dung; dứt khoát về lời nói.
- Nhận xét phải kịp thời, công khai. Phải có bảng theo dõi các đội khi chơi, bảng
này cần ghi ngay trên một góc bảng của lớp để cả lớp đều biết..
- Trò chơi phải hấp dẫn: Nếu trò chơi không hấp dẫn mới lạ thì sẽ phản tác dụng.
- Trò chơi không quá dễ cũng không nên quá khó mà học sinh chán nản hoặc
không hào hứng tham gia chơi.
c) Trò chơi phải đợc tổ chức một cách hợp lí và trở thành một bộ phận của quá
trình tổ chức giờ học. Nghĩa là tổ chức giờ học có trò chơi nhất thiết phải đi đôi với
Hoàng Mạnh Hà
79
Lớp: 43A1 Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
việc thay đổi phơng pháp dạy và học, có nh vậy thì việc tổ chức trò chơi mới phát
huy hết đợc tính năng của nó. Không chỉ dừng ở bớc củng cố bài học, mà hãy nghĩ
đến việc tổ chức TCHT ngay trong bớc kiểm tra bài cũ, và cả trong bớc quan trọng
nhất hình thành kiến thức kĩ năng mới.
2. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi học tập.
2.1. Hiểu học sinh.
a) Muốn tổ chức đợc trò chơi trớc hết giáo viên phải hiểu đợc học sinh. Tức là
hiểu đối tợng của mình là ai? Học sinh tiểu học có những đặc điểm tâm - sinh lí
khác biệt so với các lứa tuổi khác, đó chính là những đặc điểm mà nhà s phạm phải
tính đến trong quá trình dạy học.
b) Từ những đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ em, giáo viên dựa vào nội dung bài