1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐÀO THỊ THƠM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC
VI SINH VẬT- THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
(Chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học sinh học.)
Vinh – 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐÀO THỊ THƠM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC
VI SINH VẬT- THPT
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học sinh học
Mã số:
60.14.10
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài……………………………………………………….15
1.1.1. Thi nghiệm và bài tập thực nghiệm............................................................15
1.1.2. Kỹ năng học tập của học sinh…………………………………………....19
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài……………………………………………………24
1.2.1. Thực trạng dạy học sinh học……………………………………………..25
1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng dạy học sinh học nói trên………………….29
4
Chương 2 – THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC NGHIỆM ĐỂ RÈN
LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN VI SINH
VẬT- SINH HỌC 10 THPT…………………………………………………….....32
2.1. Cấu trúc, nội dung phần sinh học vi sinh vật các kỹ năng tư duy cần rèn luyện
cho học sinh..............................................................................................................32
2.1.1. Cấu trúc, nội dung trong phần sinh hoc vi sinh vật có thể thiết kế bài tập
thực nghiệm…………………………………………………………….. ................32
2.1.2. Các kỹ năng tư duy cần rèn luyện cho học sinh......................................34
2.2. Hệ thống bài tập thực nghiệm rèn luyện một số kỹ năng tư duy
cho học sinh trong phần sinh học vi sinh vật……………..............................35
2.2.1. Qui trình thiết kế bài tập thực nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy
cho học sinh.............................................................................................................35
2.2.2. Hệ thống bài tập thực nghiệm rèn luyện một số kỹ năng tư duy
cho học sinh………………………………………………………………………..36
2.3. Qui trình sử dụng bài tập thực hành để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh
trongdạy học Sinh học phần vi sinh vật- sinh học 10 THPT…...............................42
2.3.1. Qui trình chung..........................................................................................42
2.3.2. Sử dụng qui trình để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh........43
Chương 3 - THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...............................................................48
3.1. Mục đích thực nghiệm.....................................................................................48
TN
: Thực nghiệm
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
--- --Trang
1. Bảng 1.1. Kết quả điều tra phương pháp giảng dạy của giáo viên………… … 25
2. Bảng 1.2. Kết quả điều tra về phương pháp sử dụng bài tập thực nghiệm….. …26
3. Bảng 1.3. Kết quả điều tra ý kiến của học sinh………………………………….26
4. Bảng 1.4. Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên…………………………….. …27
5. Bảng 1.5. Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện của học sinh………………….27
6. Bảng 1.6. Kết quả điều tra về học tập của học sinh…………………………. ...28
7. Bảng 1.7. Kết quả điều tra ý kiến đánh giá của giáo viên……………………. ..29
8. Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số của bài kiểm tra ………………………….. ..49
9. Bảng 3.2. Bảng phân phối tần suất…………………………………………… ..49
10. Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất lũy tích………………………………… ..49
11. Bảng 3.4. Bảng phân loại trình độ qua các lần kiểm tra…………………….. ..50
12. Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng…………………………….. .50
13. Bảng 3.6. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra…………………………... 51
14. Bảng 3.7. Bảng phân phối tần suất…………………………………………… 52
15. Bảng 3.8. Bảng phân phối tần suất lũy tích………………………………….. .52
16. Bảng 3.9. Bảng phân loại trình độ qua các lần kiểm tra……………………… 52
17. Bảng 3.10. Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng……………………………..53
18. Bảng 3.11. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra…………………………. .54
19. Bảng 3.12. Bảng phân phối tần suất …………………………………………. .54
20. Bảng 3.13. Bảng phân phối tần suất lũy tích………………………………… .54
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập
cho học sinh”.
Do đó giáo viên phải chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp, hình thức
tổ chức giáo dục cho phù hợp với nội dung bài học, đối tượng cụ thể. Trong đó,
quan trọng nhất là nâng cao chất lượng hình thành cho học sinh những khái niệm,
cơ chế, quá trình cơ bản của môn học, phát huy năng lực trí tuệ của học sinh trong
quá trình dạy hoc. Các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục ở nước ta đã
chỉ rõ chất lượng học tập của học sinh nước ta đã có một số chuyển biến trong
những năm qua. Song đối chiếu với yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn còn thấp, còn nhiều yếu kém,
bất cập. Đa số học sinh còn thiên về cách học tích lũy tri thức trong sách giáo khoa,
coi trọng ghi nhớ các sự kiện, công thức, quy trình, quen làm theo các mẫu đã cho,
học theo lối học thuộc lòng.
Thực tế giảng dạy các môn khoa học thực nghiệm nói chung và môn Sinh học
nói riêng ở nhà trường phổ thông hiện nay, nhiều giáo viên vẫn còn áp dụng phương
pháp dạy học cổ truyền: thông báo, nhồi nhét kiến thức, lí thuyết chưa gắn với thực
9
hành. Học sinh không được tạo điều kiện để bồi dưỡng phương pháp nhận thức, rèn
luyện tư duy khoa học, phát triển năng lực tự giải quyết vấn đề. Về phía giáo viên,
phần nhiều có tâm lí ngại sử dụng thí nghiệm trong các giờ dạy và có xu hướng dạy
chay. Hậu quả của các tồn tại trong dạy học nói trên, dẫn đến hạn chế sự phát triển
tư duy của học sinh, dần dần mất đi những hiểu biết sáng tạo vô cùng lí thú của bộ
môn khoa học thực nghiệm này.
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, kho tàng tri thức nhân loại ngày
nay đều được rút ra từ quan sát, từ các thí nghiệm. Nếu như quan sát là phương
pháp nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng trong điều kiện tự nhiên thì phương
pháp thí nghiệm nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng trong điều kiện nhân tạo.
Nếu thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm phù hợp nội dung, phát huy tính
tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập thì sẽ rèn luyện được kỹ năng tư duy
cho học sinh và nâng cao chất lượng dạy - học Sinh học 10 nói riêng và Sinh học
nói chung ở trường trung học phổ thông.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải thực hiện được các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
4.1. Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về bài tập thực nghiệm, vai trò và phương
pháp sử dụng bài tập thực nghiệm, hệ thống các nhóm kỹ năng, kỹ năng nhận thức
của học sinh.
4.2. Nghiên cứu quy trình, nguyên tắc, kỹ thuật thiết kế các bài tập thực
nghiệm.
4.3. Thiết kế hệ thống các bài tập thực nghiệm nhằm rèn luyện một số kỹ
năng tư duy cho học sinh trong dạy - học Sinh học 10 phần vi sinh vật.
4.4. Nghiên cứu qui trình sử dụng các bài tập thực nghiệm để rèn luyện một
số kỹ năng tư duy cho học sinh trong dạy - học Sinh học 10 phần vi sinh vật- trung
học phổ thông.
4.5. Thực nghiệm sư phạm để khảo sát khả năng giải và xử lý các bài tập thực
nghiệm của học sinh, xác định hiệu quả rèn luyện một số kỹ năng tư duy của việc sử
dụng các bài tập thực nghiệm.
5. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các bài tập thực nghiệm và phương pháp sử dụng chúng để rèn luyện kỹ năng
tư duy cho học sinh trung học phổ thong phần sinh học vi sinh vật.
11
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
6.1.1. Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm bằng phương pháp thực nghiệm chéo ở 3
trường trung học phổ thông ở tỉnh Nghệ An. Trong đó mỗi trường chọn 2 lớp khối
10 (1 lớp thực nghiệm; 1 lớp đối chứng). Các lớp đối chứng và thực nghiệm có sĩ số
gần bằng nhau, có trình độ và chất lượng học tập ngang nhau.
- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi kết hợp với giáo viên bộ môn ở các
trường để thảo luận và thống nhất nội dung, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh
giá.
- Các lớp thực nghiệm: Giáo án được thiết kế theo phương pháp sử dụng bài
tập thực nghiệm đã đề xuất. Các lớp đối chứng: Giáo án được thiết kế theo phương
pháp của giáo viên đang dạy (không sử dụng bài tập thực nghiệm).
- Các lớp TN và ĐC ở mỗi khối lớp của mỗi trường được cùng một giáo viên
giảng dạy, đồng đều về thời gian, nội dung kiến thức và bài kiểm tra đánh giá.
6.5. Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí kết quả nghiên cứu
Sử dụng một số công cụ toán học để xử lý các kết quả điều tra và kết quả
thực nghiệm sư phạm. Các tham số sử dụng để xử lý:
- Phần trăm (%).
- Trung bình cộng:
X =
1
n
S2 =
i i
S
n
S
100%
X
- Kiểm định độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình:
td =
X1 − X 2
Sd
n1 .n2
n1 + n2
và
Sd =
( n1 − 1) S12 + ( n2 − 1) S 22
( n1 + n2 ) − 2
13
Trong đó:
Xi: Giá trị của từng điểm số (theo thang điểm 10).
ni: Số bài có điểm Xi.
X 1 , X 2 : Điểm số trung bình của 2 phương án: thực nghiệm và đối chứng.
n1, n2: Số bài trong mỗi phương án.
tư duy cho học sinh.
10. SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
10.1. Trên thế giới
Phương pháp thực nghiệm được xây dựng ở thế kỷ XVII và rất có hiệu quả
trên con đường đi tìm chân lý. Ông tổ xây dựng phương pháp này chính là Galile –
nhà vật lí học. Ông cho rằng “Muốn hiểu biết thiên nhiên phải trực tiếp quan sát
thiên nhiên, phải làm thí nghiệm, phải hỏi thiên nhiên chứ không hỏi Aristôt hoặc
kinh thánh...”. Về sau, các nhà khoa học khác đã kế thừa phương pháp đó và xây
dựng nó cho hoàn chỉnh hơn. Phương pháp này được thâm nhập vào nhiều ngành
khoa học tự nhiên cũng như các ngành khoa học xã hội khác.
Nghiên cứu phương pháp thực hành trong dạy học không phải là một vấn đề
mới. Ngay sau khi Galile xây dựng phương pháp thực nghiệm, J.A Konmenxki, một
nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt học
sinh phải tìm tòi suy nghĩ để nắm được bản chất của các sự vật hiện tượng, trong đó
có phương pháp thực hành thí nghiệm. J. J Ruxo cũng cho rằng phải hướng học sinh
tích cực tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.
Vận dụng phương pháp thực hành vào dạy học đã được nhiều nhà giáo dục
trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: B.P Exipop, M.A Danilop, M.N Scattin, I.F
Kharlamov, I.I Samova, M.N Veczelin (Nga), Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan).
Skinner (1904-1990) trong tác phẩm “Công nghệ dạy học” (1968) đã cho rằng: dạy
học là quá trình tự khám phá, và ông đã đưa ra mô hình dạy học khám phá bằng
việc sử dụng thí nghiệm thực hành.
Dạy học bằng phương pháp thực hành thí nghiệm đã được sử dụng ở nhiều
nước tiên tiến trên thế giới từ (Anh, Pháp Mỹ, Đức..), bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và
phát triển rầm rộ từ nửa sau của thế kỷ này. Ở Pháp vào những năm 1980-1990, đã
có nhiều trường sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học và được
xem là phương pháp trọng tâm của các môn khoa học tự nhiên ở các trường trung
học. Năm 1980, ông Pie Giôliô Quiri - Viện trưởng viện hàn lâm Pháp đã khởi
xướng phương pháp Lamap - “bàn tay nặn bột”, bắt nguồn từ thực trạng xuống cấp
của sinh viên các ngành khoa học tự nhiên. Với phương pháp này Viện hàn lâm
Nguyễn Thị Liên, “Khai thác sử dụng bài tập thí nghiệm nhằm phát huy tính
tích cực sáng tạo của học sinh trong dạy học phần Quang học lớp 7 Trung học sơ
sở”- Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế, 2004. Theo tác giả, một trong những
yếu tố tăng cường tính tích cực sáng tạo của học sinh là sử dụng các bài tập thí
nghiệm. Cao Ngọc Sằng (2005), “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm hóa học theo
16
hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phần Vô cơ ở
trường trung học phổ thông”- Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế.
Nguyễn Thị Dung- Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội có bài “Tích cực hóa
hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố môn Sinh học ở phổ thông” (Tạp chí
Giáo dục số 6 - 2006). Tác giả cho rằng với quan niệm dạy học mới hiện nay, việc
tích cực hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố cần được coi trọng, bằng
cách tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm con đường chứng minh cho các vấn đề
được học.
Nguyễn Tiến Dũng, (2007) với đề tài “Tác dụng của bài tập thí nghiệm trong
dạy học vật lí ở trường phổ thông”.[6], [7], [10], [17], [22].
Như vậy, việc sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học đã
được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm. Tuy nhiên, việc sử dụng bài tập thực nghiệm
để rèn luyện các kỹ năng học tập của học sinh còn rất hạn chế. Vì vậy, việc đi sâu
nghiên cứu lý luận, thiết kế và sử dụng các bài tập thực nghiệm để rèn luyện kỹ
năng tư duy cho học sinh trong dạy học Sinh học là rất cần thiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
các quá trình sinh lí, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên sinh vật. Học sinh tự
mình khám phá ra những điều mới mẻ từ tác động chủ ý của các em lên đối tượng
18
thí nghiệm, qua đó kích thích hứng thú học tập, tạo sự say mê, niềm tin yêu khoa
học. Các em thấy được vai trò của con người trong việc chinh phục cải tạo tự nhiên.
1.1.1.3. Vai trò của bài tập thực nghiệm
Bài tập thực nghiệm giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu
đào tạo, trong việc hình thành nhân cách của học sinh và phát huy được tính tự giác,
tự lực, sáng tạo của học sinh, cụ thể:
- Qua bài tập thực nghiệm, học sinh có điều kiện tự tìm mối quan hệ giữa cấu
trúc và chức năng, giữa hiện tượng và bản chất, giữa nguyên nhân và kết quả, do đó
giúp các em nắm vững tri thức, phát triển các khái niệm.
- Bài tập thực nghiệm tạo sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh trong quá
trình học tập. Trong khi lập các phương án để tiến hành thí nghiệm, học sinh thường
dự đoán quá trình xảy ra của hiện tượng hay kết quả thí nghiệm. Nếu kết quả đúng
như dự kiến làm cho học sinh tin tưởng vào sự phù hợp giữa lí thuyết và thực
nghiệm. Nếu thí nghiệm xảy ra không đúng như dự đoán sẽ gây nên sự ngạc nhiên,
thu hút các em tìm lời giải thích. Đây chính là các yếu tố gây nên các tình huống có
vấn đề trong tư duy, kích thích sự tò mò ham hiểu biết của học sinh, tạo niềm tin và
hứng thú học tập.
- Bài tập thực nghiệm tạo điều kiện cho học sinh quan sát, tiếp xúc sử dụng
các thiết bị thí nghiệm nên nó là phương pháp có ưu thế nhất để rèn luyện các thao
tác tư duy, các kỹ năng, kỹ xảo bộ môn và ứng dụng tri thức vào đời sống. Do đó,
nó là điều kiện tốt nhất để thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, đáp ứng yêu cầu
giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
- Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện đức tính tự lực, cẩn thận, tỉ
mỉ, kiên trì, ý chí và nhân cách, mang lại cho người học niềm say mê học tập. Qua
Việc vận dụng bài tập thực nghiệm tư duy trên giấy và bút, tuy học sinh không
có điều kiện học tập và rèn luyện các thao tác thí nghiệm, nhưng ưu điểm chính của
phương pháp là đòi hỏi học sinh phải tư duy tích cực mới có thể hiểu được thí
nghiệm, trả lời được các câu hỏi, bài tập để tìm ra được kết luận cần thiết. Vì vậy
hình thức thí nghiệm tư duy không chỉ vận dụng trong dạy và học Sinh học ở các
nước đang phát triển, kinh tế khó khăn mà ngay cả ở các nước phát triển hình thức
này cũng được vận dụng. [5], [27].
- Dựa vào các giai đoạn của quá trình dạy học
+ Bài tập thực nghiệm hình thành kiến thức mới
20
Trong khâu nghiên cứu bài học mới, bài tập thực nghiệm được dùng như là
một bài tập tình huống, bài tập nhận thức, đặt ra vấn đề mới mà khi giải xong học
sinh sẽ lĩnh hội được kiến thức mới và hình thành nên kỹ năng mới. Học sinh phải
tự mình tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, phân tích thí nghiệm…để rút ra
kết luận có giá trị nhận thức mới. Vai trò của giáo viên là hướng dẫn học sinh phân
tích kết quả, tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng các câu hỏi định hướng. Bài tập này
thường đưa ra trước khi nghiên cứu một nội dung mới, vấn đề mới.
+ Bài tập thực nghiệm củng cố - hoàn thiện kiến thức
Các bài tập thực nghiệm được sử dụng trong khâu hoàn thiện kiến thức
thường được tiến hành sau khâu dạy bài mới, vào cuối tiết học, giờ thực hành, ngoại
khóa, ôn tập cuối chương, cuối học kì hoặc ôn tập cuối năm…Các bài tập này có tác
dụng lớn trong việc chính xác hóa các khái niệm, tăng cường tính vững chắc, tính
hệ thống các kiến thức và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo. Trong đó, việc xác lập các mối
quan hệ giữa các biểu tượng về sự vật hiện tượng cụ thể với các khái niệm trừu
tượng có vai trò quan trọng.
+ Bài tập thực nghiệm kiểm tra đánh giá
Tóm lại, bài tập thực nghiệm cung cấp cho học sinh cả kiến thức, cả phương
thức giành lấy kiến thức và mang lại niềm vui trong học tập của sự phát hiện. Do
đó, bài tập thực nghiệm vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy
học hiệu nghiệm nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh và rèn luyện
được các kỹ năng kỹ xảo cần thiết. Bài tập thực nghiệm có tác dụng toàn diện về cả
3 mặt: giáo dục, giáo dưỡng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đáp ứng được yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy và học hiện nay.
1.1.2. Kỹ năng học tập của học sinh.
1.1.2.1. Kỹ năng
Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng nhưng tựu trung lại, bất kì kỹ năng
nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức. Mỗi kỹ năng chỉ được biểu hiện
thông qua một nội dung, tác động của kỹ năng lên nội dung chúng ta sẽ đạt được
mục tiêu đặt ra.
Mục tiêu =
Kỹ năng
x
Nội dung. [12].
1.1.2.2. Kỹ năng học tập.
Kỹ năng học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành
động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt tới mục đích,
nhiệm vụ đề ra.
22
Trong hệ thống kỹ năng học tập, có những kỹ năng khái quát chung cho mọi
23
Phân tích - tổng hợp trong Sinh học thường được dùng để phân tích cấu tạo,
cơ quan…, phân tích thí nghiệm, phân tích cơ chế, quá trình. Trong giới hạn của
luận văn, chúng tôi chỉ chú ý kỹ năng phân tích thí nghiệm Sinh học. Kỹ năng phân
tích thí nghiệm là kỹ năng phân tích các yếu tố cấu thành nên thí nghiệm, các điều
kiện thí nghiệm, sự tương tác giữa các yếu tố thí nghiệm để tạo ra kết quả thí
nghiệm, qua đó rút ra được kết luận phù hợp, giải thích được các kết quả thí
nghiệm.
- Kỹ năng so sánh
Trong nhận thức cùng với sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng là cái gì và như
thế nào, còn phải hiểu sự vật hiện tượng này không giống sự vật hiện tượng khác ở
chỗ nào thì phải sử dụng đến phương pháp so sánh.
So sánh là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối
tượng, nhằm phân loại sự vật hiện tượng thành các loại khác nhau.
Tùy mục đích mà phương pháp so sánh có thể nặng về tìm sự giống nhau hay
khác nhau. So sánh điểm khác nhau chủ yếu dùng trong phân tích, so sánh điểm
giống nhau thường dùng trong tổng hợp.
Trong thực nghiệm về Sinh học người ta thường dùng cách so sánh có đối
chứng, nghĩa là so sánh kết quả của hai đối tượng cùng loại, có đặc điểm hoặc sự
tác động trái ngược nhau.
Qua so sánh giúp học sinh phân biệt, hệ thống hóa và củng cố các khái niệm.
[1], [2].
- Kỹ năng phán đoán- suy luận
Theo từ điển Tiếng Việt, phán đoán là sự xét đoán, nhận định.
Phán đoán là một hình thức của tư duy trừu tượng nhằm xác nhận hay phủ
nhận mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng được phản ánh.
Kỹ năng phán đoán là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái
cứu, để rồi sau đó lại đặt nó vào hệ thống các hiện tượng vốn có của sự vật giúp ta
hiểu được nó một cách đầy đủ hơn.
Khi thiết kế thí nghiệm học sinh có thể dựa vào các dụng cụ, thiết bị thí
nghiệm đã cho sẵn, hoặc có thể tự nghĩ ra dụng cụ thiết bị để thiết kế một thí
nghiệm nhằm kiểm tra một phán đoán, một mệnh đề nào đó. [2], [13].
Trong dạy học Sinh học việc rèn luyện cho học sinh tự mình đề xuất các
phương án thí nghiệm, tự bố trí thí nghiệm và tự giải thích thí nghiệm là một vấn đề
rất quan trọng. Qua đó, giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tính tự lập trong
học tập và nghiên cứu khoa học.
1.1.2.4. Rèn luyện kỹ năng cho học sinh
25
Theo Geoffrey Petty (1998) qui trình rèn luyện một kỹ năng gồm có 8 bước:
Bước 1: Giải thích - Giáo viên giúp học sinh hiểu vì sao phải có kỹ năng
đó? Vị trí của kỹ năng đó trong hoạt động nghề nghiệp tương lai? Kỹ năng đó liên
quan đến kiến thức lí thuyết nào đã học? Có thể kiểm tra thăm dò học sinh đã biết
chút ít gì về kỹ năng sắp học hay chưa?
Bước 2: Làm chi tiết - Học sinh được xem trình diễn mẫu một cách chi tiết,
chính xác để có một mô hình bắt chước. Cần tạo cho học sinh nắm bắt những chi
tiết mấu chốt của kỹ năng như cho băng hình quay chậm hoặc dừng lại, giáo viên
đặt câu hỏi gợi mở để học sinh phát hiện ra những chi tiết quan trọng nhất.
Bước 3: Sử dụng kinh nghiệm mới học - Học sinh thử làm theo mẫu được
xem.
Bước 4: Kiểm tra và hiệu đính - Giáo viên tạo cơ hội để học sinh tự kiểm
tra phát hiện những chỗ là sai của chính mình và biết cần hiệu chỉnh ở chỗ nào.
Giáo viên cần giám sát, giúp đỡ nếu học sinh không tự phát hiện được, đặc biệt là
các kỹ năng phức tạp.
Bước 5: Hỗ trợ trí nhớ - Học sinh cần có những phương tiện ghi nhớ điểm