Nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết nguyễn kiên luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------

BÙI THỊ THANH

NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------

BÙI THỊ THANH

NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KIÊN

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN – 2012

4

7. Cấu trúc luận văn.....................................................................................

4

Chương 1. NHÌN CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC TIỂU
THUYẾT CỦA NGUYỄN KIÊN ...............................................................

6

1.1. Giới thuyết chung về tiểu thuyết........................................................

6

1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết.........................................................................

6

1.1.2. Đặc trưng và ưu thế của tiểu thuyết...................................................

7

1.2. Vài nét về đề tài nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại.......................................................................................

11

1.2.1. Nông thôn trong tiểu thuyết trước 1945.............................................



2.1.2. Những người cán bộ lãnh đạo ở nông thôn .......................................

45

2.1.3. Những người phụ nữ bất hạnh...........................................................

45

2.2. Hình tượng cuộc sống.........................................................................

51

2.2.1. Xã hội nông thôn trong phong trào hợp tác hóa................................

62

2.2.2. Tâm lí tiểu nông của người nông dân ...............................................

67

2.2.3. Cuộc sống bấp bênh, đói nghèo.........................................................

67

2.3. Hình tượng thiên nhiên......................................................................

7

2.3.1. Thiên nhiên làng quê đẹp nhưng gợi buồn........................................

6

3.2.3. Sử dụng phương ngữ Bắc bộ ............................................................

8

3.3. Nghệ thuật thể hiện không gian, thời gian........................................ 6
3.2.1. Nghệ thuật thể hiện không gian.........................................................

8

3.2.2. Nghệ thuật thể hiện thời gian............................................................. 6
KẾT LUẬN..................................................................................................

93

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................

97
10
0
10


0
10
4
109
113
114

việc giảng dạy tiểu thuyết nói chung và mảng sáng tác về đề tài nông thôn,
người nông dân nói riêng trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Kiên vào làng văn cách nay gần 60 năm, là tác giả của hơn
mười tập truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, trong đó tác phẩm Chim


2
khách kêu đã được giải thưởng Hội nhà văn năm 2001. Năm 2002, cũng với
Chim khách kêu, nhà văn Nguyễn Kiên đã vinh dự nhận được giải thưởng
văn học Đông Nam Á. Chừng đó thôi đủ để khẳng định tài năng và vị trí
của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có công trình lớn nào tập trung nghiên cứu về những sáng tác của
Nguyễn Kiên. Bàn về những sáng tác của ông còn ít và mới chỉ dừng lại ở
những nhận xét, khái quát mang tính chung chung.
Trong cuốn Văn học Việt Nam hiện đại (1945 – 1975), khi đánh giá về
những thành tựu của văn xuôi 1954 – 1964, tác giả Mã Giang Lân viết:
“Thành tựu nổi bật của văn xuôi viết về nông thôn thể hiện trong những
sáng tác về thời kì xây dựng hợp tác hóa nông nghiệp. Những tác phẩm tiêu
biểu: Xung đột (Nguyễn Khải), Cái hom gió (Vũ Thị Thường), Cái lô cốt
(Châu Diên), Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Hãy đi xa hơn nữa,
Người trở về (Nguyễn Khải), Đồng tháng năm (Nguyễn Kiên), Con trâu
bạc (Chu Văn)... Không chỉ bám sát hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội,
phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai con đường đang diễn ra quyết liệt, đa
dạng ở nông thôn mà còn giải quyết được nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội
rộng lớn trong quá trình đưa nông thôn từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn,
chuyển người nông dân từ vị trí làm chủ cá thể sang cương vị làm chủ tập
thể” [33; 26]. Đánh giá này của tác giả Mã Giang Lân cho thấy: Nguyễn
Kiên là một trong những nhà văn viết và thành công ở đề tài nông nông
thôn và người nông dân, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn.

Nguyễn Kiên chủ yếu sáng tác trên hai thể loại truyện ngắn và tiểu
thuyết. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về
tiểu thuyết, cụ thể là ba tác phẩm sau: Vùng quê yên tĩnh, Nhìn dưới mặt
trời và Một cảnh đời. Các tác phẩm này được in trong sách Vùng quê yên
tĩnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008.


4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề về nông thôn và người nông dân đặt ra trong
tiểu thuyết Nguyễn Kiên.
- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện vấn đề nông thôn và người nông dân trong
tiểu thuyết Nguyễn Kiên.
- Bước đầu xác định vai trò, vị trí của tiểu thuyết Nguyễn Kiên trong dòng
chảy tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, trước hết là mảng tiểu thuyết viết về
nông thôn.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích và làm rõ những khám phá riêng về con người,
cuộc sống ở nông thôn và những nét đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện con
người, cuộc sống ở nơi đây trên thể loại tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn
Kiên.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh
viên, học viên ngành Ngữ văn và những ai quan tâm đến sáng tác của
Nguyễn Kiên nói chung và tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn và người
nông dân nói riêng.
7. Cấu trúc luận văn

XIX, với sự xuất hiện của Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái,
nước ta mới có tác phẩm có qui mô tiểu thuyết. Phải sang đầu thế kỉ XX,
nhất là với dòng văn học lãng mạn và hiện thực phê phán (1932 - 1945), ở
Việt Nam mới có tiểu thuyết hiện đại.
Xung quanh khái niệm tiểu thuyết có nhiều vấn đề phức tạp, không dễ
thống nhất. Đi tìm một định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết có thể ứng cho mọi
trường hợp trong thực tế văn học là điều khó có thể làm được. Các nhà lí
luận vì thế, tùy theo góc nhìn và hoàn cảnh phát biểu, khi thì nhấn mạnh
đặc điểm này, khi thì nhấn mạnh đặc điểm kia mà đưa ra quan điểm khác
nhau về tiểu thuyết.


7
Ở nước ngoài, Heghen gọi tiểu thuyết là “sử thi tư sản hiện đại” và
nhấn mạnh tính chất “văn xuôi” của tiểu thuyết. Nhà lí luận Dân chủ cách
mạng Nga, Biêlinxky cho tiểu thuyết là “Sự tái hiện thực tại với sự thực
trần trụi của nó”, là “xây dựng một bức tranh toàn vẹn, sinh động và thống
nhất”.
Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết cũng được bàn đến nhiều. Phạm
Quỳnh, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Công Hoan đều có những
bài viết bàn về tiểu thuyết. Nhưng có lẽ người sớm nhất bàn về tiểu thuyết
là Phạm Quỳnh. Trong bài “Bàn về tiểu thuyết” đăng trên Nam Phong
(1921), Phạm Quỳnh viết: “Tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn
xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những sự tích lạ
đủ làm cho người đọc có hứng thú” [50; 12].
Cho đến nay, nhiều người tán đồng với định nghĩa về tiểu thuyết trong
sách Từ điển thuật ngữ văn học (của nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có
khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời
gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức

đời tư, đời thường của nhân vật, đặt nhân vật trong nhiều mối quan hệ phức
tạp của cuộc sống hàng ngày. Đến đây, tiểu thuyết thực sự được trở về với
mảnh đất quen thuộc của nó.
1.1.2.2. Chất văn xuôi
Chất văn xuôi là đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại, nó làm
cho tiểu thuyết có sự khác biệt so với các thể loại khác. Đặc điểm này đòi
hỏi nhà văn phải tái hiện cuộc sống không lãng mạn hóa, không thi vị hóa
mà phải miêu tả cuộc sống khách quan với đầy đủ tính chất phức tạp và đa
dạng, “toàn vẹn và sinh động” của nó. Tính chất văn xuôi tạo nên một
trường lực mạnh mẽ để tiểu thuyết hấp thụ vào mình mọi yếu tố ngổn
ngang, bề bộn của cuộc đời, bao hàm cái cao cả lẫn cái tầm thường, cái


9
nghiêm túc lẫn cái buồn cười, cái bi lẫn cái hài. Nói cách khác đó là chất
văn xuôi của cuộc đời. Bằng cách ấy, tiểu thuyết đủ khả năng phơi bày đến
tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống.
1.1.2.3. Nhân vật tiểu thuyết thường là con người nếm trải
Con người nếm trải là khái niệm được đưa ra nhằm chỉ những nhân vật
phải chịu rất nhiều những trải nghiệm trong cuộc đời với bao nhiêu thăng
trầm, biến đổi, những đau khổ dằn vặt, suy nghĩ. Bởi lẽ, nhân vật trong tiểu
thuyết luôn chịu tác động của hoàn cảnh. Trong sử thi nhân vật tương đối
đơn giản, phù hợp với quan niệm phổ biến về kiểu loại nhân vật đó. M.
Bakhtin nhận xét, con người trong tiểu thuyết khác với sử thi là thường
không đồng nhất với chính nó. Một người có địa vị cao trong xã hội nhưng
lại xử sự rất xấu và ngược lại. Nghĩa là nhân cách con người tiểu thuyết
phức tạp hơn nhiều so với những lược đồ đơn giản về vị thế, giới tính, giai
cấp,…của chính họ. Vì vậy mặt tâm lí của nhân vật luôn là trung tâm nhấn
mạnh của tiểu thuyết. Điều này sử thi cổ đại và truyện trung đại chưa chú ý
nhiều. Có thể nói, không một loại hình nghệ thuật nào bỏ qua được khía

lí tưởng hóa của tác giả với đối tượng miêu tả. Tiểu thuyết xóa bỏ khoảng
cách này để miêu tả hiện thực như cái đang xảy ra so với thời của người
trần thuật. Là người cùng thời, nên cho phép người trần thuật tiếp xúc, nhìn
nhận các nhân vật gần gũi như những người bình thường, có thể hiểu được
họ bằng kinh nghiệm của mình. Chính khoảng cách gần gũi này làm cho
tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, nó cho phép người trần thuật có
thể có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã đối với nhân vật, do đó có thể
nhìn nhân vật từ nhiều chiều, sử dụng nhiều giọng nói. Tiểu thuyết hấp thu
mọi loại giọng điệu khác nhau của đời sống, cho nên có khả năng tạo nên
những đối thoại giữa các giọng khác nhau mà ta gọi là đa thanh, đa giọng.
1.1.2.6. Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tổng hợp nhiều nhất những
đặc trưng nghệ thuật của các loại hình nghệ thuật khác


11
Tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp. Từ trong tiềm
năng thể loại, tiểu thuyết có khả năng tổng hợp những phong cách nghệ
thuật của các thể loại văn học khác như thơ, kịch, kí,... và khả năng tổng
hợp những thủ pháp nghệ thuật của các loại hình lân cận như điện ảnh, hội
họa, điêu khắc, âm nhạc,... Vì vậy, nó tiếp thu những cái tốt đẹp của các thể
loại đã có, sáng tạo thêm những cái mới. Có thể bắt gặp trong tiểu thuyết
những rung động tinh tế, cảm xúc dâng trào của thơ ca, những xung đột xã
hội gay gắt của hình thái kịch, những mảng hiện thực nóng hổi chất sống
trực tiếp của kí, những sắc màu của hội họa, những điệp khúc, âm thanh của
âm nhạc, sự hỗ trợ, thay thế kí hiệu ngôn ngữ bằng những khuôn hình của
điện ảnh, những bức chân dung hài hòa, cân xứng của điêu khắc,... Tiểu
thuyết thế kỷ XIX và XX đã cung cấp nhiều mẫu mực về sự tổng hợp đó.
Chẳng hạn, tiểu thuyết sử thi - tâm lí của L.Tonxtoi, tiểu thuyết - kịch của
Marcel Proust, tiểu thuyết thế sự - trữ tình của M. Gorki, tiểu thuyết sử thi trữ tình của Hemingue,… Những hiện tượng tổng hợp đó cho thấy thể loại
tiểu thuyết là thể loại luôn vận động không đứng yên.

phúc. Vì vậy, kết thúc tác phẩm bao giờ cũng có hậu. Tất cả những người
nông dân đại diện cho chính nghĩa đều được đền bù xứng đáng. Có thể thấy,
ước mơ ấy sẽ không thành hiện thực hoàn toàn nhưng một chút lãng mạn
tích cực đó lại có tác dụng xoa dịu nỗi đau của bao người đang còn phải
gánh lấy bao sự ngang trái của cuộc đời. Nếu không có sự thông cảm, yêu
thương đối với người nông dân nghèo khổ, chắc hẳn tác giả sẽ không có
được tình cảm trên. Tuy nhiên, qua tiểu thuyết của mình, Hồ Biểu Chánh
còn thể hiện cái nhìn còn lệch lạc, có phần xem nhẹ vai trò của người nông
dân trong xã hội. Từ đó, ông chưa xác định đúng mức vị trí của họ trong
cuộc đấu tranh xóa bỏ bất công, chống áp bức. Cuộc đấu tranh mặc dù còn
diễn ra tự phát, nhưng cũng có sức lan rộng ở Nam bộ vào những năm đầu
thế kỉ XX.


13
Đó là hai tác giả mở đầu cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Phải
đến những năm 30 của thế kỉ XX, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại mới đạt
đến đỉnh cao. Vì vậy, khi tìm hiểu về tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết
viết về nông thôn và người nông dân nói riêng, chúng ta có thể bắt đầu từ
1932 để nghiên cứu.
Từ 1932 - 1945, các nhà văn đã có ý thức cao của một người cầm bút.
Mỗi nhà văn đã dần xác lập được quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng
thẩm mĩ của riêng mình. Sự khác nhau này dẫn đến sự phân hóa thành
nhiều xu hướng trong nội bộ nền văn học. Văn học 1932-1945 phân ra làm
3 dòng chính: Văn học lãng mạn, Văn học hiện thực phê phán và Văn học
cách mạng. Riêng tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn chủ yếu được xuất
hiện trong các sáng tác của văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê
phán.
1.2.1.1. Nông thôn trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Tiêu biểu cho dòng văn học lãng mạn là nhóm Tự lực văn đoàn. Trước

suy nghĩ lao lung, Doãn mới có một lời tự hứa, chưa rõ Doãn sẽ làm gì. Tác
phẩm chấm hết, để lại cho người đọc một nỗi băn khoăn là bởi cái hướng
còn mơ hồ quá, chính tác giả cũng chẳng rõ Doãn sẽ làm gì !.
Tương tự, Duy trong Con đường sáng, Bảo, Hạc trong Gia đình cũng
giải quyết vấn đề một cách mơ hồ, không dứt khoát. Con đường sáng của
Hoàng Ðạo viết năm 1938. Hoàng Ðạo quan niệm: thanh niên trụy lạc thì
đau khổ. Họ phải sống có lí tưởng. Họ phải thoát con đường tối, con đường
trụy lạc, đi tìm "Con đường sáng". Con đường sáng ấy là ở cuộc sống phục
vụ dân quê. Nó gập ghềnh khúc khuỷu. Phải kiên trì đi tới mới thành công
và có hạnh phúc. Duy là một thanh niên có học, con nhà giàu và đã lao vào
con đường trụy lạc. Nhưng Duy sớm nhận ra được sự trống rỗng trong cuộc
đời. Có lúc Duy muốn quyên sinh. Duy lo sợ những ngày sắp tới Duy mơ
ước một cuộc đời giản dị, trong sạch. Duy tha thiết sống và tình yêu của
Thơ khiến cho Duy càng tha thiết với sự sống hơn. Gần Thơ, gần cuộc sống


15
nơi thôn dã, dần dần Duy đã tìm thấy hạnh phúc ở nơi đây. Quan tâm đến
đời sống của nông dân, Duy buồn rầu nhận thấy những nỗi khổ cực của họ.
Duy đi tìm lí tưởng, lí tưởng đó là :"làm dịu nỗi đau khổ của nông dân, đưa
những người sống tấm thảm kịch kia đến một đời êm đẹp". Thế là Thơ và
Duy bắt tay vào công việc. Nhưng công việc to lớn, khó khăn quá: "xung
quanh thành kiến mạnh mẽ và kiên cố quá, sự ngu độn dày đặc quá. Duy có
cái cảm tưởng rằng mình chỉ là một con ruồi mắc trong một cái mạng nhện,
vùng vẫy mãi không sao thoát ra được. Chàng cảm thấy cái yếu đuối, cái
hèn mọn của con người trước trái núi sừng sững ấy...". Chính bởi cái xu
hướng "bình dân" của tác phẩm không phải là xu hướng cách mạng, cho
nên: "sau một giây mộng tưởng ngắn ngủi. Duy càng thấy vô vị chua cay
của thực tế; ở đây chỉ có chàng với cái yếu đuối cái hèn mòn ...".
Gia đình của Khải Hưng viết 1936. Khải Hưng đã đối lập cuộc sống

Trong Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), tác giả đã vạch trần
bản chất xấu xa, đầy tội lỗi của bộ mặt cai trị nông thôn và dựng lên nhân
vật Nghị Lại - một nhân vật điển hình khá toàn diện về giai cấp địa chủ thối
nát, phản động với tính cách xảo quyệt, thủ đoạn đầy mưu mô. Tác giả tập
trung vạch trần tham vọng cướp ruộng đất của bọn địa chủ, chủ yếu bằng
thủ đoạn cho vay cắt cổ. Chính đây là nguyên nhân đã đẩy gia đình anh Pha
vào cảnh nhà nát cửa tan, tới cảnh bước đường cùng.
Ở tác phẩm Vỡ đê, dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, nạn nhân của
chế độ thực dân nửa phong kiến không chỉ là một vài người lẻ tẻ mà cả
hàng loạt người bị bần cùng hóa. Họ phải bỏ làng đi kiếm ăn với những
manh chiếu rách, những khăn nải sau lưng. Người đọc không khỏi bị ám
ảnh trước cảnh “người gánh hai cái thúng, trong thúng có một vài đứa bé,


19
trong mỗi đứa bé có vài ngày đói khát” hay cảnh những đưa bé trần truồng
chửi nhau vì một quả sung xanh, vài ngọn rau. Đó là những cảnh xảy ra
hàng ngày ở nông thôn nhưng chưa bao giờ được phản ánh đầy đủ, trung
thành như trong Vỡ đê.
Có thể nói đời sống nông thôn và số phận của người nông dân trong
văn học hiện thực phê phán đã được nhìn nhận một cách khác, tiến bộ hơn
so với cách nhìn của văn học lãng mạn, nó đi sâu vào bản chất của đời sống
hiện thực. Các nhà văn hiện thực phê phán đã phản ánh được mâu thuẫn
đang diễn ra gay gắt trong xã hội, lật tẩy bộ mặt thống trị, chỉ cho người
nông dân thấy rõ kẻ thù của mình và gieo vào lòng người một tinh thần
phản kháng mạnh mẽ, đồng thời phát huy được vẻ đẹp của người nông dân,
yêu thương họ như những người cùng cảnh ngộ. Đó là điều mà các nhà văn
lãng mạn chưa làm được.
Bên cạnh những đóng góp to lớn trên thì ở mảng đề tài nông thôn và
người nông dân, dòng văn học hiện thực phê phán còn có những hạn chế.

cuộc sống mới. Nhưng trong quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn còn
những vấn đề xã hội, những mặt tiêu cực cản trở bước phát triển. Trong sự
nghiệp chung của cách mạng, văn học đã có những đóng góp to lớn. Thời
đại mới yêu cầu văn học phải đổi mới. Để kịp thời phản ánh những vấn đề
mới mà cuộc sống đặt ra, những thế hệ nhà văn Việt Nam đã kịp thời “nhận
đường”, tự nguyện sống hòa mình với công nông binh và sáng tác theo định
hướng văn nghệ của Đảng.
Lịch sử giai đoạn này đã đặt người nông dân vào trong hoàn cảnh
mới là vừa thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phải tiếp tục
tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đất
nước. Chính vì vậy, trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầu
như không tách riêng ra thành một mảng rõ rệt với văn xuôi nói chung. Đề
tài nông thôn cũng nằm trong đề tài kháng chiến, hoà quyện trong một cái
tên chung là văn xuôi kháng chiến. Tiêu biểu là các tác phẩm Thư nhà của


Trích đoạn Xđy dựng nhđn vđ̣t thông qua cách đặt tín Sử dụng các thành ngữ dđn gian Sử dụng thủ pháp so sánh Sử dụng phương ngữ Bắc bộ Nghị́ thuđ̣t thí̉ hiị́n không gian
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status