Nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập đồ thị nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần cơ học vật lý 10 nâng cao - Pdf 32

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thế kỷ thứ 21, thế kỷ của trí tuệ sáng tạo. Thế giới
đang xảy ra sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ. Xã hội phồn vinh ở thế kỷ
thứ 21 phải là một xã hội “Dựa vào tri thức”, vào tư duy, vào tài năng sáng chế của
con người. Tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục của nước ta phải đổi mới mạnh mẽ,
sâu sắc, toàn diện trong đó đổi mới PPDH ở mọi cấp bậc góp phần quan trọng đặc
biệt để có thể đào tạo cho đất nước những con người lao động có tiềm năng trí tuệ,
năng động sáng tạo, có năng lực tìm tòi và giải quyết vấn đề.
Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục đã có nhiều chủ trương, biện pháp để
nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu của đất
nước.
Chính vì vậy Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù
hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn…”
Một trong định hướng đổi mới PPDH là vận dụng lý luận dạy học giải quyết
vấn đề vào soạn thảo tiến trình dạy học các đề tài cụ thể của môn học. Nhờ đó bồi
dưỡng cho học sinh kỹ năng tư duy, năng lực độc lập giải quyết vấn đề trong học
tập và trong thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Xét vị trí của bài tập Vật lý trong dạy học Vật lý cũng như vị trí của cơ học trong
giáo trình Vật lý phổ thông, xét tính chất đặc biệt của bài tập đồ thị trong hệ thống
các bài tập Vật lý thuộc phần cơ học lớp 10, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập đồ thị nhằm nâng cao chất lượng
dạy học phần cơ học Vật lý 10 nâng cao”.
2. Mục đích nghiên cứu:

1


Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Vật lý (trong đó có bài tập đồ

- Cơ sở lý luận về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học liên quan đến
giải BT Vật lý, nhất là bài tập đồ thị.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chương trình, nội dung dạy học phần
Cơ học, vật lý lớp 10 nâng cao.
- Nghiên cứu các biện pháp, cách thức bồi dưỡng hoạt động nhận thức cho
HS trong quá trình dạy học Vật lý.
6.2. Nghiên cứu thực nghiệm.
- Thực trạng dạy học vật lý có sử dụng bài tập đồ thị của GV và HS và giải
quyết bài tập đồ thị Vật lý ở trường phổ thông.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Quỳnh Lưu 4, huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Thống kê và xử lý số liệu thực nghiệm.
7. Đóng góp của luận văn:
- Làm rõ ý nghĩa của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
trong giải bài tập Vật lý bằng phương pháp đồ thị.
- Làm rõ sự cần thiết việc bồi dưỡng cho HS tích cực hoá hoạt động nhận
thức của HS trong học tập Vật lý và giải BT Vật lý bằng phương pháp đồ thị.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho GV Vật lý THPT.

3


8. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Xây dựng và sử dụng bài tập đồ thị trong dạy học phần cơ
học Vật lý 10 nâng cao.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.




- Dạy cái gì?
- Người học phải biết gì, biết làm gì trước, trong và sau khi học?
- Thực tế người học biết gì?
- Cần dạy thế nào?
Khi giáo viên không chỉ quan tâm đến hoạt động trình bày, giảng dạy kiến
thức của bản thân mình mà còn quan tâm đến hoạt động của học sinh thì diễn biến
của hoạt động dạy học trong thực tế có thể mô tả bằng hình ảnh dưới đây:
- Thầy giáo trình bày giảng dạy cho học trò nghe.
- Thầy biểu diễn chỉ dẫn cho trò theo dõi, quan sát ghi nhận được.
- Thầy hỏi xem trò có thấy không, đã hiểu chưa, nhớ không, cần giảng lại chỗ nào.
- Thầy hướng dẫn mẫu cho trò bắt chước.
- Thầy kiểm tra xem trò có thực hiện được không, nếu cần thì làm lại.
Kiểu dạy học quan tâm đến trò như vừa mô tả là kiểu dạy học có hiệu qủa hơn
so với kiểu dạy học cũ trước kia- chỉ quan tâm trình bày nội dung kiến thức, chưa
quan tâm chỉ đạo hoạt động của học trò. Thực tế dạy học ở các trường phổ thông
hiện nay cũng chưa hoàn toàn thực hiện được như vậy. Thế nhưng nếu đối chiếu
với mục tiêu hiện đại của đổi mới phương pháp dạy học về mặt đảm bảo sự phát
triển tiềm năng sáng tạo của học sinh, thì có thể nhận thấy kiểu dạy học này vẫn
bộc lộ một nhược điểm cơ bản là vẫn mang nặng tính chất “ độc thoại, thông báo
giảng dạy áp đặt, làm mẫu cho học sinh bắt chước ” của sự học. Kiểu dạy học này
vẫn chưa khích lệ được hoạt động tự chủ, tìm tòi sáng tạo, giải quyết vấn đề của
học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Nếu nhằm mục tiêu phát triển tiềm năng sáng tạo, phát triển tư duy khoa học,
phát triển hoạt động tìm tòi giải quyết vấn đề của học sinh trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức thì cần phải tuân thủ:
- Cần thực hiện được chức năng mới của người giáo viên: Giáo viên không
phải là người có quyền lực quyết đoán, truyền giảng áp đặt tri thức, mà tốt hơn
6



1.2. Vai trò của bài tập Vật lý và mục đích sử dụng chúng trong quá trình dạy
học
1.2.1. Vai trò của bài tập Vật lý trong quá trình dạy học
Bài tập Vật lý được hiểu là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết
bằng những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định
luật và các phương pháp Vật lý. Hiểu theo nghĩa rộng thì mỗi một vấn đề xuất hiện
do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh. Sự tư
duy định hướng một cách tích cực luôn luôn là hướng để giải bài tập.
1.2.2. Mục đích sử dụng bài tập Vật lý trong quá trình dạy học
Bài tập Vật lý có tầm quan trọng đặc biệt, chúng được sự dụng theo những
mục đích khác nhau.
- Người sự dụng bài tập Vật lý như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới
khi trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được
kiến thức mới một cách sâu sắc và vững chắc.
- Mặt khác, bài tập Vật lý là một phương tiện rèn luyện cho học sinh khả năng
vận dụng kiến thức, liên hệ lý thuyết với thực tế, học tập với đời sống.
- Bài tập Vật lý là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh. Bởi vì giải bài
tập là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong khi giải bài tập,
học sinh phải phân tích điều kiện trong đề bài, phải lập luận, tính toán, đôi khi phải
tiến hành thí nghiệm, các phép đo đạc …… tức là phải thực hiện một loạt các thao
tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá ….. Trong những điều
kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển đạt hiệu quả cao
công việc được giao.
- Bài tập Vật lý là phương tiện củng cố, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức đã học
một cách sinh động và có hiệu quả. Khi giải bài tập học sinh phải nhớ các kiến
thức đã học, có khi đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức trong
8

Theo phương
thức cho điều
kiện hay
phương thức
giải

Bằng lời

Định lượng

Định tính

Phối hợp

Theo
đặc
điểm và
nghiên
cứu vấn
đề

Phức tạp

Đơn giản

Kiểm tra

Sáng tạo

Theo

Theo những quan điểm hiện nay, có thể phân loại bài tập Vật lý trung học phổ
thông theo bảng ở trên.
1.4. Phương pháp chung để giải bài tập Vật lý
a. Hai phương pháp suy luận để giải bài tập Vật lý
Phương pháp giải bài tập Vật lý phụ thuộc vào nội dung bài tập, trình độ học
sinh và mục đích đặt ra. Xét về tính chất của các thao tác tư duy, khi giải bài tập
Vật lý người ta thường dùng hai phương pháp sau đây:
* Phương pháp phân tích
Theo phương pháp này, xuất phát điểm của suy luận là đại lượng cần tìm.
Chia bài tập thành nhiều giai đoạn và giải một hệ thống bài tập đơn giản hơn mà
ngay ở bài tập đầu tiên đã phải trả lời trực tiếp cho câu hỏi đầu bài. Việc giải bài
tập nhỏ tiếp theo là lần lượt làm sáng tỏ những phần chưa biết để cuối cùng trong
công thức bài tập nhỏ đầu tiên chỉ chưa một ẩn số và các số liệu đã biết.
* Phương pháp tổng hợp
Theo phương pháp này suy luận không bắt đầu từ các đại lượng cần tìm mà
bắt từ các đại lượng đã biết có nêu trong đề bài. Dùng công thức liên hệ các đại
lượng này với các đại lượng chưa biết, để ta đi dần dần đến công thức cuối cùng,
trong đó còn một đại lượng chưa biết là đại lượng cần tìm.
Thông thường người ta có thể phối hợp đồng thời cả hai phương pháp trên để
giải các bài tập Vật lý.
b. Các phương tiện toán học để giải bài tập Vật lý

10


Trong khuôn khổ chương trình Vật lý phổ thông, để giải các bài tập Vật lý,
đặc biệt là các bài tập định lượng, người ta dùng phương tiện toán học. Tuỳ theo
việc sử dụng công cụ toán học người ta có thể phân biệt các phương pháp giải các
bài tập định lượng như sau:
* Phương pháp số học

trình này bao gồm bốn bước cơ bản sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
- Đọc, tìm hiểu các thuật ngữ, ghi ngắn gọn các dự kiện đã cho và các ẩn số
phải tìm.
- Mô tả hiện tượng được nêu trong bài tập, vẽ hình minh hoạ (nếu cần thiết).
Nếu đề bài yêu cầu thì phải làm thì nghiệm hoặc vẽ đồ thị để thu được các dự kiện.
Bước 2: Xác lập mối liên hệ cơ bản của các dữ kiện đã cho và các ẩn số
phải tìm
- Đối chiếu các dữ kiện xuất phát và các ẩn số phải tìm, xem xét bản chất hiện
tượng Vật lý đã cho có những đặc trưng định tính, định lượng nào và các mối quan
hệ các đặc trưng đó biểu hiện ở các định luật, quy tắc, định nghĩa nào?
- Xác lập các mối liên hệ cụ thể của các dự kiện đã cho và các ẩn số phải tìm.
Bước 3: Xác định phương pháp và vạch kế hoạch giải bài tập
Từ các mối liên hệ cơ bản đã xác lập được, tiếp tục luận giải và rút ra kết quả
cần tìm.
Bước 4: Kiểm tra, xác nhận kết quả
Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại việc giải theo một
hoặc một số cách sau:
- Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi chưa? Đã xét hết các trường hợp
chưa?
- Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không?
- Kiểm tra đơn vị có phù hợp không?
12


- Xem xét kết quả có phù hợp ý nghĩa thực tế không?
- Kiểm tra bằng thực nghiệm có phù hợp không?
- Giải các bài tập theo cách khác xem có cùng kết quả không?
- Đặt điều kiện cho lời giải của bài toán
1.5. Định hướng hoạt động nhận thức của học sinh trong việc giải bài tập Vật

lĩnh vực hẹp của một ngành khoa học hoặc của một số ngành khoa học…
Sự phân loại trên mamg tính tương đối bởi trong quá trình phát triển khoa học
các phương pháp nhận thức luôn có sự đan xen, chuyển hoá lẫn nhau và có sự phối
hợp giữa các phương pháp nhận thức.
1.5.2. Cơ sở của việc định hướng hoạt động nhận thức của học sinh trong việc
giải bài tập Vật lý
Muốn hướng dẫn học sinh giải một bài tập cụ thể nào đó thì dĩ nhiên giáo viên
phải giải được bài tập đó, nhưng nếu chỉ như vậy thì chưa đủ. Muốn cho việc giải
bài tập được định hướng một cách đúng đắn, giáo viên phải phân tích được phương
pháp giải bài tập cụ thể, thể hiện bằng cách vận dụng những hiểu biết về tư duy
giải bài tập Vật lý để xem xét việc giải bài tập cụ thể ấy. Mặt khác phải xuất phát
từ mục đích sư phạm của việc giải bài tập đó để xác định kiểu hướng dẫn phù hợp.
Nói cách khác là cơ sở khoa học để suy nghĩ, xác định phương pháp hướng dẫn
học sinh giải một bài tập Vật lý được vận dụng vào việc phân tích phương pháp
giải bài tập cụ thể này và những hiểu biết đặc điểm của các kiểu hướng dẫn giải bài
tập (khác nhau tuỳ mục đích sư phạm) để vận dụng vào từng trường hợp cụ thể.
Chúng ta có thể biểu diễn nó bằng sơ đồ sau đây:

Tư duy giải bài
tập Vật lý

Phân tích phương pháp
giải bài tập cụ thể

Mục đích sư
phạm

Xác định kiểu hướng
dẫn


* Định hướng tái tạo (định hướng theo algorit):
Đó là kiểu định hướng trong đó người dạy hướng học sinh vào viêc huy động,
áp dụng những kiến thức, kỹ năng, cách thức hoạt động mà học sinh đã nắm được
hoặc đã được người dạy chỉ ra một cách tường minh, để học sinh có thể thực hiện
15


được nhiệm vụ mà họ đảm nhận. nghĩa là học chỉ cần lặp lại những hành động đã
được người dạy chỉ rõ.
* Định hướng tìm tòi (chưa có algorit phải đi xây dựng algorit giải):
Là kiểu định hướng trong đó, người dạy không chỉ ra cho học sinh tường minh
các kiến thức, kỹ năng, cách thức hoạt động học sinh cần áp dụng, mà người dạy
chỉ đưa ra cho học sinh những gợi ý sao cho học sinh tự tìm tòi, huy động hoặc vận
dụng những kiến thức, kỹ năng, cách thức hoạt động thích hợp để rồi từ đó chiếm
lĩnh tri thức.
* Định hướng tìm tòi chương trình hoá:
Theo kiểu định này, người dạy cũng hướng dẫn học sinh tương tự như kiểu
định hướng tìm tòi nói trên, nhưng trong trường hợp này, sự định hướng được
chương trình hoá thành từng bước hợp lý, kế tiếp nhau. Người dạy hướng dẫn học
sinh giải quyết từng nhiệm vụ mà họ đảm nhận, học sinh chỉ chuyển sang giải
quyết bước tiếp theo sau khi đã thực hiện được bước trước.
Ở mỗi bước giải quyết, nếu học sinh không thể tự tìm tòi giải quyết được thì
sự định hướng chuyển dần từ kiểu định hướng tìm tòi thành kiểu định hướng tái
tạo, sao cho học sinh hoàn thành được công việc của bước đó rồi sau đó học sinh
lại tiếp tục tự mình tìm tòi giải quyết bước tiếp theo theo sự định hướng tìm tòi cuả
người dạy ……
Kiểu định hướng tái tạo đảm bảo hiệu quả rèn luyện kỹ năng cho học sinh và
tạo cơ sở cần thiết cho học sinh có thể thích ứng được với sự định hướng tìm tòi
trong dạy học. Nhưng nếu trong dạy học chỉ sử dụng kiểu định hướng tái tạo thì
không đáp ứng được yêu cầu rèn luyện tư duy sáng tạo của học sinh, không đủ để

I

II

a

III

b

IV

b1

17


I

Tìm hiểu đề bài

II

Xác lập mối liên hệ của các dự kiện đã cho và ẩn số phải tìm

III

Xác định phương pháp và vạch kế hoạch giải

IV

được hành động của mình. Tuy nhiên để phát huy hết vai trò của kiểu định hướng
chương trình hoá thì sự định hướng của giáo viên phải theo sát tiến trình hoạt động
giải bài tập của học sinh, không chỉ dựa vào lời hướng dẫn đã dự kiến trước mà
phải kết hợp việc định hướng với việc hành động của học sinh để điều chỉnh sự
định hướng sao cho thích ứng với trình độ của học sinh.
Dựa trên vai trò tác dụng của kiểu định hướng tìm tòi chương trình hoá, chúng
tôi sẽ dự kiến phân tích tư duy trong giải bài tập bằng phương pháp đồ thị của phần
cơ học lớp 10. Từ đó lựa chọn hệ thống bài tập thích hợp và theo chương trình cuả
sách giáo khoa Vật lý lớp 10, đồng thời kết hợp với mục đích sư phạm để xây dựng

18


các sơ đồ định hướng hành động nhận thức của học sinh trong việc giải bài tập
bằng phương pháp đồ thị trong phần cơ học lớp 10 nhằm nâng cao chất lượng dạy
học. Những đề xuất này sẽ được dạy thực nghiệm ở trường phổ thông để qua đó rút
ra những kết luận cần thiết về tính khả thi và tính hiệu quả theo mục đích của đề tài
đặt ra.
1.6. Thực trạng của dạy học phần cơ học Vật lý lớp 10 bằng phương pháp đồ
thị ở các trường THPT
1.6.1. Vai trò của bài tập đồ thị trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật
lý ở trường THPT
Bài tập Vật lý nói chung, bài tập đồ thị nói riêng đã thể hiện được vai trò quan
trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lý ở trường phổ thông:
- Truyền thụ cho học sinh hệ thống kiến thức
- Phất triển năng lực nhận thức cho học sinh
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho học sinh
- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp
1.6.2. Các loại bài tập đồ thị và tác dụng mỗi loại
Bài tập đồ thị là bài tập Vật lý mang tính chất đặc biệt. Tuỳ theo mục đích có

Ngoài ra trong loại bài tập đồ thị này còn có các bài tập không thể hoặc rất khó giải
bằng phương khác, nhưng nếu dùng biểu diễn đồ thị thì bài toán lại trở nên rất là
đơn giản….
1.6.3. Thực trạng việc sử dụng bài tập đồ thị trong dạy học phần cơ học lớp 10
THPT
Với yêu cầu đổi mới cách dạy cách học mấy năm gần thì tài liệu học tập ngày
một đầy đủ về cả chất lượng lẫn số lượng. Bài tập về đồ thị cũng rất được nhiều tài
liệu đề cập đến, tuy nhiên để phân bố số lượng như thế nào cho hợp lý đối với
người học thì lại chưa có. Bên cạnh đó, là cách để học sinh chiếm lĩnh được tri
thức bằng phương pháp đồ thị thì cũng còn nhiều điều phải xem xét.….. Đối với
giáo viên, là những người trực tiếp giảng dạy các em học sinh thì sao? Trong quá
trình thực hiện luận văn, tôi đã tiến hành điều tra về tình hình sử dụng bài tập đồ
thị, cũng như là phương pháp đồ thị của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy
học ở trường trung học phổ thông Quỳnh lưu IV, tỉnh Nghệ An. Kết quả điều tra đã
cho thấy rằng việc sử dụng các bài tập đồ thị phục vụ cho dạy học là rất hạn chế.

20


Giáo viên ít tìm tòi, nghiên cứu và sử dụng chúng trong dạy học; còn học sinh thì ít
hứng thú và rất ngại làm các bài tập bằng phương pháp đồ thị.

Kết luận chương 1
Qua việc phân tích vai trò của bài tập đồ thị và việc phân loại bài tập đồ thị đã
cho chúng ta thấy được sự phong phú, đa dạng và tác dụng của chúng trong dạy
học Vật lý ở trường trung học phổ thông. Trong một chừng mực nhất định, chúng
ta có thể sử dụng bài tập đồ thị, phương pháp đồ thị này trong dạy học Vật lý ở các
trường phổ thông để tạo thú hứng và tiếp nhận tri thức ban đầu cho việc phát triển
năng lực nhận thức của học sinh. Cũng từ thực tiễn giảng dạy phần cơ học lớp 10,
thì tôi thấy rằng có thể dùng bài tập về đồ thị chúng ta có thể nâng cao việc dạy

có thể xác định được các đặc trưng động học của chuyển động.
- Biết cách khảo sát thực nghiệm chuyển động thẳng. Hiểu được, muốn đo vận
tốc thì phải xác định toạ độ của chất điểm ở các thời điểm khác nhau, và biết cách
sử dụng đo thời gian để xác định thời điểm vật đi qua một toạ độ đã biết. Biết cách
lập bảng, sử dụng công thức để tìm đại lượng cần đo, xử lý kết quả, vẽ đồ thị.
- Hiểu được gia tốc là đại lượng đặc trưng cho sự biến đổi nhanh hay chậm
của vận tốc.
- Hiểu được định nghĩa về chuyển động thẳng biến đổi đều, rút ra công thức
tính vận tốc theo thời gian.
- Hiểu được mối quan hệ giữa dấu của gia tốc và dấu của vận tốc trong chuyển
động nhanh dần đều và chuyển động chậm dần đều.
- Biết cách vẽ đồ thị biểu diễn vận tốc theo thời gian của một chuyển động
thẳng biến đổi đều.
- Biết cách giải các bài toán đơn giản có liên quan đến gia tốc về chuyển động
thẳng biến đổi đều.
- Biết thiết lập phương trình chuyển động thẳng biến đổi đều:

22


1
x = x o + vo .t + .a.t 2
2

- Nắm vững công thức liên hệ giữa độ dời, vận tốc và gia tốc của chuyển động
thẳng biến đổi đều.
- Biết áp dụng công thức toạ độ, vận tốc để giải các bài toán chuyển động
thẳng biến đổi đều của một chất điểm, hai chất điểm chuyển động cùng chiều hoặc
ngược chiều.
- Hiểu được thế nào là rơi tự do và khi rơi tự do thì mọi vật đều rơi như nhau.

- Hiểu được, chuyển động có tính tương đối, các đại lượng động học như quỹ
đạo, vận tốc có tính tương đối.
- Hiểu được các khái niệm vận tốc tuyệt đối, vận tốc tương đối, vận tốc kéo
theo và công thức cộng vận tốc. Áp dụng để giải các bài toán đơn giản.
- Hiểu và áp dụng thành thạo quy tắc cộng vectơ và phân tích vectơ hai thành
phần không vuông góc.
2.1.1.2. Kỹ năng
Theo nội dung của chương, chúng ta có điều kiện để rèn luyện cho học sinh một số
kỹ năng chính sau đây:
- Kỹ năng giải thích hiện tượng vật
- Kỹ năng giải bài tập vật lý
- Kỹ năng thực hành vật lý
- Kỹ năng vẽ đồ thị và xử lý đồ thị.
- Kỹ năng tự học của học sinh
- Kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
2.1.1.3. Thái độ
- Học sinh học tập hăng hái, yêu thích bộ môn Vật lý.
- Hứng thú với việc tìm tòi tri thức mới.
- Thích tìm tòi các hiện tượng tự nhiên xẩy ra hàng ngày.
2.1.2. Nội dung cơ bản của phần cơ học
2.1.2.1. Nội dung cơ bản chương Động học chất điểm
Nội dung cơ bản của phần động học chất điểm là khảo sát và nghiên cứu các
dạng chuyển động cơ học như chuyển động thẳng và chuyển động tròn được rút ra
từ những quan sát thực nghiệm và tư duy khái quát, mà chưa xét đến nguyên nhân
làm biến đổi chuyển động, đây chính là cơ sở cho việc nghiên cứu cơ học. Để tiếp
thu và nắm rõ các dạng chuyển động cơ học, HS phải có được khái niệm về hệ quy
chiếu và khái niệm chất điểm, từ đó xây dựng các khái niệm các đại lượng đặc
24



Vận dụng các kiến thức về chuyển động để giải thích một số hiện tượng Vật lý
thường gặp, giải quyết những bài toán Vật lý đơn giản.
Cấu trúc logic phần “Động học chất điểm” lớp 10 ban khoa học tự nhiên theo
sơ đồ như trên:
2.1.2.2. Nh÷ng néi dung cơ bản trong ch¬ng ®éng lùc häc chÊt ®iÓm:
25


Trích đoạn Kết quả thực nghiệm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status