BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN ĐĂNG TÚY
SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI
QUẬN GÒ VẤP (TP. HỒ CHÍ MINH) TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP.HCM – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN ĐĂNG TÚY
SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI
QUẬN GÒ VẤP (TP. HỒ CHÍ MINH) TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2010)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
Người hướng dẫn: PGS. TS. NGUYỄN TRỌNG VĂN
8
1.2.Tình hình kinh tế - xã hội Quận Gò Vấp trước năm 1986.
12
1.3.Đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam
22
1.3.1.Bối cảnh lòch sử mới
22
1.3.2.Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chủ
trương Đảng bộ Thành phố
1.3.3. Sự vận dụng của Đảng bộ Quận Gò Vấp
23
25
Chương 2 : Sự chuyển biến về kinh tế của Quận Gò Vấp trong
thời kì đổi mới (1986 -2010)
27
2.1.Những chuyển biến bước đầu về kinh tế Quận Gò Vấp từ
năm 1986 đến năm 1995.
27
47
2.2.3. Thương mại – Dòch vụ
53
2.2.4. Xây dựng cơ bản
56
2.2.5. Tài chính – thuế
60
2.3. Sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế từ 1986 đến 2010.
62
Chương 3 : Tác động của chuyển biến kinh tế đối với tình hình
xã hội Quận Gò Vấp trong thời kì đổi mới (1986 - 2010).
68
3.1. Về lao động – việc làm
68
3.2. Đời sống người lao động
1. Lý do chọn đề tài
Mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân
tộc ta đã giành được thắng lợi, cả nước bước vào thời kì cách mạng mới.
Xây dựng chủ nghóa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghóa.
Giai đoạn 1976 - 1985 vừa tìm tòi, vừa thử nghiệm, đất nước đã đạt
được những thành tựu cơ bản trên các lónh vực kinh tế – chính trò – xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đảng và Nhà nước ta
còn gặp những khó khăn và hạn chế nhất đònh. Đó là hậu quả của cuộc
chiến tranh 30 năm với những vết thương chưa dễ gì khôi phục trong ngày
một, ngày hai. Thêm vào đó, tình hình chính trò thế giới có những chuyển
biến không có lợi cho cách mạng Việt Nam trong thời kì mới cũng như các
nước xã hội chủ nghóa. Sự hỗ trợï và giúp đỡ một cách vô tư, nhiệt tình của
các nước xã hội chủ nghóa không còn nữa, đặc biệt là cơ chế quan lưu bao
cấp đã tỏa ra lỗi thời, lạc hậu làm cho đất nước ta sau hơn 10 năm lâm vào
khủng hoảng trên tất cả các lónh vực của đời sống như sản xuất trì truệ,
lạm phát phi mã, thất nghiệp đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Để phát huy những thành quả đã đạt được, khắc phục những khó
khăn, hạn chế, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng , Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (12/1986) đã quyết đònh thực hiện công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trải qua hơn 25 năm,
Việt nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều phương diện.
Trong xu thế phát triển chung ấy, Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí
Minh, đã có những thành tựu khả quan của sự nghiệp đổi mới, từ một Quận
2
vùng ven trở thành một Quận nội thành có nền kinh tế phát triển nhờ biết
tận dụng thời cơ, phát huy lợi thế để đưa ra quyết sách đầu tư cơ sở hạ tầng
tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trên đòa bàn Quận.
Việc thực hiện đề tài “ Sự chuyển biến về kinh tế – xã hội Quận Gò
tới.
Báo cáo của BCH Quận ủy trình Đại hội Đảng bộ Quận các khóa
IV, V, VI, VII, VIII, IX và báo cáo của UBND Quận đánh giá tổng kết
những thành tựu và hạn chế của Gò Vấp trong quá trình thực hiện đổi mới
của từng thời kì cụ thể, các báo cáo phản ảnh cụ thể các mặt trong từng
nhiệm kì, chưa có sự đánh giá toàn diện và tổng thể quá trình đổi mới của
Quận Gò Vấp.
Ngoài ra công cuộc đổi mới còn được đề cập trong các tác phẩm
“Lòch sử Việt Nam Từ Năm 1975 đến nay , những vấn đề lí luận và thực
tiễn của Trần Bá Đệ – Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 1998”
“Tìm hiểu văn kiện đại hội VIII, và IX, X của Đảng hỏi và đáp” nhà xuất
bản chính trò Quốc gia. .. đã đề cập đến những thành tựu, hạn chế chung
trong 20 năm đổi mới ở Việt nam. Đây là cơ sở chung để chúng tôi xem
xét trong sự đối sánh với công cuộc đổi mới ở Quận Gò Vấp.
Nhìn chung, các tác phẩm và tài liệu nói trên chưa được nghiên cứu
toàn diện, có hệ thống về những thành tựu và hạn chế, chưa nêu lên được
những giải pháp cụ thể, bài học kinh nghiệm trong suốt quá trình đổi mới ở
Quận Gò Vấp từ năm 1986 đến 2010. Do vậy việc lựa chọn đề tài nghiên
cứu “ Sự chuyển biến về kinh tế – xã hội Quận Gò Vấp(thành phố Hồ Chí
4
Minh) trong thời kì đổi mới(1986 - 2010)” là cần thiết, có giá trò thiết thực
đối với Quận Gò Vấp nói riêng, góp phần khắc họa cụ thể công cuộc đổi
mới của nước ta nói chung.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đềø tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Thực hiện đề tài “ Sự chuyển biến về kinh tế – xã hội Quận Gò
Vấp(thành phố Hồ Chí Minh) trong thời kì đổi mới (1986 - 2010)” chúng
tôi xác đònh đối tượng nghiên cứu là những thành tựu và hạn chế ở lónh vực
thực về những chuyển biến kinh tế xã hội của Quận Gò Vấp trong thời kì
đổi mới, nhằm giải quyết triệt để những vấn đề mà kháo luận đặt ra.
5. Đóng góp và cấu trúc của luận văn
5.1. Đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống những tư liệu liên quan đến đề tài để cho những
ai quan tâm đến sự chuyển biến về kinh tế xã hội của Quận Gò Vấp tham
khảo.
Dựa vào nguồn tài liệu phong phú, luận văn đã dựng lại bức tranh
toàn cảnh về kinh tế xã hội của Quận Gò Vấp, làm sáng tỏ sự chuyển biến
kinh tế- xã hội của Quận Gò Vấp trong thời kì 1986 – 2010.
Luận văn cung cấp tài liệu để giảng dạy lòch sử đòa phương, bồi
dưỡng chính trò cho cán bộ phường nhất là trong thời kì đổi mới.
6
5.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở dẫn đến sự chuyển biến kinh tế – xã hội ở Quận Gò Vấp.
Chương 2: Sự chuyển biến về kinh tế của Quận Gò Vấp trong thời kì đổi
mới (1986 - 2010).
Chương 3: Tác động của chuyển biến kinh tế đối với tình hình xã hội Quận
Gò Vấp trong thời kì đổi mới (1986 - 2010)
7
NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ DẪN ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ – XÃ
HỘI Ở QUẬN GÒ VẤP, TP.HCM
Về giao thông, Quận có hai tuyến đường chính là Nguyễn kiệm
-Nguyễn Oanh và Quang Trung với tổng chiều dài 32km và khoảng trên
20 con đường nhỏ với tổng chiều dài 100km. Trên đòa bàn có đường sắt
Bắc- Nam chạy qua. Hệ thống đường bộ cùng với 4 cây cầu bắc qua sông
Bến Cát và 2 cây cầu bắc qua đường Sắt Bắc- Nam đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc đi lại của nhân dân trong Quận. Ngoài ra, Gò Vấp còn tiếp
giáp đường bay phía đông của Sân Bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Tóm lại, vò trí đòa lí và điều kiện tự nhiên nêu trên, Gò Vấp là một
Quận vùng ven có vò trí chiếm lược của thành phố, có tiềm lực về đất đai,
thuận lợi về giao thông. Đây là những nhân tố quan trọng về tự nhiên để
Quận khai thác phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
1.1.2 Điều kiện lòch sử - xã hội.
Đòa danh Gò Vấp gắn liền với đòa bàn và đòa danh của vùng đất Sài
Gòn – Gia Đònh trước đây cũng như Thành Phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Ngược dòng lòch sử, cách đây 300 năm, vào năm 1689 khi Lễ Thành Hầu,
Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệch chúa Nguyễn Phúc Chu, kinh lí để xác lập
chủ quyền lãnh thổ nước ta ở vùng đất phía Nam thì vùng đất Gò Vấp ngày
nay khi đó đã có tên trong sổ bộ thôn, xã thuộc huyện Tân Bình, Phủ Gia
Đònh.
9
Theo “Gia Đònh thành thông chí” của Trònh Hoài Đức thì vào Triều
Gia Long năm 1818, vùng đất mang tên Gò Vấp rộng lớn nằm trong đòa
phận các tổng Bình Trò và tổng Dương Hòa thuộc huyện Bình Dương, năm
1836 khi nhà Nguyễn đo đạc điền thổ và lập đòa bạ cho toàn bộ lục tỉnh
Nam Kì thì Gò Vấp thuộc tổng Bình Trò Hạ, huyện Bình Dương, tỉnh Gia
Đònh.
Tỉnh Gia Đònh vào đầu thế kỷ XX có 4 Quận là Hóc Môn, Thủ Đức,
Gò Vấp và Nhà Bè. Vào năm 1917 Gò Vấp được chia thành 3 tổng là:
trước đây cũng như ngày nay đều là những người mang dòng máu “con lạc
cháu hồng” có tinh thần yêu nước, không chòu khuất phục trước cường
quyền, bạo lực, cần cù, chòu khó trong lao động sản xuất trải qua nhiều
biến cố của lòch sử thì dân số của Gò Vấp cũng có những biến động theo
xu hướng tăng lên, đặc biệt trong những năm 1954- 1975.
Theo số liệu điều tra dân số, năm 1976 Quận có 156.100 người,
năm 1985 có 137.000 người, năm 1995 có 229.300 người, năm 2000 có
231.000 người, năm 2005 có 465.000 người, đến năm 2010 tăng lên
544.000 người. Như vậy từ năm 1976 đến năm 2010 dân số Gò Vấp tăng 4
lần, bình quân mỗi năm tăng 10% [ 21, tr. 10].
Về trình độ và đời sống văn hóa, trong những năm chiến tranh đời
sống tinh thần và trình độ văn hóa của người dân Gò Vấp rất thấp. Sau
ngày thống nhất đất nước được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, đời
sống tinh thần và trình độ văn hóa của người dân Gò Vấp không ngừng
11
được nâng lên. Trong những năm gần đây, Gò Vấp luôn là lá cờ đầu về
công tác giáo dục của thành phố.
Cư dân Gò Vấp trước đây chủ yếu sinh sống bằng các ngành nghề
như trồng lúa nước, trồng cây thực phẩm, chế biến nông sản và một số
nghề truyền thống. Trong những năm chiến tranh, ngoài hoạt động sản
xuất nông nghiệp và nghề truyền thống, cư dân Gò Vấp đã phát triển thêm
một số ngành nghề khác như đi làm công nhân trong những nhà máy, sản
xuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, buôn bán nhỏ.
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống ở Gò Vấp thì người
kinh chiếm tỉ lệ 98% , người Hoa chiếm hơn 1,8%, còn lại các dân tộc khác
chiếm 0,2%.
Đời sống tín ngưỡng của người dân Gò Vấp rất phong phú. Ngay từ
buổi đầu đến dựng làng, lập xóm người dân đã xây dựng miếu để thờ các
công tác cải tạo xã hội chủ nghóa, không cải tạo xã hội chủ nghóa thì không
xây dựng được chủ nghóa xã hội trong thành phố, cải tạo và xây dựng
khắng khít với nhau, không tách rời nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau”. Căn
cứ vào Nghò quyết của Thành Ủy và đặc điểm tình hình của Quận, Báo
cáo chính trò của Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ Quận đã đề ra mục tiêu
chung của Đảng bộ là “Xây dựng một Quận công nông nghiệp mà công
nghiệp là chính” để đạt được nhiệm vụ trên, Đảng bộ sẽ tập trung vào ba
công tác trọng tâm.
- Tập trung lực lượng tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây
dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghóa.
13
- Bố trí lại lực lượng lao động, tiếp tục giải quyết nạn thất nghiệp,
vận động đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, ổn đònh và từng bước cải
thiện đời sống nhân dân lao động.
- Đẩy mạnh công tác tư tưởng văn hóa, khoa học kó thuật [ 21, tr. 28].
Trên lónh vực kinh tế
Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, tư sản xuất nhỏ phổ biến là
tư nhân , cá thể,bắt đầu công cuộc cải tạo và xây dựng đến cuối năm 1979
Quận đã cơ bản hoàn thành bước đầu cải tạo và tổ chức lại sản xuất tập
thể với 11 hợp tác xã sản xuất, 128 tổ hợp sản xuất, 4 cơ sở sản xuất quốc
doanh.
Giá trò tổng sản lượng toàn ngành không ngừng được nâng lên năm
1976 đạt 4.220.824 đồng, năm 1977 đạt 21.642.060 đồng (tăng 512% so
với năm 1976).
Bước sang thập niên 80 của thế kỷ XX , trong hoàn cảnh có nhiều
khó khăn về tiền mặt, vốn đầu tư, năng lượng, vật tư, nguyên liệu, song
tình hình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong ba năm (1983
- 1986) có hướng phát triển đi lên, thuận lợi nhất từ tháng 8/1985 trở về ø
chưa đúng mức của Quận, mặt khác bản thân từng xí nghiệp chậm xác
đònh phương án sản phẩm, trang thiết bò máy móc và mặt bằng sản xuất có
được tăng cường, mở rộng nhưng chưa đáng kể (vốn cố đònh năm 1983 là
2.7 triệu đồng, năm 1985 đã tăng lên 4 triệu đồng). Do đó kinh tế quốc
15
doanh chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp.
Khu vực sản xuất tập thể đã được tổ chức sắp xếp theo 7 ngành kinh
tế – kó thuật và có nhiều chuyển biến tốt, nhất là khu vực hợp tác xã (trong
3 năm từ 1983 đến 1986 đã đưa 11 tổ sản xuất lên 11 hợp tác xã) nâng
tổng số hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp lên 25. Các hợp tác xã ngành cơ
khí và dệt phát triển mạnh và tương đối ổn đònh, công tác quản lí đònh mức
tiêu hao năng lượng, vật tư, nguyên liệu có tốt hơn.
Trong sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn 1976 – 1979, đã cơ bản đưa
nông dân từ sản xuất cá thể vào làm ăn tập thể, đã xây dựng được 1 hợp
tác xã và 16 tập đoàn sản xuất với 4.649 lao động chính và 2.200 lao động
phụ. Nổi lên những điển hình tập thể tiên tiến như hợp tác xã phường 6,
tập đoàn 1 phường 12, tập đoàn thống nhất phường 15. Có thể nói công tác
cải tạo xã hội chủ nghóa trong nông nghiệp của Quận đã hoàn thành theo
đúng kế hoạch.
Bước sang giai đoạn 1980 – 1985 trong điều kiện có nhiều khó khăn
khách quan như giá vật tư, lương thực tăng, chính sách giá cả thu mua và
đònh mức lương thực chưa hợp lí, chưa có chính sách phát triển nông
nghiệp ở Quận ven, cộng với thời tiết biến động ảnh hưởng đến sự phát
triển của cây trồng, vật nuôi. Nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn được giữ
vững và phát triển, đã mạnh dạn chuyển dòch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có
hiệu quả kinh tế cao theo quy hoạch xây dựng vành đai thực phẩm của
thành phố.
17
dạn ứng dụng khoa học – kó thuật mà giá trò sản xuất nông nghiệp tăng lên
nhảy vọt từ 25,45 tỉ đồng (1976) lên tới 79,2 tỉ đồng năm (1985).
Về phân phối lưu thông, hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghóa
từng bước được củng cố, tổ chức hoạt động kinh doanh, phục vụ có tiến bộ
hơn trước. Công tác cung ứng hàng xuất khẩu đã góp phần tích cực vào
việc cung ứng vật tư, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp trên đòa bàn
Quận… Mặt bằng thương nghiệp xã hội chủ nghóa tăng gấp 6 lần so với
năm 1983. Mạng lưới công ty, cửa hàng, điểm bán phát triển tốt, nổi bật
nhất là khu thương nghiệp Ngã Năm và các cửa hàng thực phẩm tươi sống.
Doanh số bán ra năm 1985 là 5 tỉ đồng, tăng gấp 5 lần so với năm
1983, tỉ trọng bán lẻ của thương nghiệp xã hội chủ nghóa đã tăng lên 70%
năm 1985. Công tác cải tạo thương nghiệp tư doanh có chuyển biến tốt, đã
tổ chức sắp xếp lại 5 mặt hàng thiết yếu như gạo, thòt, rau, cá và chất đốt,
đưa 91% tiểu thương ở các chợ vào 154 tổ ngành hàng mua chung bán
riêng, đã tiến hành hợp tác liên doanh với 67 hộ tiểu thương có tay nghề,
vốn liếng.
Trong xây dựng cơ bản, tình hình xây dựng cơ bản phát triển khá ở
cả 3 khu vực, nhà nước, tập thể và nhân dân. Đã mạnh dạn sử dụng vốn tự
có của Quận để đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng và cho kinh
doanh sản xuất. Quận đã đầu tư trên 158 triệu đồng cho các công trình
phúc lợi công cộng, giải tỏa nhà chật hẹp, sửa chữa nơi làm việc (câu lạc
bộ hưu trí, nhà truyền thống, đài liệt só, ủy ban nhân dân phường 1, 3; 148
căn hộ giải tỏa nhà chật hẹp, xây dựng khoa nhi ở bệnh viện Quận, sữa
chữa 33.700m2 nhà cơ quan, trung tâm hướng nghiệp Ngã Năm, xây dựng
42 phòng học phổ thông và 1.400m 2 nhà trẻ, mẫu giáo….). Các đơn vò
Sau ngày đất nước được giải phóng, một trong những nhiệm vụ của
Đảng, nhà nước cũng như các đòa phương trong đó có Gò Vấp quan tâm
thực hiện đó là công tác văn hóa xã hội.
Phong trào văn hóa văn nghệ và thông tin tuyên truyền có bước phát
triển khá. Phòng trào vận động xây dựng nếp sống mới, con người mới xã
hội chủ nghóa, con người lao động có lối sống văn minh, giàu tình thương
và biết tôn trọng lẻ phải tiếp tục chuyển biến trong từng ngành, từng giới,
từng cơ quan, xí nghiệp đến từng tổ dân phố và hộ gia đình. Trong sản xuất
đề cao ý thức lao động phấn đấu nâng cao năng suất và chất lượng. Trong
thương nghiệp thái độ phục vụ của mậu dòch viên ngày càng thể hiện “văn
minh thương nghiệp” mối quan hệ giữa người với người tại nơi cư trú có
đoàn kết gắn bó hơn.
Phong trào văn nghệ quần chúng được duy trì và phát triển với nhiều
thể loại mới sinh động hơn như “sân khấu hóa” các tiết mục tự biên tự
diễn với nội dung phản ánh sinh động các phong trào hành động cách
mạng ở cơ sở. Đã thành lập đài truyền thanh Quận, các trạm truyền thanh
phường đến các cụm loa phóng thanh khu phố, là phương tiện nhạy bén
trong công tác thông tin tuyên truyền. Nhiều phường đã xây dựng được câu
lạc bộ văn hóa góp phần khắc phục dần sự chêch lệch về hướng thụ văn
hóa trong các khu dân cư. Các hoạt động thư viện, chiếu phim, phát hành
sách có bước phát triển.
Công tác giáo dục đã phát triển đúng hướng, các ngành học có bước
phát triển tốt. Tỉ lệ thu nhận các cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ chiếm
20
35% và mẫu giáo chiếm 70%, chất lượng dạy và học có chuyển biến tốt, tỉ
lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông mỗi năm có tăng lên (năm học 1982-1983
là 74%, năm học 1985-1986 là 85%). Phong trào bổ túc văn hóa được duy
trì, nổi bật là công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông có
Đời sống vật chất còn thấp, số hộ nghèo chiếm tỉ lệ cao.
Văn hóa – giáo dục – y tế còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất, trang
thiết bò cũ kỉ, lạc hậu nên chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của
đời sống nhân dân. Số lao động chưa có việc làm còn nhiều, tỉ lệ tăng dân
số khá cao, cách mạng tư tưởng còn buông lỏng, chưa chăm lo việc xây
dựng nếp sống văn hóa mới, con người mới…. Cho nên để ổn đònh tình
hình, nâng cao đời sống nhân dân, yêu cầu phải có một cơ chế chính sách
mới.
Nhìn lại mười năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (19751985) trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội của cả nước gặp nhiều khó
khăn do hậu quả của chiến tranh để lại, do duy trì quá lâu cơ chế tập trung
quan lưu bao cấp và sự chống phá của các thế lực phản động. Nhưng dưới
sự lãnh đạo của Thành Ủy, Đảng bộ và nhân dân Gò Vấp đã từng bước
khắc phục khó khăn, kiên trì phấn đấu và đạt được những thành tựu hết
sức quan trọng trong việc ổn đònh và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy
nhiên, những thành tựu này chưa tạo ra sự thay đổi lớn trong đời sống kinh
tế, xã hội của Quận, đời sống nhân dân vẫn gặp nhiều khó khăn.