1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ KIM OANH
TRUYỆN KỂ GENJI
NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Nguyễn Văn Hạnh
Nghệ An, năm 2012
2
Môc lôc
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1
2
5
kể Genji
2.1. Hình tượng nhân vật
7
7
7
9
17
19
23
24
27
30
33
33
35
36
40
40
2.1.1. Hệ thống nhân vật trong Truyện kể Genji
40
2.1.2. Vẻ đẹp của ngoại hình nhân vật nhìn từ văn hoá Nhật
44
2.1.2.1. Vẻ đẹp mong manh
văn hoá Nhật
2.2.1. Hình tượng không gian
Chương 3:
75
75
2.2.1.1. Không gian văn hóa cung đình
75
2.2.1.2. Không gian thiên nhiên
78
2.2.1.3. Không gian tâm tưởng
82
84
84
86
90
92
2.2.2. Hình tượng thời gian
2.2.2.1. Thời gian sự kiện
2.2.2.2. Thời gian mùa
2.2.2.3. Thời gian tâm trạng
2.2.2.4. Thời gian bi cảm
3.3.2. Dấu vết của Truyện kể Genji trong tiểu thuyết Y. Kawabata
118
118
121
KẾT LUẬN
134
TÀI LIỆU THAM KHẢO
137
PHỤ LỤC
144
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
4
1.1. Murasaki Shikibu (978?-1016?) là một nữ văn sĩ tài hoa của nền văn
học Nhật Bản. Bà là một cây bút xuất sắc trong dòng văn chương nữ lưu thời
Heian, một thời đại thịnh trị kéo dài gần bốn thế kỷ (794-1185), chứng kiến sự
thành công của các nhà văn, nhà thơ nữ mà phần lớn trong họ thuộc tầng lớp
thượng lưu và trung lưu cung đình. Tiểu thuyết Truyện kể Genji (Genji
monogatari) được đánh giá là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của văn học Phù Tang,
diễn Yoshimura Kozaburo thực hiện, năm 1966 (đạo diễn Ichikawa Kon thực
hiện); năm 1987 đạo diễn Sugii Gisaburo cung đã làm một bộ phim hoạt hình
dựa trên 12 chương đầu của tác phẩm. Và gần đây nhất, tác phẩm lại một lần
nữa được đạo diễn Yasuo Tsuruhashi chuyển thể thành phim với tựa đề Tale of
Genji: A Thousand Year Engima (Genji nghìn năm đam mê). Điều đó cho thấy
sự ảnh hưởng và sức lan tỏa của Truyện Genji đối với đời sống tinh thần người
Nhật nói riêng và văn hóa Nhật nói chung là rất lớn. Là một tác phẩm bất hủ
trong văn chương Nhật Bản và trên thế giới, từ lâu Truyện kể Genji (Genji
monogatari) đã trở thành đề tài nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở nguồn
tư liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi điểm lại
một số vấn đề nổi bật.
Việc nghiên cứu Truyện kể Genji trên thế giới nói chung được rất nhiều
người quan tâm. Theo Hoàng Thị Mỹ Nhị (Luận văn Thạc sĩ Văn học,
ĐHQGHN.2008) đã có một số bài viết và công trình nghiên cứu của các học giả,
dịch giả trên thế giới về Truyện kể Genji. Trong đó đáng chú ý là các công trình,
như: A reader’s guide to Japanese Literature (Hướng dẫn độc giả làm quen văn
học Nhật Bản) [62]. Ở công trình này, J.Thomas Rimer đã đánh giá tác phẩm
trên ba khía cạnh cơ bản: tính hiện thực, cảm quan Phật giáo và niềm bi cảm tồn
6
tại trong toàn bộ tác phẩm. Cuốn (A dictionary of Japanese culture”(Từ điển văn
hoá Nhật Bản) [38] của Seisuko Kojima và Gene A.Crane có đưa ra hai vấn đề
chính trong Truyện kể Genji: âm hưởng Phật giáo và mỹ quan thẩm mỹ. William
J. Puett trong cuốn A Guide to the Tale of Genji (Hướng dẫn về tác phẩm Truyện
Genji)[61] đề cập khái niệm aware được hiểu trong nhiều hoàn cảnh, trên nhiều
phương diện và từ nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Trong cuốn 105 key words
for understanding Japan (105 từ khoá để hiểu đất nước Nhật Bản) [73] Kondo
Tomie đã xác định thuật ngữ aware là kết tinh quan niệm thẩm mỹ thời kì Heian.
Murasaki Shikibu (ĐHQGHN.2008) Hoàng Thị Mỹ Nhị đã phân tích, bình luận
tác phẩm, các mối quan hệ trong tác phẩm để làm rõ phạm trù bi cảm, một phạm
trù mỹ học thời Heian của Nhật Bản. Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát và
phân tích cái bi cảm trong số phận của các nhân vật trong cái đẹp vô thường của
cảnh vật thiên nhiên, như bi cảm với thời gian đã mất của các nhân vật, bi cảm
trước sự vô thường của cái đẹp. Từ đó có thể thấy quan niệm về cái đẹp, những
biểu hiện của cái đẹp trong văn học Nhật Bản trung cổ làm nên tính duy cảm,
duy mỹ độc đáo của người Nhật.
Ở bài viết "Nhân tố văn hóa Trung Quốc trong Nguyên thị vật ngữ (truyện
Genji) và ý nghĩa văn học của nó" trên tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn
(Đại học Sư phạm TP.HCM) [85], Phan Thu Vân đã phân tích sự ảnh hưởng của
những nhân tố văn hóa Trung Hoa đến văn hóa Nhật trong Truyện kể Genji.
Đồng thời, tác giả bài báo đã có cài nhìn khá thú vị khi so sánh nếu Genji
monogatari là bức tranh cuộn khổng lồ gói gọn trong lòng nó tất cả ý thức thẩm
mĩ đặc biệt của truyền thống văn hóa Nhật, thì yếu tố văn hóa Trung Hoa hiện
hữu như những chiếc quạt đề thơ không thể thiếu trên tay của bất kỳ nhân vật
8
nam thanh nữ tú nào từng được phác họa trong tác phẩm. Ngoài ra trên một số
trang web site cung đã đề cập trên Truyện Genji, trong đó đáng chú ý là trang
web-site http://www.dongtay.vn [86] có khái quát một số trích dẫn về không gian
văn hóa cung đình Heian trong Truyện kể Genji.
Thực tế trên đây cho thấy, cho đến nay ở nước ta, Truyện kể Genji dù
không còn xa lạ, song chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống. Hầu hết
mới chỉ điểm qua với những ý kiến mang tính cảm nhận bước đầu, có tính gợi
mở.
3. Mục đich và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khám phá những giá
Chương 1
BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRUYỆN KỂ GENJI
10
1.1. Bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội
1.1.1. Khái lược về lịch sử và xã hội thời đại Heian
Thời kỳ Heian (từ "Heian" trong tiếng Nhật có nghĩa là "bình an" hoặc "yên
bình") kế tiếp thời kỳ Nara, là thời kì phân hóa cuối cùng trong lịch sử Nhật Bản
cổ đại, kéo dài từ năm 794 đến 1185. Đồng thời cung được coi là giai đoạn đỉnh
cao của quyền lực Nhật hoàng. Thời kỳ này, sự ảnh hưởng đạo Khổng và các yếu
tố của văn hóa Trung Quốc đã đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật, thơ ca và
văn học Phù Tang.
Năm 781, Thiên hoàng Kamu lên ngôi và dời kinh đô từ Nara về kinh Heian
vào năm 794, mở đầu một thời đại mới kéo dài khoảng 400 năm. Đây là thời kỳ
được xem là một dấu son của văn hóa Nhật Bản với sự phát triển phong phú và
mạnh mẽ ở tất cả các lĩnh vực văn hoá, xã hội. Để củng cố quyền lực và chế độ,
quy tắc tập trung quyền lực cá nhân dưới sự cai quản của Thiên hoàng – một yếu
tố then chốt trong hệ thống chính quyền đế chế ở Trung Quốc đã được Kamu áp
dụng tại Nhật Bản. Khuynh hướng này vẫn tiếp tục dưới thời ba người con trai
của Kamu (Heijo, (806-809), Saga (809-823), Junna (823-833)). Bên cạnh đó,
nổi bật về sức mạnh của nhà vua trong thời gian này là cuộc bình định thành
công giặc Ainu và những người bất đồng ý kiến ở miền biên thùy Đông bắc.
Nếu hồi đầu thời kỳ Heian chứng kiến việc mở mang đất đai, đổi mới hành
chính củng cố quyền lực thì cuối thời kỳ đó, vào thế kỷ IX, đã chứng kiến việc
đột nhiên quyền lực cá nhân của các thiên hoàng bị kiềm chế. Sau cái chết của
Kammu (806) và sự tranh giành quyền kế vị của hai con trai ông, hai cơ quan
mới được thành lập để điều chỉnh lại hệ thống hành chính Taika là "Incho"
củng cố trong các nhóm quân sự trở thành một phần của chế độ gia đình trị.
12
Trong thời kỳ này, các gia đình quân sự lớn ở địa phương tập hợp xung quanh
những quý tộc triều đình nhằm gây dựng thanh thế. Các gia tộc Fujiwara, Taira
và Minamoto nằm trong số những gia tộc nhận được sự ủng hộ lớn nhất của các
giai tầng quân sự mới.
Từ giữa thế kỷ X đến XI, các thành viên của các gia tộc Fujiwara, Taira,
và Minamoto (đều có nguồn gốc hoàng gia) tấn công lẫn nhau, tuyên bố quyền
kiểm soát những dải đất lớn của những vùng đất chiếm được, thiết lập những chế
độ thù địch, đã phá vỡ nền hòa bình của đất nước. Cuối cùng, nhà Fujiwara bị
tiêu diệt, hệ thống triều đình cu bị thay thế, và hệ thống “Insei” không còn quyền
lực vì bushi (võ sỹ) nắm việc triều chính, tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử
Nhật Bản.
1.1.2. Một cái nhìn khái quát về văn hoá Heian
Văn hoá Nhật Bản ngày nay là kết tinh thành quả lao động hàng ngàn năm
của những cư dân trên quần đảo Nhật Bản, đồng thời là sự kết hợp sáng tạo
những giá trị văn hoá bản địa và các giá trị văn hoá ngoại lai. Trước khi có tiếp
xúc văn hoá đầu tiên với Trung Quốc, trên quần đảo này đã tồn tại những cộng
đồng người với những đặc trưng sinh hoạt văn hoá riêng. Sự ảnh hưởng của văn
hoá Trung Quốc, đặc biệt là chữ Hán, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo bắt đầu vào
thế kỷ thứ IV sau công nguyên đã làm thay đổi diện mạo văn hoá Nhật Bản, từ
lối sống trong triều đình Thiên hoàng đến sinh hoạt ngoài dân chúng. Cùng với
thời gian các giá trị văn hoá này đã dần biến đổi, kết hợp với các giá trị văn hoá
bản địa để tồn tại, phát triển và tạo nên những nét đặc trưng của văn hoá Nhật.
1.1.2.1. Tôn giáo
Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản xứ của người Nhật Bản. Đó là một tôn
giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng thời cổ xưa ở Nhật. Người ta
14
qua hai giáo phái lớn này. Thiên Đài tông có nguồn gốc từ Trung Quốc, dựa trên
Diệu pháp liên hoa kinh, một trong những kinh điển quan trọng của Phật giáo
Đại thừa. Người sáng lập ra phái Tendai ở Nhật là hòa thượng Saicho (767-822),
được Thiên hoàng Kamu cử sang Trung Quốc để nghiên cứu, học tập thêm. Ý
niệm của Phật giáo Tendai có thể khái quát là ý niệm về lòng thương yêu và
giúp đỡ; có thái độ nhân ái rộng rãi đối với các hình thức tôn giáo khác, kể cả
những hình thức không phải là Phật giáo; là lòng tin vào mọi sinh linh đều có thể
cứu vớt; là ý niệm về tất cả cuộc sống của vạn vật đồng sinh. Chân Ngôn tông
(Shingon) lại là một giáo phái bản địa sáng lập bởi nhà sư Kukai (774-835) cung
được Kamu cử sang Trung Quốc nghiên cứu về Phật giáo. Kukai tạo được một
ảnh hưởng mạnh mẽ với người kế nhiệm Nhật hoàng Kamu cung như các thế hệ
người Nhật Bản không chỉ bởi tính thiêng liêng, mà còn bởi nghệ thuật viết chữ,
thi ca, hội họa, điêu khắc của Shingon. Ý niệm của Phật giáo Shingon là khẳng
định giá trị của cuộc sống hiện tại (đức Phật vu trụ). Nghĩa là khẳng định ý niệm
khai sáng ngay trong lúc đang sống chứ không phải ở cõi niết bàn. Nếu như
Tendai luôn có thiên hướng về học thức và tình cảm thì Shingon lại nhấn mạnh
về nghệ thuật nên cả hai phái đều được mến mộ trong thời Heian, là tôn giáo của
giai cấp quí tộc cung như chính quyền và được coi là những thế lực bảo vệ triều
đình và đất nước.
Trong thời kỳ Nara, triều đình rất chú trọng học tập văn hóa Trung Hoa
nên thường xuyên cử các đoàn Khiển Đường sứ sang lưu học ở Trung Quốc.
Trong khoảng gần 200 năm từ thời Nara đến đầu thời Heian, khi tạm bãi bỏ
Khiển Đường sứ (năm 894)- có đến 18 đoàn được cử sang chính thức. Do vậy,
về phương diện tư tưởng thời Heian, cả ba tư tưởng Nho, Phật và Thần đạo đều
cùng tồn tại, trong đó Phật giáo được coi như Quốc giáo. Nho giáo được sử
ấy phù hộ độ trì cho những điều tốt lành sẽ đến với mình cung như gia đình,
người thân trong năm mới. Nhật hoàng Saga (809-823) thời Heian đã chính thức
phổ biến tập tục ngắm hoa này và hằng năm vẫn cho tổ chức tiệc ngắm hoa với
rượu Sake dưới những tán cây anh đào phủ kín một màu hồng nhạt tại cung điện
của mình ở Kyoto. Tập tục ngắm hoa ban đầu chỉ giới hạn cho các thành viên
hoàng tộc, rồi sau đó rộng ra tầng lớp võ sĩ đạo (samurai) vào thời AzuchiMomoyama (1568–1600). Phải mãi đến thời Edo (1603-1868) Hanami mới thực
sự phổ biến trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân.
Lễ hội cây thục quỳ (lễ hội Kamo) là một trong những lễ hội lớn nhất, lâu
đời và lộng lẫy nhất, được tổ chức tại ngôi đền Kamigamo (Kyoto) vào tháng 5
hằng năm và duy trì từ thế kỷ thứ VII đến ngày nay. Theo truyền thuyết, ngày đó
có nhiều thiên tai xảy ra được cho là bởi các vị thần của miếu Kamo gây ra. Sau
khi Hoàng đế cúng cho các vị thần, những thảm họa đã giảm xuống và từ đây
một truyền thống được bắt đầu. Tên chính thức của lễ hội khi đó là lễ hội Kamo,
vì nó liên quan đến ngôi đền này. Lễ hội được đặt theo tên của cây thục quỳ
(Aoi) vì các thành viên trong đoàn rước đều được mặc bởi lá của cây thục quỳ.
Lễ hội cung được nhắc đến trong một số chương của Truyện kể Genji của thời kỳ
này (chương 9, 11).
Lễ hội Gion có lịch sử khoảng 1100 năm và được duy trì đều đặn đến nay,
thể hiện nét văn hóa truyền thống và cả sự phồn thịnh của cố đô Kyoto. Vào năm
869, trên khắp đất nước dịch bệnh lây lan nguy cấp, Nhật Hoàng đã ra tới ngôi
đền Yasaka để cầu nguyện cho sự bình yên trở lại với dân lành. Vào thời điểm
đó Nhật Hoàng đã cho làm 66 cỗ xe trang trọng tượng trưng cho 66 tỉnh (đơn vị
hành chính của Nhật lúc bấy giờ) để cùng tham gia vào lễ cầu nguyện. Dịch bệnh
được dập tắt nhưng lễ hội này phải đến năm 970 mới được khôi phục và tổ chức
17
đều đặn vào tháng 7 hằng năm. Sau đó có nhiều biến cố lịch sử nên lễ hội không
bức tường nhà là những mảnh ván di động nên từ trong phòng lúc nào cung có
thể nhìn thấy vườn. Ngoài vườn có quả đồi nhân tạo nhỏ trồng nhiều cây và bụi
hoa. Thường bên dưới nhà có dòng nước chảy qua vườn. Đây là một nét độc đáo
trong phong cách nhà riêng mà người Nhật gọi là Shinden-zukiri, tức nhà và
vườn có quan hệ mật thiết đồng thời thể hiện khiếu thẩm mĩ thành thị của quí tộc
Kyoto lúc bấy giờ. Có thể thấy rõ nét cấu trúc này trong Truyện kể Genji.
Ngoại trừ một số ít đền thờ Thần đạo, ở tất cả các đền thờ Phật giáo thời
kỳ này đều có các công trình điêu khắc. Các nhà điêu khắc thời Heian thường
dùng gỗ để tạc hơn là những vật dụng khác như kim loại, đất sét và sơn. Năm
800 sau Công nguyên, điêu khắc vẫn còn tính chất tôn giáo, các nhà điêu khắc
tiếp tục tạc những bức tượng Phật cùng những tín đồ. Lúc này, phái Shingon vì
mục đích tôn giáo rất tích cực trong việc đào tạo nghệ sĩ. Thấm nhuần toàn bộ
nền kiến trúc Shingon là ý niệm về đức Phật vu trụ và ý muốn phô bày những
quyền năng vô hạn của đức Phật. Vì vậy, họ rất quan tâm đến thế ngồi của các
pho tượng và theo nghi lễ của phái Shingon thế đó phải rất đứng đắn. Nhưng từ
năm 900 sau Công nguyên, nét nghiêm khắc nhường chỗ cho sự sáng tạo nhiều
màu sắc. Những bức tượng được sơn màu sáng chói hoặc những nét mặt vui tươi
nhưng vẫn không kém phần tao nhã, tinh tế và mang tính sáng tạo.
Bên cạnh điêu khắc, phái Shingon cung làm chủ trong lĩnh vực hội họa về
tôn giáo theo phong cách Trung Quốc. Chất liệu thường được làm trên nền lụa
với những màu sắc phong phú nổi bật. Ý niệm của phái Shingon là Chân thực
(đức Phật vu trụ) bao gồm cả mặt thú vị lẫn mặt buồn đau của cuộc sống tạo nên
những bức tranh độc đáo mà các phái khác không có. Một sự phát triển rất quan
19
trọng ở cuối thời Heian là nổi lên phong cách Yamato-e, những bức tranh cuộn
dài được vẽ để treo trên tường trong đền chùa với những đường nét góc cạnh và
màu sắc trang trí lộng lẫy vốn hoàn toàn trái ngược với những đường cong và
tình và cảm tính rất mạnh mẽ. Ở Nhật Bản hầu như không xuất hiện các tác
phẩm thuộc thể loại sử thi anh hùng, ngược lại, các tác phẩm tanka thể hiện nỗi
buồn đau cá nhân hay tình cảm luyến ái mang đậm nét trữ tình lại chiếm tỉ lệ áp
đảo. Yếu tố văn học chủ đạo ở các tác phẩm là nỗi buồn chứ không phải niềm
vui, là nước mắt chứ không phải nụ cười, bởi thế mà văn học Nhật Bản hướng
tới những mưu cầu mang tính trữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện với
các yếu tố mang tính lịch sử, xã hội” [49]. Quả thực điểm chung dễ nhận thấy
nhất của các tác phẩm văn học cổ - trung đại Nhật Bản là sự tràn ngập cảm xúc,
đặc biệt là cảm xúc trước cái đẹp như một nét đặc trưng tiêu biểu cho mỹ học
Nhật Bản, đặc biệt là mỹ học Heian.
Cung bởi vậy một trong những đặc trưng quan trọng của mỹ học truyền
thống Nhật Bản là tinh thần tôn thờ cái đẹp. Mà tình yêu cái đẹp của người Nhật
được thể hiện mạnh mẽ nhất trong lịch sử là ở thời Heian (794-1185). Có thể nói,
con người thời Heian say mê cái đẹp đến mức tôn sùng. Đó là cuộc sống thấm
đẫm chủ nghĩa duy mỹ của các trang phong lưu công tử và phụ nữ quý tộc chốn
cung đình. Từng có lúc, biết nâng niu vẻ đẹp của một vầng trăng, một đóa hoa,
một chiếc lá, một tiếng ve sầu… trở thành một loại thước đo, một chuẩn mực để
đánh giá giá trị của con người bấy giờ (ngược lại với Trung Quốc là nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín…). Các tác phẩm thơ và văn xuôi thời đại Heian đều có một sự thể
hiện khác nhau những biến động sâu sắc nơi trái tim con người về cái đẹp, nhất
21
là cái đẹp mong manh như hoa anh đào. Và sẽ thật không quá lời khi người ta
cho rằng chính sự tôn thờ cái đẹp đã dẫn đường cho mọi suy nghĩ và hành động
của con người thời Heian, rằng thời Heian là “thời của cái đẹp” [3,59]. Lại chịu
ảnh hưởng sâu sắc của vô thường quan trong triết lí nhà Phật nên trước cái đẹp
họ luôn có một sự xúc động đặc biệt.
Bắt đầu từ thời đại Heian, nền văn học Nhật Bản hoàn toàn được phủ dưới
khi nhạt trong các sáng tác của thời đại sau, góp phần tạo nên tính trữ tình tinh tế
của văn học Heian nói riêng, văn học Nhật Bản nói chung. Và suốt nhiều thế kỉ
sau Heian, nền văn học Nhật Bản vẫn không ngừng thể hiện nỗi ám ảnh dai dẳng
về kiếp phù sinh nơi trần thế.
1.1.4. Khái lược những chuẩn mực cái đẹp trong truyền thống văn hóa
của người Nhật
Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản địa đầu tiên của người Nhật, là một tôn
giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng thời cổ xưa ở Nhật Bản. Đối
tượng chính của các nghi lễ trong Thần đạo là những vị thần gọi là Kami - tượng
trưng cho những gì siêu việt trong thiên nhiên đến con người (hay các sản phẩm
của con người) từ mặt trời, mây gió, dông bão, cây cỏ, sông núi…tới các vị anh
hùng, thiên hoàng, tổ tiên của gia đình hay bộ tộc. Vì vậy, Thần đạo có rất nhiều
các thần thánh (có đến 8 triệu thần (Kami)), đa phần các thần của Thần đạo đều
liên quan đến thiên nhiên. Người Nhật đã “thần hóa” các yếu tố thiên nhiên và
trực tiếp tôn thờ thiên nhiên như “Kami”. Chính tình yêu thiên nhiên là nền tảng
hình thành những triết lý trong tín ngưỡng Thần đạo và ngày càng khắc sâu vào
tâm thức con người Nhật Bản. Tư tưởng Thần đạo thấm đẫm tinh thần “chân
thành” (makoto). Chân thành trong tình cảm và hành động là phẩm chất được
23
Thần đạo đánh giá cao. Mà chân thành là phẩm chất rất gần với trong sạch, tinh
khiết và tự nhiên nên người Nhật đã lấy chữ Kyo-“Thanh” làm trọng yếu trong
quan niệm đạo đức của Thần đạo. “Thanh” là trong sạch - trong sạch cả về thể
xác lẫn tâm hồn. Từ nền tảng ấy mà phần cốt yếu trong triết lý tín ngưỡng Shinto
là sự “thanh khiết” và sự dung hợp hài hòa giữa con người, thiên nhiên và thần
linh. Quan niệm này về sau đã trở thành quy tắc nền tảng trong đạo đức của Thần
đạo. Sự “thanh khiết” đã dẫn đến những quy ước trong cách sống, sinh hoạt và
tâm linh của người Nhật. Họ yêu thiên nhiên, yêu sự giản dị và trong sạch đúng
trung đại, khái niệm này nhấn mạnh đến tinh thần cao viễn, tịch tĩnh với cái đẹp
giản phác nguyên sơ. Khái niệm Wabi-theo như người Nhật vẫn thường nhấn
mạnh- rất khó để diễn đạt bằng lời mà phải cảm nhận nó. Người Nhật cổ xưa cho
rằng tất cả các hiện tượng đều là sự hiển thị của thần linh. “Thiên địa” và “tất cả
mọi vật sống” là gần nghĩa nhất với từ chỉ khái niệm tự nhiên của họ. Nó là sự
sinh thành phát triển tự nhiên và trạng thái phát sinh từ đó, là cái tự thể, tự bản
thân mình. Như vậy, khác với tư tưởng Tây Phương, người Nhật không nghĩ
rằng con người là ưu thắng hay đối lập với tự nhiên. Mà sinh mệnh con người
được bao bọc trong tự nhiên. Ở đó, chủ thể và khách thể hoà vào nhau trở thành
một hiện thực nhất thể. Tư tưởng cổ điển này được thể hiện khắp các mảng văn
hoá Nhật Bản khác như tranh thiền, trà đạo, nghệ thuật cắm hoa…Wabi vì thế có
nghĩa là chỉ trạng thái đơn giản, tự nhiên. Tức là nét hấp dẫn của những thứ mộc
mạc, là sự khiêm nhường, là vẻ đẹp khiếm khuyết hoặc không hoàn thiện.
Cả Wabi và Sabi đều là những từ cổ. Cùng với thời gian chúng dần được
sử dụng gộp lại như một khái niệm chung-Wabi-Sabi, mang nghĩa rộng hơn và
tiến gần đến với chuẩn mực thứ ba, Shibumi. Shibumi là vẻ đẹp của sự giản dị
25
cộng với vẻ đẹp của sự tự nhiên. Đó không phải là vẻ đẹp đơn thuần mà trong đó
còn hàm chứa cả sự hữu dụng của đồ vật và chất liệu làm nên đồ vật ấy. Với
người Nhật, một cái chén được coi là đẹp khi người ta có thể dùng nó uống trà
một cách thuận tiện và trong cái chén vẫn còn nguyên sức quyến ru của chất đất
sét mà người thợ thủ công đã nhào nặn trong tay. Shibumi mang nghĩa nguyên
thủy là sự giản dị đi kèm với sự khiêm nhường.Vậy nên những gì cầu kỳ hoa mỹ
đều không thể đi cùng khái niệm này. Những khái niệm Wabi-Sabi hay Shibumi
bắt rễ trong thói quen coi mọi sự vật và hiện tượng đều có sự sống của người
Nhật. Quan niệm đó bắt nguồn từ đạo Shinto.
Chuẩn mực thứ tư của cái đẹp bắt nguồn từ quan niệm Yugen (u huyền).