1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1. Về lý luận:
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu
rõ: "Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc
đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng,
Nhà nước và nhân dân. Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng
thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính sách của Đảng. Mọi đường
lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại
đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà có trách nhiệm tham gia
hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước".
Chúng ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ đảng
viên và công chức phải thật sự là công bộc của nhân dân, đặt mình dưới sự kiểm
tra, giám sát của nhân dân.
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần xây dựng cơ
chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc "Tất cả quyền lực nhà nước
đều thuộc về nhân dân".
Dân chủ là bản chất của chế độ ta, Hiến pháp nước ta năm 1946 đã khẳng
định: "Nước Việt Nam là nước dân chủ cộng hoà, tất cả quyền hành trong nước
là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu
nghèo, giai cấp, tôn giáo".
Để thực hiện tốt dân chủ, tại Đại hội X của Đảng đã khẳng định: "Thực
hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò của cơ quan dân cử, của Mặt
trận Tổ quốc, của các tổ chức chính trị xã hội và của nhân dân trong việc giám
sát cán bộ, công chức và cơ quan công quyền, phát hiện, đấu tranh với các hành
vi tham nhũng, lãng phí".
3
được hòa giải, giải quyết ổn thỏa từ cơ sở, đã góp phần củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân, tạo không khí chan hòa, cởi mở trong cộng đồng, góp phần quan
trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội.
- Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở cũng đã góp phần tác
động tích cực tới việc củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng chính trị ở cơ sở,
xây dựng chỉnh đốn Đảng và thúc đẩy việc đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng, củng cố, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy cải cách
thủ tục hành chính, cải tiến sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền, làm
chuyển biến tác phong công tác của cán bộ, đảng viên, công chức, đổi mới
phương thức, nội dung hoạt động của hệ thống chính trị theo hướng: "Trọng
dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", là biện pháp quan
trọng để khắc phục quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Tuy nhiên, so với yêu cầu Chỉ thị 30 của Bộ chính trị thì những kết quả
trong việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ vẫn chưa đồng đều và vững
chắc, ví như Thái Bình, Đồng Nai, gần đây là vụ PMU 18 của Bộ giao thông vận
tải... Không ít cấp ủy Đảng, tổ chức, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân chưa nắm vững tinh thần chỉ thị của Đảng và các nghị định của Nhà nước về
vấn đề này. Nhiều nơi quy chế xây dựng còn rập khuôn, máy móc, chưa phù hợp
với thực tế. Nhiều nơi còn tình trạng khoán trắng việc xây dựng và thực hiện
quy chế dân chủ cho ban chỉ đạo, không kiểm tra thường xuyên để có chủ
trương và giải pháp đồng bộ, thiết thực nên việc thực hiện còn mang nặng tính
hình thức. Tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn nhiều, có
khi nghiêm trọng. Những biểu hiện quan liêu, tham nhũng tiêu cực không được
phát hiện và đấu tranh ngăn chặn, khắc phục kịp thời, làm giảm lòng tin, gây bất
bình trong nhân dân, dẫn đến khiếu kiện kéo dài và vượt cấp.
Để cụ thể hóa Chỉ thị 30 của Bộ chính trị, Nghị định 71 của Chính phủ,
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số 04 ngày 1 tháng 3 năm 2000 về
nghiên cứu vấn đề này.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu (Test)
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát.
7.3. Phương pháp thống kê:
8. KẾT CẤU LUẬN VĂN:
Luận văn có 3 phần:
7
+ Phần mở đầu: (Bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, đối
tượng và khách thể nghiên cứu, giả thiết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu,
phương pháp nghiên cứu và kết cấu luận văn).
+ Phần 2- Nội dung:
Nội dung có 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
- Chương II: Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ trong các trường
học nói chung, trường tiểu học nói riêng trên thành phố Vinh.
- Chương III: Giải pháp tổ chức thực hiện tốt quy chế dân chủ trong
trường tiểu học ở thành phố Vinh.
+ Phần 3: Kết luận và khuyến nghị.
8
Chương I - NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ VÀ THỰC
HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG HỌC
1.1. KHÁI QUÁT VỀ DÂN CHỦ TRONG CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ
HỘI LOÀI NGƯỜI.
vật chất cho xã hội nhưng chính họ là người bị áp bức và bóc lột nhiều nhất. "Có
áp bức thì có đấu tranh". Thời kỳ này đã xảy ra nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình,
bãi công nổ ra.
Cách mạng Tháng 10 Nga đã mở ra trang sử mới của nhân loại. Nhiều
nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Ở những nước này, nền dân chủ tư sản đã được
thay thế bằng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mặc dù trong quá trình xây dựng và
phát triển còn vấp phải những tồn tại và sai lầm nhất định nhưng về cơ bản
người dân có quyền quyết định vận mệnh của đất nước. Họ được phát huy quyền
làm chủ trên các hoạt động kinh tế, văn hoá, chính trị xã hội. Các quyền công
dân và quyền con người không chỉ được đảm bảo về mặt pháp lý mà cả trên thực
tế, nó phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và những tinh hoa văn
hoá của nhân loại, nó thể hiện và thực hiện những lợi ích chính đáng của mỗi
thành viên trong xã hội.
1.1.2. Bản chất xã hội của dân chủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam:
Lịch sử dân tộc Việt Nam qua mấy ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ
nước luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn, đó là sức mạnh
to lớn, sức mạnh làm nên lịch sử của nhân dân. Ngay từ rất xa xưa, ông cha ta đã
quan quan niệm "Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ, đó là thượng
sách giữ nước", "Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân". Trong nhân
dân có nhiều câu như: "Quan nhất thời, dân vạn đại", "Miệng dân, sóng bể".
Nguyễn Trãi luôn đề cao việc lấy dân làm gốc: "Việc nhân nghĩa cốt ở an dân".
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, kế thừa và phát
triển những tinh hoa của Triết học phương Đông, phương Tây, cũng như những
tư tưởng tiến bộ của ông cha về nhân dân đưa ra những quan điểm về dân rất
độc đáo.
10
"Nước lấy dân làm gốc...
Gốc có vững cây mới bền
12
- Dân chủ đại diện: là nhân dân thông qua các đại biểu của mình, đoàn thể
của mình và các phương tiện khác để bày tỏ chứng kiến, để quyết định những
vấn đề chung của cộng đồng xã hội. Dân chủ đại diện dễ tổ chức thực hiện, dễ
tập trung thống nhất, nhưng lại khó bao quát hết thực tiễn cuộc sống cũng như ý
chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Mặc dù dân chủ trực tiếp hay dân
chủ đại diện thì cũng đều phản ánh nguyện vọng, ý chí quyền lực của nhân dân.
Những hình thức dân chủ ấy được thể chế bằng luật pháp Nhà nước và được
thực thi bằng cả hệ thống chính trị.
b- Dân chủ trong giáo dục và đào tạo cũng được thể hiện qua: "Cuộc vận
động dân chủ hóa nhà trường" (Chỉ thị số 21/CT-LT ngày 4/10/1989) với hai nội
dung cơ bản là dân chủ hóa quá trình đào tạo và dân chủ hóa quản lý nhà trường.
Dân chủ hóa quá trình đào tạo nghĩa là dân chủ hóa các thành tố của quá
trình đào tạo như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức…
Trong đó dân chủ hóa quan hệ giữa hai thành tố thầy và trò là trung tâm, là hạt
nhân của quá trình dân chủ hóa quá trình đào tạo. Đó là quyền được học, được
nâng cao những tri thức và phẩm chất đạo đức. Vì vậy ta có thể hiểu dân chủ
trong giáo dục thì Nhà nước phải thể chế hóa quyền dân chủ về giáo dục thành
các quyền cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam như các quyền học tập,
quyền nghiên cứu khoa học, quyền phát minh sáng chế…(Điều 35,59, Hiến pháp
1992), không những người dân được học mà còn được tạo điều kiện để nâng cao
trình độ, năng lực nghiên cứu khoa học, tham gia các lĩnh vực quản lý giáo dục,
quản lý xã hội.
Dân chủ hóa trong quản lý nhà trường nói chung là tạo môi trường dân
chủ để tất cả mọi người đều có quyền tham gia quản lý và giải quyết các công
việc của nhà trường với phạm vi và đối tượng cụ thể. Dân chủ hoá quản lý nhà
trường gắn liền với việc tăng cường quyền tự chủ của nhà trường, tranh thủ các
lực lượng xã hội vào tổ chức và quản lý công việc nhà trường, tôn trọng quyền
học tập của mỗi người dân để từng bước xây dựng xã hội học tập.
Ngày 18/2/1998, Bộ chính trị đã ra chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng, thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở: "Giữ vững và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà
14
nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham
nhũng". Chỉ thị 30 chỉ rõ: "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy
quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương
chính sách của Đảng, của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất".
Quy chế dân chủ ở cơ sở ra đời là đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện
dân chủ ở nước ta, quy chế dân chủ thể hiện cái nhìn nhiều hướng từ cơ sở; coi
trọng cái gốc cơ sở nên nó mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài. Lần đầu tiên
những định hướng chính trị về dân chủ, phương châm "Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra" đã được cụ thể hoá bằng văn bản pháp luật có tính quy phạm.
Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả
nhất những điều Luật giáo dục quy định theo phương châm "Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hình
thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ
chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự
nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm chủ và huy
động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ,
công chức trong nhà trường theo luật định, góp phần xây dựng nề nếp, trật tự, kỷ
cương trong mọi hoạt động của nhà trường; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực
và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối
chủ trương của Đảng và luật pháp Nhà nước. Đặc biệt trong thời gian này, Bộ
giáo dục và Đào tạo đang triển khai cuộc vận động: "Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục".
quy chế dân chủ ở cơ sở đã quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau:
- "Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế
tổng thể của hệ thống chính trị "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm
chủ". Coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn mạnh một mặt mà coi nhẹ, hạ
thấp các mặt khác.
Nội dung các quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở phải phù hợp với hiến
pháp và pháp luật, thể hiện tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền
17
hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ: chống quan liêu, mệnh
lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp
luật.
- Gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác cải
cách hành chính sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính không
phù hợp.
1.1.3.2. Những căn cứ về pháp lý:
a- Hiến pháp của nước Việt Nam qua các thời kỳ:
Từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nay, do yêu cầu,
điều kiện lịch sử cụ thể của từng thời kỳ cần có sự điều chỉnh, bổ sung, chúng ta
đã có 4 bản Hiến pháp.
- Hiến pháp năm 1946: Điều 1,3,6,7,10 đã khẳng định nhiệm vụ dân tộc ta
là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập và kiến thiết quốc gia trên nền tảng đảm bảo
các quyền tự do dân chủ.
- Hiến pháp năm 1959: Tại điều 4 đã khẳng định: "Tất cả quyền lực trong
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng
quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân
dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp và các cơ quan nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân
chủ".
Điều 5: Những việc Hiệu trưởng phải lấy ý kiến tham gia đóng góp xây
dựng của cá nhân hoặc các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường trước khi quyết
định:
1- Kế hoạch phát triển, tuyển sinh, dạy học, nghiên cứu khoa học và các
hoạt động khác của nhà trường trong năm học.
2- Quy trình quản lý đào tạo, những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ của
các tổ chức bộ máy trong nhà trường.
3- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của nhà giáo, cán bộ, công chức.
4- Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, các hoạt động dịch
vụ, sản xuất của nhà trường.
5- Các biện pháp tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng hàng năm, lề lối
làm việc, xây dựng nội quy, quy chế trong nhà trường.
21
6- Các báo cáo sơ kết, tổng kết theo định kỳ trong năm học.
b- Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" được thể
hiện qua những việc người họ được biết và tham gia ý kiến cũng như qua trách
nhiệm của nhà giáo, cán bộ, công chức.
Điều 6: Nhà giáo, cán bộ, công chức trong nhà trường có trách nhiệm:
1- Thực hiện các nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định của Luật giáo dục.
2- Tham gia đóng góp ý kiến về những nội dung quyết định tại điều 5 Quy
chế này.
3- Kiên quyết đấu tranh chống những hiện tượng bè phái, mất đoàn kết,
cửa quyền, quan liêu và những hoạt động khác vi phạm dân chủ, kỷ cương, nề
nếp của nhà trường.
4- Thực hiện đúng những quy định trong pháp lệnh cán bộ công chức.
Pháp lệnh chống tham nhũng, pháp lệnh thực hành tiết kiệm.
5- Gìn giữ phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, cán bộ, công chức,
1- Nội quy, quy định của nhà trường có liên quan đến người học.
2- Tổ chức phong trào thi đua và các hoạt động khác trong nhà trường có
liên quan đến người học.
c- Trách nhiệm của nhà trường trong việc thực hiện quy chế dân chủ.
Điều 10: Trách nhiệm của nhà trường mầm non, phổ thông:
Hiệu trưởng thực hiện hoặc phân công cho cấp dưới thực hiện những việc
sau đây:
1- Phổ biến ngay từ đầu năm học kế hoạch năm học và những nội dung
liên quan trách nhiệm người học, nhà giáo, cán bộ, công chức trong nhà trường.
2- Thông báo công khai những quy định về tuyển sinh, nội quy, quy chế
học tập, kết quả thi, tiêu chuẩn đánh giá xếp loại, khen thưởng, kỷ luật.
3- Định kỳ ít nhất trong một năm học có 3 lần (đầu năm học, giữa năm
học, cuối năm học) tổ chức hội nghị các bậc cha mẹ, sự phối hợp giữa nhà
trường với gia đình người học, thông báo kết quả học tập, rèn luyện của người
học.
4- Giáo viên chủ nhiệm lớp là người đại diện cho nhà trường tổ chức các
hoạt động thực hiện dân chủ của lớp mình, thường xuyên tiếp thu và tổng hợp ý
23
kiến của người học và các bậc cha mẹ của người học để phản ánh cho hiệu
trưởng.
5- Kịp thời thông báo những chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với
người học, nhà giáo, cán bộ công chức trong nhà trường.
6- Đặt hòm thư góp ý hoặc các hình thức góp ý khác để cá nhân, tổ chức,
đoàn thể trong nhà trường thuận lợi trong việc đóng góp ý kiến.
7- Giải quyết các ý kiến và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo luật
định.
d- Trách nhiệm của các đơn vị, các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường về
việc thực hiện quy chế dân chủ.
đóng góp của cha mẹ học sinh để cùng nhà trường giải quyết các vấn đề sau:
1.1- Nội dung công việc có liên quan đến sự phối hợp giũa nhà trường,
gia đình để giải quyết những việc liên quan đến học sinh.
1.2- Vận động các bậc cha, mẹ học sinh thực hiện các chủ trương, chính
sách mà học sinh được hưởng hoặc nghĩa vụ phải đóng góp.
1.3- Vận động các bậc cha, mẹ thực hiện các hoạt động xã hội hoá giáo
dục ở địa phương.
2- Cha me hoặc người giám hộ của học sinh có thể phản ánh, trao đổi, góp
ý kiến trực tiếp với nhà trường, với giáo viên hoặc thông qua ban đại diện cha
mẹ học sinh về những vấn đề liên quan đến công tác giáo dục trong nhà trường.
1.1.3.4. Mối quan hệ biện chứng giữa thực hiện quy chế dân chủ với
công tác quản lý giáo dục.
a- Khái niệm về quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công
tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng
tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều
hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
25
Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ
chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ
thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá
đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu
cầu của nhân dân, của đất nước.
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau để đến với tất cả các khâu của hệ thống
nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo