Thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non trong các tình huống sư phạm - Pdf 32

Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục

==== ====

thực trạng ứng xử s phạm của giáo viên
mầm non trong các tình huống s phạm

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành Giáo dục mầm non

Giảng viên hớng dẫn: ThS. Hồ

Thị Hạnh
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Loan
Lớp:
Mã số sinh viên:

49A - Giáo dục Mầm non
0859022132

Vinh - 2012
1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này ngoài nỗ lực của bản thân, Tôi còn nhận được
sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, các giáo viên ở một số trường Mầm non. Đặc
biệt qua đây Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Hồ Thị Hạnh
người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn Tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo Dục trường Đại học Vinh, tập thể trường mầm non Quang Trung I, trường Mầm

1.1.2. Ở trong nước.................................................................................................................5
1.2. Các khái niệm cơ bản......................................................................................................6
1.2.1. Khái niệm, bản chất và phân loại ứng xử.....................................................................6
1.2.2. Một số thuộc tính tâm lý cần có trong ứng xử...........................................................10
1.2.3. Ứng xử sư phạm.........................................................................................................11
1.2.4. Tình huống sư phạm...................................................................................................13
1.3. Ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo viên Mầm non.....................17
1.3.1. Vai trò của ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm.......................................17
1.3.2. Nội dung ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm.........................................19
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo
viên Mầm non.......................................................................................................................27
1.4. Kỹ năng ứng xử văn hoá...............................................................................................28
Kết luận chương 1................................................................................................................31
Chương 2..............................................................................................................................33
THỰC TRẠNG ỨNG XỬ SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN.................................................33
MẦM NON TRONG CÁC TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM.....................................................33
2.1. Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng...............................................................33
2.1.1. Mục đích nghiên cứu..................................................................................................33
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................33
2.1.3. Địa bàn nghiên cứu.....................................................................................................34
2.1.4. Nội dung và cách thức nghiên cứu.............................................................................34
2.1.5. Tiêu chuẩn và thang đánh giá.....................................................................................35
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng......................................................................................37
2.2.1. Nhận thức của giáo viên Mầm non về ứng xử sư phạm.............................................37
2.2.2. Nhận thức của giáo viên Mầm non về ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm
giả định.................................................................................................................................41
2.2.3. Thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên Mầm non trong các tình huống sư phạm 55
2.3. Đánh giá chung về thực trạng........................................................................................71
2.3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non tại một
số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Vinh................................................................71

1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, trong ứng xử hàng ngày con người luôn phải ứng phó
với biết bao tình huống xẩy ra, có người ứng xử tốt, khéo léo nhưng cũng có
những người gặp khó khăn trong việc ứng xử. Đối với mỗi cá nhân tuỳ từng
từng thời điểm, từng hoàn cảnh cần có những cách ứng xử phù hợp. Không có
cách ứng xử chung cho mọi người, ngay cả đối với bản thân ta mà tuỳ từng
hoàn cảnh, từng tâm trạng, mục đích… khác nhau mà có cách ứng xử hợp lý.
Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người ngày càng
cao. Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả,
đạt tới mức độ nghệ thuật, được coi như bí quyết thành công trong cuộc sống,
trong hoạt động nghề nghệp. Ứng xử của cô giáo Mầm Non cũng vậy, việc xử
lý các tình huống xẩy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ, trong các mối
quan hệ với đồng nghiệp và phụ huynh là cả một nghệ thuật. Chính vì vậy, để
vận dụng khả năng sư phạm của mình trong việc giải quyết tốt các tình huống
xẩy ra, giáo viên ở các trường Mầm non ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ, tinh
thần trách nhiệm cao… còn cần phải có sự hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh
vực và nhất là phải có văn hoá ứng xử.
Công việc giáo dục và đào tạo con người là một hoạt động rất đặc thù,
vừa mang tính khoa học vừa mang tính sáng tạo và nghệ thuật. Trong quá
trình giao tiếp ứng xử sư phạm, người giáo viên luôn gặp rất nhiều tình huống
sư phạm đòi hỏi họ phải suy nghĩ tìm tòi để đưa ra những cách giải quyết hợp
lý, hợp tình có tác dụng giáo dục học sinh. Người giáo viên mầm non cũng
vậy, ngoài những khó khăn trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, họ còn phải
giải quyết rất rất nhiều tình huống khó có thể lường trước được bởi trẻ ở lứa
tuổi mầm non là độ tuổi còn non nớt về thể chất lẫn tinh thần.
Như vậy có thể nói, ứng xử sư phạm là một nghệ thuật và là một vấn đề
khoa học cần được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, hiện nay vấn
1





trên là do nhận thức về văn hoá ứng xử của giáo viên mầm non chưa phù hợp
và kỹ năng ứng xử sư phạm của họ chưa được rèn luyện đúng mức.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non trong
các tình huống sư phạm.
- Đề xuất ý kiến nhằm rèn luyện kỹ năng ứng xử sư phạm cho giáo viên
mầm non.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp phân tích hoá, khái quát hoá cơ sở lý luận.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp điều tra.
7.3. Phương pháp thống kê toán học.
8. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ lý luận về ứng xử sư phạm
- Làm rõ thực trạng ứng xử sư phạm của GVMN ở một số trường mầm non.
- Kiến nghị một số ý kiến nhằm giúp GVMN rèn luyện tốt hơn kỹ năng
ứng xử sư phạm.
9. Cấu trúc của luận văn
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng ứng xử sư phạm của viên Mầm non trong các tình
huống sư phạm
Phần III: Kết luận và kiến nghị

4


- “28 bài học xử thế” của Raymord desaint courent.
- “Xử thế của ngày nay” của tác giả K.C Ingram.
- “Cư xử như thế nào” của tác giả IAAxma. AAxma.
1.1.2. Ở trong nước
Cũng đã có khá nhiều tác giả đề cập đến vấn đề ứng xử.
PTS Ngô Công Hoàn với cuốn “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo và trẻ
em”. Cuốn sách này đã đưa ra một số nguyên tắc và phương pháp trong vấn
đề giao tiếp ứng xử giữa cô giáo và trẻ Mầm Non.
PTS Lê Thị Bừng với cuốn “Tâm lý học ứng xử” lần đầu tiên bàn đến
một vấn đề phức tạp trong mối quan hệ người - người. Tác giả đã đề cập đến
khái niệm, bản chất, phân loại ứng xử và cách lựa chọn biện pháp ứng xử phù
hợp trong các tình huống khác nhau.
Ba tác giả: Nguyễn Công Khanh - Nguyễn Hồng Nam- Nguyễn Hồng
Ngọc với cuốn “Nghệ thuật ứng xử và sự thành công với mọi người” đã đưa
ra những nguyên tắc và phương pháp ứng xử với mong muốn giúp mọi người
ít mắc phải những sai lầm đáng tiếc trong hành vi giao tiếp ứng xử với người
khác.
Bên cạnh đó còn có cuốn “Nghệ thuật xử lý các tình huống sư phạm” do
nhà xuất bản lao động - xã hội công ty văn hoá Bảo Thắng sản xuất cũng đã
bàn đến một số vấn đề về ứng xử sư phạm của giáo viên Phổ Thông và các
tình huống sư phạm thường xẩy ra trong trường phổ thông.
Tác giả Bùi Thị Mùi với cuốn “Tình huống sư phạm trong công tác giáo
dục học sinh trung học phổ thông” cũng đã đưa ra khái quát về tình huống sư
phạm và xây dựng các tình huống sư phạm để dạy học lý luận về công tác
giáo dục học sinh cho sinh viên các trường đại học sư phạm.
Ngoài ra còn có một số tác giả đề cập đến các tình huống sư phạm và
kinh nghiệm giải quyết các tình huống ấy như quyển “Nghệ thuật ứng xử sư

6


TS: Ngô Công Hoàn cho rằng: “ứng xử là phản ứng hành vi của con
người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm của cá nhân
kích thích nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn kinh nghiệm, vốn
sống của cá nhân trong những tình huống nhất định”
PTS. Lê Thị Bừng cho rằng: “Ứng xử là sự phản ứng của con người với
sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất
đinh.Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ
động trong phản ứng có sự lựa chọn có tính toán thể hiện qua thái độ, hành
vi, cử chỉ cách nói năng, tuỳ thuộc vào tri thức kinh nghiệm và nhân cách của
mỗi người nhằm đat hiệu quả cao nhất”.
Ứng xử được đặc trưng bởi các dấu hiệu:
- Ứng xử được thể hiện bởi các cá nhân, mỗi cá nhân đều có đặc điểm
khí chất khác nhau nên mỗi cá nhân thể hiện hành vi phản ứng theo tốc độ,
cường độ, nhịp điệu, thái độ và tình cảm khác nhau.
- Ứng xử được quy định các chuẩn mực xã hội.
- Ứng xử là sự giao thoa có tính nghệ thuật giữa “cái tự nhiên” và “cái
xã hội” trong bản chất con người.
- Trong ứng xử người ta thường chú ý đến nội dung tâm lý hơn là nội
dung công việc. Giao tiếp để đạt được mục đích, một nội dung công việc nào
đó nhưng ứng xử thì người ta quan tâm đến “cái ý của cá nhân” biểu hiện thế
nào qua hành vi, cử chỉ, điệu bộ, thái độ. Như vậy thước đo của giao tiếp là
hiệu quả của công việc còn thước đo của ứng xử là thái độ của cá nhân và
“những thuật” biểu hiện thái độ qua hành vi.
Ứng xử thường mang tính chất tình huống, còn giao tiếp là một quá trình.
Từ những đặc trưng trên chúng tôi đưa ra định nghĩa: “Ứng xử đó là sự phản
ứng của cá nhân trong các tình huống giao tiếp. Sự phản ứng ấy được thể
hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tuỳ thuộc vào nhận thức và

thiếu thiện chí, gây căng thẳng đối với họ.
- Ứng xử tự do: Thể hiện tính linh hoạt trong giao tiếp, dễ thay đổi mục
đích, không làm chủ được diễn biến tâm lý của mình dễ “chiều theo đối tượng
giao tiếp”.
8


- Ứng xử dân chủ: Biểu hiện nổi bật của kiểu ứng xử là sự nhiệt tình, sự
thiện chí cởi mở, sự tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp. Những người này
thường biết lắng nghe, biết quan tâm giúp mọi người khi cần thiết, dễ dàng
thiết lập mối quan hệ với mọi người và dễ đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.
1.2.1.2.4. Dựa vào tâm thế
Chúng ta đều biết mọi sự vật trong hiện thực khách quan không tồn tại
độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau,
cùng tồn tại trong một không gian, thời gian nhất định. Vì vậy, khi gặp một
người có cách ứng xử nào đó làm ta liên hệ đến ngay một người khác có cách
ứng xử tương ứng. Sự liên hệ này có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là tích cực
hay cũng có thể là tiêu cực tuỳ theo tâm thế của ta. Vì vậy trong trường hợp
này con người cần phải kiểm tra, điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với
thực tế, với từng người ta gặp.
Việc hiểu rõ tính quy luật về sự thay đổi tâm thế mang tính dễ chịu và
khó chịu có ý nghĩa đặc biệt đối với việc thể hiện sự hình thành cách ứng xử.
1.2.1.2.5. Dựa vào kiểu thần kinh của khí chất: Phân ra 4 kiểu ứng xử.
- Kiểu ứng xử mạnh mẽ: Khi có tác động bên ngoài đến họ thì họ có
ngay phản ứng bằng thái độ, hành vi, cử chỉ. Trong giao tiếp có ai đó xúc
phạm tới họ trước một người khác, họ tỏ thái độ không bình tĩnh, phản ứng
một cách gay gắt, nóng nảy, họ không bình tĩnh để suy xét xem nên hành
động như thế nào. Tuy nhiên trường hợp giao tiếp hoà thuận họ tỏ ra nhân
hậu, vị tha.
- Kiểu ứng xử linh hoạt:

sống, trong giao tiếp.
1.2.2. Một số thuộc tính tâm lý cần có trong ứng xử
1.2.2.1. Năng lực quan sát đối tượng
Khả năng định hướng ban đầu: Khuôn mặt, dáng người, cách nói, điệu
bộ… Người xưa dạy “Trông mặt mà bắt hình dong” chính điều này giúp cho
10


ta biết cách ứng xử với từng người, giúp ta nắm được tỉ mỉ hành vi của đối
tượng và dùng tài liệu quan sát được phục vụ cho giao tiếp ban đầu. Nghĩa là
ta có những phán đoán ban đầu về chân dung của đối tượng giao tiếp.
1.2.2.2. Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp biểu hiện những ý nghĩa, tình cảm, nhận thức của
mình với người khác. Làm cho họ ngay từ đầu có tình cảm, đồng cảm với ta.
Chính điều này giúp cho con người đạt kết quả trong ứng xử.
1.2.2.3. Tôn trọng nhân cách của đối tượng
Đó là sự thiện cảm khi tiếp xúc và nhìn nhận cái tốt ở đối tượng giao tiếp
là cơ bản, không định kiến, bởi lẽ trong xã hội, vị thế có thể là khác nhau
nhưng nhân cách lại là rất bình đẳng.
1.2.2.4. Năng lực tự chủ trong các tình huống ứng xử
Có thể nói làm chủ mình là một điều kiện quan trọng để thành công trong
giao tiếp ứng xử. Bởi một lẽ, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn
sẻ cả. Có những lúc thăng trầm, khi thành công, khi thất bại, và có khi bị xúc
phạm đến thanh danh… nếu chúng ta không làm chủ được bản thân mà dẫn
tới những lời nói, những hành động dại dột thì hậu quả sẽ rất khôn lường.
1.2.3. Ứng xử sư phạm
1.2.3.1. Khái niệm ứng xử sư phạm
Ứng xử sư phạm là một dạng hoạt động giao tiếp giữa những người làm
công tác giáo dục và được giáo dục trong nhà trường nhằm giải quyết các tình
huống nảy sinh trong hoạt động giáo dục và giáo dưỡng.

điểm. Học sinh nào cũng thích được thầy cô giáo biểu dương, vì thế chúng ta
không nên tiết kiệm lời khen của mình. Hãy khen ngợi những ưu điểm, sở
trường của các em để các em cảm thấy giá trị của mình được nâng cao, có
hứng thú học tập. Nhưng cũng cần chú ý, trong khi khen cũng không quên chỉ
ra những thiếu sót của học sinh để các em khắc phục, không ngừng tiến bộ.
6. Luôn thể hiện niềm tin vào sự hướng thiện của các em. Ngay cả khi
các em mắc sai lầm, cũng phải tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực chứ
không nên phê phán nặng nề. Đó chính là chỗ dựa, là nguồn khích lệ cho học
sinh có động lực phát triển.
12


7. Góp ý với học sinh về những thiếu sót cụ thể, việc làm cụ thể với một
thái độ chân thành và giàu yêu thương. Tuyệt đối không nêu những nhận xét
chung chung có tính chất “chụp mũ” và xúc phạm như “sao ngu thế”, “đồ
mất dạy”…
8. Luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương của một người
thầy đối với học trò. Theo quy luật phản hồi tâm lý, tình cảm của thầy trước
sau cũng sẽ được đáp lại bằng tình cảm của trò. Dùng lòng nhân ái, đức vị tha
giáo dục, cảm hoá học trò sẽ luôn đạt hiệu quả.
9. Trong mỗi tình huống sư phạm, người thầy cần phải bình tĩnh xem lại
bản thân mình bởi “nhân vô thập toàn” nên hãy “tiên trách kỷ, hậu trách
nhân”. Nếu nhận ra sự thiếu sót, sai lầm của mình hãy dũng cảm thừa nhận.
Chắc chắn làm như thế, học sinh không những trách thầy mà còn rất cảm
phục thầy.
Từ những quy tắc trên mà đối với mỗi người có những cách vận dụng
riêng tuỳ thuộc vào nghệ thuật của mỗi nhà giáo.
1.2.4. Tình huống sư phạm
1.2.4.1. Khái niệm tình huống sư phạm
Tình huống sư phạm là tình huống có vấn đề diễn ra đối với nhà giáo

tìm kiếm trở thành yếu tố kích thích hoạt động tìm tòi sáng tạo. Đối với người
giáo viên, điều chưa biết này là ẩn số có tính khái quát. Đó có thể là một lý
luận (một nguyên tắc, một nội dung, một phương pháp…) hay một kỹ năng sư
phạm nào đó mà nhà giáo dục cần phải biết. Để từ việc khám phá ra ẩn số
chung đó, nhà giáo dục có thể liên hệ, vận dụng nó nhằm giải quyết các tình
huống cụ thể có vấn đề cùng loại trong công tác của mình.
1.2.4.2.3. Trạng thái tâm lý trong tình huống sư phạm
Trạng thái tâm lý trong tình huống sư phạm là những lúng túng về lý
thuyết và thực hành xuất hiện ở nhà giáo dục khi họ cần giải quyết vấn đề
trong tình huống. Những lúng túng đó kích thích lòng mong muốn và tính tích
cực hoạt động tìm tòi, phát hiện mang tính hưng phấn ở nhà giáo dục và khi
14


hoạt động đạt được hiệu quả, trong họ xuất hiện niềm hạnh phúc của sự tìm
tòi phát hiện. Đây là đặc trưng cơ bản của tình huống sư phạm.
1.2.4.3. Sự phân loại tình huống sư phạm
1.2.4.3.1. Tình huống sư phạm được xây dựng dựa trên mục đích dạy
học
Quá trình dạy học được xem như một hệ thống gồm nhiều thành tố vận
động, phát triển trong mối quan hệ biện chứng. Ngoài hai thành tố trung tâm
phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học là giáo viên và học sinh thì
mối quan hệ bộ ba: mục đích, nội dung và phương pháp dạy học tạo nên một
tam giác sư phạm có tầm quan trọng đặc biệt. Trong mối quan hệ này, mục
đích dạy học là thành tố định hướng, là thành tố quy định nội dung và phương
pháp dạy học khác nhau. Tình huống sư phạm được xây dựng và sử dụng
trong quá trình dạy học với tư cách là phương tiện, biện pháp tác động đến
học sinh, cho nên tình huống sư phạm chịu sự quy định trực tiếp của mục đích
dạy học, và mục đích dạy học là cơ sở hàng đầu của sự phân loại tình huống
sư phạm.

Những tình huống sư phạm có tính xung đột; Những tình huống sư phạm có
tính lựa chọn; Những tình huống sư phạm có tính bác bỏ; Những tình huống
sư phạm có tính giả định; Những tình huống sư phạm đơn giản; Những tình
huống sư phạm phức tạp; Những tình huống sư phạm không nguy hiểm;
Những tình huống sư phạm nguy hiểm; Những tình huống sư phạm mà vấn đề
trong tình huống đã được giải quyết rồi và những tình huống sư phạm mà vấn
đề trong tình huống chưa được giải quyết; Những tình huống sư phạm tích
cực và những tình huống sư phạm tiêu cực…
- Dựa vào đối tượng tạo ra tình huống có những tình huống sư phạm đơn
phương, những tình huống sư phạm song phương và những tình huống sư
phạm đa phương.
- Dựa vào các mối quan hệ của giáo viên trong quá trình thực hiện công
tác giáo dục học sinh có thể phân tình huống sư phạm thành các loại: Những
16


tình huống sư phạm diễn ra giữa giáo viên với cá nhân hay tập thể học sinh;
Những tình huống sư phạm diễn ra giữa giáo viên với các lực lượng giáo dục
trong và ngoài trường (ban giám hiệu, giáo viên khác, phụ huynh học sinh…)
- Dựa vào nguyên nhân gây nên tình huống có thể phân tình huống sư
phạm trong công tác giáo dục học sinh thành các loại như: Những tình huống
sư phạm xuất hiện do những nguyên nhân nảy sinh từ quá trình thực hiện các
công việc trong công tác giáo dục học sinh và những tình huống sư phạm xuất
hiện do những nguyên nhân nảy sinh từ ảnh hưởng nhân cách của giáo viên
tới quá trình thực hiện công việc hay tới đối tượng tác động.
1.3. Ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo viên
Mầm non
1.3.1. Vai trò của ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm
Ứng xử sư phạm có một vai trò rất đối với hoạt động nghề nghiệp của
người giáo viên mầm non và cũng xuất phát từ mục đích của việc ứng xử sư

giáo viên có thể điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với từng tình huống,
từng hoàn cảnh và với từng đối tượng.
1.3.1.3. Vai trò thông tin
Hoạt động ứng xử sư phạm về bản chất là một hoạt động giao tiếp xã hội
thông qua các phương tiện giao tiếp vật chất và phi vật chất và nhờ có những
phương tiện này(ngôn ngữ, vật thể, nhân cách của các cá nhân tham gia giao
tiếp) mà con người có được những mối quan hệ xã hội. Sự hiểu biết lẫn nhau
giữa các cá nhân được thực hiện nhờ các thông tin chứa đựng trong các
phương tiện giao tiếp. Từ sự tiếp nhận thông tin ấy mà người giáo viên có
được cái nhìn cụ thể hơn về đối tượng giao tiếp ứng xử và từ đó có những
biện pháp ứng xử phù hợp.
Bên cạnh đó thông qua việc ứng xử mà giáo viên có thể thực hiện chức
năng tổ chức, hướng dẫn hoạt động vui chơi, thông báo, giáo dục thông qua
tập thể lớp.
18


Cô giáo phân công vai chơi, tổ chức các nhóm vui chơi sao cho phát huy hết
được tiềm năng vốn có của các cháu, khơi dậy sự hứng thú khi vào cuộc
chơi.Xây dựng nếp sống cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày
Và đối với cá nhân trẻ: Ứng xử thoả mãn một nhu cầu nào đó của trẻ như
âu yếm (ôm hôn, vuốt ve, bế ẵm…).
Thực hiện chức năng chăm sóc dinh dưỡng vệ sinh cho trẻ, tạo cho trẻ
cảm giác an toàn về đời sống.Thực hiện chức năng giáo dục bằng tình cảm,
xây dựng thói quen bằng hành vi ứng xử cho trẻ.Chức năng xây dựng những
đặc trưng người và nhân cách.
Ngoài ra ứng xử sư phạm có một vai trò cũng không kém phầm quan
trọng đó chính là việc thiết lập mối quan hệ với phụ huynh với đồng nghiệp,
thông qua việc ứng xử sư phạm thì giáo viên có thể thiết lập mối quan hệ với
phụ huynh, với đồng nghiệp, giúp rút ngắn khoảng cách, tạo ra sự gần gũi,

Cô giáo là người luôn hiểu và làm thoả mãn kịp thời những nhu cầu cơ
bản cần thiết của trẻ. Có lẽ trong các mối quan hệ chỉ có người mẹ mới thoả
mãn tối đa các nhu cầu của trẻ (cả nhu cầu về về chất lẫn tinh thần) chỉ có
người mẹ mới thấu hiểu lòng con và đáp ứng đầy đủ theo khả năng và sự cố
gắng của mình. Cô giáo Mầm non là người mẹ thứ hai của trẻ cho nên cũng
có thể là người đáp ứng một cách kịp thời các nhu cầu cần thiết của trẻ trên cơ
sở đó thấu hiểu những mong muốn của các cháu, từ đó tạo điều kiện cho trẻ
phát triển tốt cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Cô luôn biết động viên khích lệ,
đánh giá kịp thời thành tích nhỏ của trẻ bằng sự quan tâm của người mẹ giúp
cho trẻ tự tin vào chính bản thân mình và biết chủ động mạnh dạn trong các
hoạt động. Cô giáo luôn tận tụy, hết mình vì trẻ, thậm chí nhiều khi phải hy
sinh lợi ích riêng tư của mình để chăm lo cho các cháu, dành nhiều thời gian
quan tâm giúp đỡ cho những trẻ cá biệt. Mà trong đời sống tình cảm cảm con
người thì tình cảm mẹ con là thứ tình cảm đặc biệt, mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status