1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THANH MINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ỨNG DỤNG CÔNG NGHÊÊ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG MẠI TRUNG ƯƠNG V
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.ĐINH XUÂN KHOA
Vinh, 2010
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khóa VIII)
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới đã yêu
cầu ngành giáo dục phải “đổi mới mạnh mẽ PP giáo dục đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy-học, đảm bảo điều
kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”. Công nghệ thông tin chính là
công cụ trợ giúp đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, PP giảng dạy, hỗ trợ quản lý giáo
bên trên, tự họ tìm tòi, không ngừng đổi mới và hoàn thiện tri thức, kỹ năng áp
dụng và sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực thì việc quản lý hoạt động
giảng dạy mới thực sự sâu rộng, có hiệu quả và bền vững.
Cùng với các cơ sở giáo dục, đào tạo trên cả nước, nhiều năm qua Trường Trung
cấp Thương mại Trung ương V đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý đào tạo và cải tiến phương pháp, hình thức dạy học, phù hợp
cho riêng mình. Những cố gắng ấy đã tạo ra những chuyển biến đáng kể trong
phong trào thi đua dạy tốt - học tốt của toàn trường.
Tuy nhiên, phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và
đổi mới PP giảng dạy ở trường vẫn chưa đều khắp ở các đơn vị và ở cán bộ giáo
viên. Nó mới chỉ dừng lại ở bề nổi của hình thức mà chưa đi vào chiều sâu của chất
lượng và chưa được thường xuyên, liên tục. Nó chưa trở thành nhu cầu tự thân của
mỗi cán bộ, giáo viên.
Trong những năm gần đây, đã có những công trình khoa học đề cập đến vấn đề
ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy. Ở Trường Trung
cấp Thương mại Trung ương V hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa
học nào bàn về vấn đề này. Với những lý do ở trên tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “
4
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và đổi mới phương pháp
giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở của việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp
“ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG
MẠI TRUNG ƯƠNG V ” nhằm góp phần nâng cao chất lượng và phù hợp với tình
hình phát triển giáo dục của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
6.3.Nhóm các phương pháp thống kê Toán học
7. Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ đặc trưng về mặt lý luận ứng dụng CNTT trong QL đào tạo
và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V, đồng thời
luận văn cũng chỉ ra những bất cập, khó khăn trong việc ứng dụng CNTT trong hoạt
động đào tạo của nhà trường.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT trong QL đào tạo và đổi
mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V.
8. Cấu trúc của luận văn
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài;
Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới phương
pháp giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và đổi mới phương
pháp giảng dạy qua việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Trường Trung cấp
Thương mại Trung ương V.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số nước trên thế giới
Ở một số nước phát triển trên thế giới đã sớm chú trọng tới việc ứng dụng
CNTT. Những nước này có nhiều chương trình quốc gia về CNTT, nhằm ứng dụng
nó vào mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có GD&ĐT. Những thành tựu phát
triển kinh tế đạt được hiện nay có phần đóng góp hết sức to lớn của chương trình
- Lĩnh vực ICT (Information Communication Technology) đang thay đổi nhanh
chóng đến mức nó vượt khả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh đạo khiến họ
ngần ngại;
- Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng ICT trong giáo dục tuy đã thay
đổi nhưng thay đổi rất chậm.
Trong luận điểm của mình giáo sư David Mousund, bộ phận quản lý và chính
sách trường Đại học Oregon Autralia đã chỉ ra vấn đề là cần phải thay đổi tư tưởng
của nhà quản lý. Ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa ICT và tư tưởng của nhà quản lý.
Khi đến với hội thảo tại ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề “Các
giải pháp công nghệ và quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục” (Hãng Microsoft
tài trợ) các tác giả:
- Giáo sư Vương Thanh Sơn, UBC (Viện đại học British Columbia, Canada) Tác
động của CNTT trong GD&ĐT;
- Tiến sỹ Patrick Tantribeau, Futuru Com International Holdings, Ltd, Van
couver, Canada “Những thay đổi quản lý trong thời đại thông tin”.
Những nhà khoa học này đã mang đến hội thảo các đề tài với cùng quan niệm
chung là thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục. Các tác giả đã đề cập một cách
sâu rộng tác động của CNTT, tầm quan trọng của CNTT, cách sử dụng website
trong GD&ĐT, đặc biệt là đòi hỏi phải thay đổi quản lý trong thời đại thông tin.
1.1.2 Ở Việt Nam
8
Do ý nghĩa, tầm quan trọng của CNTT đối với phát triển kinh tế-xã hội đáp ứng
yêu cầu của thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên Đảng
và Nhà nước đã có những chủ trương chính sách hết sức quan trọng để đẩy mạnh
việc ứng dụng, phát triển CNTT.
- Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh và ứng
dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nêu rõ: “Đẩy mạnh
ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học; phát
làm chủ nhiệm; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong
quản lý đào tạo ở trường Đại học Vinh” do PGS.TS Nguyễn Đình Huân làm chủ
nhiệm,...
Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sỹ trên đã đề cập đến việc ứng
dụng CNTT vào trong QL ở nhà trường, khẳng định ý nghĩa tầm quan trọng của
ứng dụng CNTT trong QL và các tác giả cũng đề xuất được một số giải pháp cần
thiết, khả thi nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong QL. Tuy nhiên, mới chỉ
dừng ở một phạm vi, một trường, một số khía cạnh nào đó. Chưa có công trình
nghiên cứu khoa học nào đề cập đến việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong QL đào
tạo và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V. Vì
thế tác giả đi sâu nghiên cứu đề tài này mong muốn đề xuất được những giải pháp
tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy ở
Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V , góp phần nâng cao chất lượng QL
và đào tạo của nhà trường.
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo viên
Trong xã hội ngày nay, người thầy được xã hội tôn vinh và được coi là “kỹ sư
tâm hồn” giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Trong từ điển tiếng Việt: “Giáo viên là
người dạy bậc phổ thông hoặc tương đương”.
Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 61 nêu: Nhà
giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở
giáo dục khác [32]. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau:
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
10
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ;
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
- Lý lịch bản thân rõ ràng.
Tùy cách đề cập, định nghĩa về giáo viên nêu trên theo nghĩa rộng, hẹp khác
Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học, thông tin có thể hiểu là
những nội dung trao đổi giữa hệ thống và môi trường được sử dụng nhằm mục đích
điều khiển hoạt động của hệ thống đó [19, Tr.31].
Dữ liệu (Data) có thể hiểu vật liệu thô mang thông tin. Dữ liệu sau khi được tập
hợp lại và xử lý cho ta thông tin. Nói cách khác, dữ liệu là nguồn gốc, là vật mang
thông tin, là vật liệu sản xuất ra tin [19, Tr.36].
Hệ thống thông tin (Information System) là một hệ thống tiếp cận các nguồn dữ
liệu như các phần tử và chúng được xử lý thành các sản phẩm thông tin là các phần
tử ra [19,Tr.41].
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thông tin
Xử lý
(Processing)
Dữ liệu
(Data)
Nhập
(Input)
Xuất
(Output)
Thông tin
(Information)
1.2.3.2 Công nghệ thông tin
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin viết tắt IT
(Information Technology) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin,
là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ,
xử lý, truyền và thu thập thông tin [59].
Tại Việt Nam, khái niệm CNTT trong nghị quyết số 49/NQ-CP, nghị quyết về
CNTT sẽ đơn giản hóa những nhiệm vụ như: Lập kế hoạch, làm báo cáo và quản lý
hành chính nhà trường;
Với công tác hành chính thì CNTT thường xuyên đem đến những sự trợ giúp to
lớn. Những công việc hành chính phức tạp và tốn nhiều thời gian có thể được đơn
giản hóa và vi tính hóa. Ví dụ như lập kế hoạch, quản lý hệ thống, làm báo cáo, kế
toán, hành chính;
- Lồng ghép sử dụng CNTT
Khi nhà quản lý thực sự sử dụng CNTT trong các hoạt động quản lý, khi đó gọi
là sử dụng lồng ghép. Vấn đề sử dụng CNTT trong quản lý như thế nào có thể được
phân ra làm nhiều cách. Ở đây, chúng ta chỉ phân loại giữa việc ứng dụng CNTT
13
như là một đối tượng học tập, một công cụ quản lý, là một người hướng dẫn, một
phương tiện mở với việc sử dụng CNTT như là một phương tiện truyền thông.
1.2.4 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.4.1 Quản lý
“Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt
động của con người” [22,Tr.11].
* Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn:
Quản lý là quá trình tác động của chủ thể QL đến khách thể quản lý thông qua
các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu QL.
Giáo dục và QLGD là sự tồn tại song hành, Nếu nói GD là hiện tượng xã hội tồn
tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về QLGD
[48,Tr.11].
* Tác giả Trần Quốc Thành có trình bày về quản lý:
- Quản lý là quá trình tác động có ý thức vào một bộ máy bằng cách vạch ra mục
tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động vào bộ máy để đạt được mục
đích.
- Quản lý có 3 thành phần:
tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục” [1,Tr.94].
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm “Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ, ít nhất
có hai cấp độ chủ yếu; cấp vĩ mô và cấp vi mô.
- Đối với cấp vĩ mô
QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ
thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho
ngành GD;
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên hệ
thống GD nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm
năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất
trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động;
Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể QL nhằm huy
động, tổ chức, điều phối, điều chình, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực
15
GD (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển GD đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế-xã hội.
- Đối với cấp vi mô
QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân
viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [24,
Tr.37].
* Tóm lại: Theo các tác giả thì QLGD đều chứa đựng các nhân tố đặc trưng bản
chất như phải có chủ thể QLGD, ở tầm vĩ mô là QL của nhà nước mà cơ quan QL
trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng GD, còn ở tầm vi mô là QL của hiệu trưởng nhà trường.
Phải có hệ thống tác động QL theo nội dung, chương trình, kế hoạch thống nhất từ
Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi
những tác động có ý thức, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả
các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ
chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ. Quản lý nhà trường
cũng tập trung nhiều sức lực vào quản lý hoạt động dạy học bởi “Hoạt động (quá
trình) dạy học là quá trình mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của
người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tổ chức tự điều khiển
hoạt động nhận thức-học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học”
[39, Tr.7].
Mặt khác, quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người, quản lý quá trình
GD theo nghĩa rộng (quá trình sư phạm tổng thể - quá trình dạy học và quá trình
giáo dục theo nghĩa hẹp) [40, Tr.29]. Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và
người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ. Trong nhà trường GV và HS
vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý. Cho nên, quản lý nhà trường không chỉ là
trách nhiệm của người hiệu trưởng, mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành
viên trong nhà trường.
Nói cách khác, quản lý con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý
lao động của giáo viên và học sinh, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động
của họ đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người.
“Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục
quốc dân”.
17
Quản lý nhà trường là sự cụ thể hóa công tác QLGD. Nhà trường là tế bào
chủ chốt của của bất cứ hệ thống GD nào từ trung ương đến địa phương.
1.2.5 Phương pháp dạy học
1.2.5.1 Phương pháp
Phương pháp là “ý thức” về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội
dung [40, Tr.28].
Hiện nay, giáo dục đang đứng trước thách thức đó là sự đổi mới, đặc biệt là sự
gia tăng về số lượng, quy mô và mạng lưới trường lớp học. Để đáp ứng nhu cầu
người học, đáp ứng đòi hỏi của xã hội về nâng cao chất lượng dạy học thì việc ứng
dụng CNTT trong quản lý ở các nhà trường được xác định là một trong những việc
làm hiệu quả.
Những biện pháp thích hợp tăng cường ứng dụng CNTT vào quản lý ở các nhà
trường được áp dụng tốt, chúng ta sẽ tạo được chuyển biến mới tích cực trong công
tác quản lý giáo dục, góp phần hết sức quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực có
chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế.
Nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT. Đây cũng là nhiệm vụ mà Thủ
tướng Chính phủ đã giao cho ngành GD giai đoạn 2001-2005 qua Quyết định số
81/2001/QĐ-TTg.
Cụ thể hơn quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ còn có một số văn bản khác
như:
- Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 20012005;
- Ngày 06/4/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 331/QĐTTg, phê duyệt chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai
đoạn 2001-2010;
- Quyết định 146/2005/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT và
truyền thông Việt Nam đến năm 2010;
19
- Năm 2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 64/NĐ-CP về việc ứng dụng
CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
Một số chủ trương, nghị định, quyết định nói trên cũng đã chứng tỏ rằng Đảng,
Nhà nước rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong quản lý.
1.4 Vai trò của tin học, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong sự
lý việc ứng dụng CNTT trong nhà trường một cách cụ thể và thiết thực hơn.
Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 29/2001/BGD&ĐT về tăng cường giảng
dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giai đoạn 2001-2005. Chỉ thị có ghi:
“Đến năm 2005, 100% các Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng được mạng nội bộ,
từng bước kết nối các trường phổ thông và khai thác Internet, 70% trường trung học
phổ thông được nối mạng Internet. Hình thành mạng giáo dục (EduNet) phục vụ
cho các hoạt động học tập, giảng dạy, quản lý của cơ sở và của chung toàn ngành.
Tăng cường các thông tin về giáo dục và đào tạo trên mạng thông qua các trang
thông tin (Website) của Bộ và của các Sở. Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin
vào quản lý giáo dục và đào tạo. Mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo phải có trang thông
tin (Website) phản ánh các hoạt động của đơn vị mình và kết nối chung vào mạng
giáo dục” [5].
Gần đây, Bộ GD&ĐT có công văn 9584/BGD&ĐT-CNTT, ngày 07 tháng 9 năm
2007 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về ứng dụng CNTT và
lấy năm học 2008-2009 là năm học ứng dụng CNTT.
Để cụ thể hóa chủ trương, chính sách và thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Chính
phủ, của Bộ GD&ĐT nhiều đề án, dự án đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý
và dạy học ở các nhà trường được thực hiện. Chẳng hạn như: Dự án Srem, Partners
in learning; Tập đoàn Intel có chương trình “Dạy học của Intel” trước đây gọi là
“Intel teach to the Future - Dạy học cho tương lai”.
Tại Thanh Hóa, nơi Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V đóng đang
triển khai thực hiện chương trình dự án quản lý hệ thống thông tin nhà trường
VNPT school. Chương trình dự án này do Sở GD&ĐT phối hợp với Viễn thông
tỉnh tổ chức.
Với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đặc biệt là sự gia tăng về số lượng, quy
mô và nhu cầu được giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng. Việc ứng dụng
21
CNTT trong quản lý ở các nhà trường được xác định là một trong những biện pháp
- Quá trình dạy học ở trường TCCN phải nhằm hình thành thế giới quan khoa
học, nhân sinh quan, kỹ năng thực hành và những phẩm chất tốt đẹp của người cán
bộ Trung cấp.
Trong bối cảnh đó, nhiều người khi nói tới hiện đại hoá giáo dục thường chỉ nghĩ
đến việc vận dụng các phương tiện kĩ thuật, công nghệ hiện đại, đặc biệt là CNTT
trong quản lý, giảng dạy và học tập. Điều này đương nhiên quan trọng, song cái
chính chưa phải ở đó. Cái chính là nhà trường phải làm sao đưa ra được các giải
pháp quản lý hoạt động GD một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn. Muốn vậy
trước hết nhà trường cần thay đổi tư duy giáo dục, xác định lại mục tiêu, yêu cầu
đào tạo của nhà trường, từ đó thay đổi cách dạy, cách học, thay đổi phưong pháp,
nội dung, tổ chức và đặc biệt là phải thay đổi cách quản íý giáo dục, nhằm xây
dựng một nền giáo dục phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội và cuộc sống trong kỷ
nguyên nền kinh tế tri thức. Do đó, việc giáo dục trong nhà trường TCCN cần lưu ý
đến giai đoạn “học”, giai đoạn này là hết sức quan trọng để trang bị cho người học
một vốn kiến thức cơ bản và cần thiết trong suốt quá trình học tập và làm việc sau
này. Song song với nó là quá trình quản lý hoạt động GD của người thầy ở các
trường TCCN để tạo ra những “sản phẩm” con người phát triển toàn diện phục vụ
công cuộc đổi mới đất nước.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, các trường TCCN phải tăng cường công tác
quản lý, phải cải tiến công tác quản lý, đặc biệt phải đề ra các giải pháp quản lý hoạt
động GD một cách hiệu quả và tích cực hơn.
Về lĩnh vực Tin học, Chỉ thị Số: 55/2008/CT- BGDĐT ngày 30 tháng 9 năm
2008: “Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong
ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012” đã chỉ rõ : Nâng cao nhận thức về vai trò, vị
trí của CNTT và triển khai có kết quả cao yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
năm học 2008-2009 là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài
chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; Đẩy mạnh một cách
hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới PP dạy và học ở
từng cấp học; Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong điều hành và quản lý giáo dục”.
phân tích và đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường, đề xuất giải
24
phát tăng cường ứng dụng CNTT. Mục đích chính là nâng cao chất lượng đào tạo
trong nhà trường.
Để việc ứng dụng CNTT vào quản lý nhà trường được tốt cần quan tâm chú ý tới
các hoạt động; lựa chọn, khai thác sử dụng phần mềm quản lý; xây dựng mạng cục
bộ, kết nối Internet; xây dựng các cơ sở dữ liệu; xây dựng hệ thống thông tin quản
lý với cơ chế vận hành phù hợp.
Việc ứng dụng CNTT trong QL nhà trường thành công còn có các yếu tố đảm
bảo như cơ sở vật chất kỹ thuật tin học; nguồn nhân lực; nhận thức vấn đề nội dung
QL có ứng dụng CNTT; sự vận động sáng tạo của nhà QL.
Ứng dụng CNTT phải phù hợp với điều kiện hiện tại, đầu tư có chọn lọc hợp với
quy trình QL trường TCCN đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và quy trình
ứng dụng CNTT. Với những giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT thích hợp nhà
QL sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả QL.
25
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ ĐỔI MỚI PP GIẢNG DẠY Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG MẠI TRUNG ƯƠNG V
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục chuyên nghiệp khu vực Trường đóng
Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V - trực thuộc Bộ Công Thương,
hiện đóng trên địa bàn phường Đông Vệ, Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá,
được thành lập từ năm 1962 . Hiện nay lưu lượng học sinh đào tạo tại cơ sở chính
của trường là gần 3000 học sinh/năm và dự kiến đến năm 2015 là 4000 học
sinh/năm. Với bề dày 48 năm kinh nghiệm, nhà trường đã được nhân dân trong khu