BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________ __
[
LÊ PHÚ THẮNG
Mét sè gi¶i ph¸p qu¶n lý C«ng t¸c
chñ nhiÖm líp ë c¸c tr êng phæ th«ng
d©n téc néi tró trung ¬ng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHAN QUỐC LÂM
VINH – 2010
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phan Quốc Lâm, người thầy đã hết
lòng giúp đỡ em hoàn thành luận văn có kết quả.
Em xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các thầy
giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, các Phòng, Khoa trường Đại học Vinh đã
tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập,
nghiên cứu, hoàn thành chương trình học tập của khoá học.
Em xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ trong Hội
đồng bảo vệ luận văn cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục - khóa 16 đã
đọc và đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Cục
QLGD
THCS
THPT
Chữ viết đầy đủ
Cán bộ Quản lý
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Cộng hòa dân chủ nhân dân
Đại học
Đại học Quốc gia
Đại học sư phạm
Điểm trung bình
Giáo dục và Đào tạo
Giáo viên chủ nhiệm
Kinh tế - xã hội
Nhà xuất bản
Phó Giáo sư – Tiến sĩ
Phổ thông Dân tộc nội trú
Quản lý giáo dục
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI - thế kỉ của văn minh trí tuệ, của nền kinh tế tri thức, ở đó
sức mạnh của nền kinh tế - xã hội phải bắt nguồn từ chính tiềm năng con
người, lấy việc phát huy nguồn lực người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển
biệt, đối tượng học sinh trong các nhà trường chủ yếu là người dân tộc thiểu
số, mọi hoạt động học tập, rèn luyện và sinh hoạt hàng ngày của học sinh đều
diễn ra ngay tại trường. Nhà trường không chỉ làm nhiệm vụ của một cơ sở
đào tạo phổ thông bình thường bên ngoài mà còn phải đảm đương việc chăm
sóc, nuôi dưỡng và đặc biệt là quản lý giáo dục học sinh.
Người giáo viên có vai trò đặc biệt và có tác động to lớn không gì thay
thế được trong quá trình giáo dục học sinh. Nhận thức rõ vai trò đó và ý nghĩa
đó của công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT DTNT Trung ương, vì vậy các
Ban giám hiệu cũng đã quan tâm tới người giáo viên và công tác chủ nhiệm
lớp. Sự quan tâm này đã thu được những kết quả nhất định, hoạt động chủ
nhiệm lớp ở các trường đã đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục học
sinh. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và hiệu quả của nó vẫn chưa được như
mong muốn. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
quan trọng công tác quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường chưa có
những giải pháp đồng bộ, khoa học và chưa thật sự phù hợp với sự thay đổi
của hiện thực cuộc sống nhà trường. Vì vậy, việc tìm kiếm những giải pháp
quản lý công tác GVCN lớp có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tế ở các
trường PT DTNT là một yêu cầu cấp thiết.
Với lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Một số giải pháp quản lý
công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung ương”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác chủ
nhiệm lớp ở trường PT DTNT Trung ương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường PT DTNT.
3
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Tổng kết các kinh
nghiệm về quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp từ thực tiễn công tác mà bản thân
đã và đang tiến hành ở tại đơn vị công tác.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thăm dò tính khả thi của các giải
pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý số liệu thu được về mặt đinh
lượng.
7. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý và quản lý công tác chủ nhiệm
trong nhà trường.
- Phát hiện thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT
DTNT trực thuộc Bộ GD & ĐT.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt
động chủ nhiệm lớp các trường PT DTNT.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng cho:
+ Cán bộ quản lý các trường PT DTNT.
+ GVCN ở các nhà trường.
+ Các trường sư phạm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các
trường PT DTNT Trung ương.
5
CHƯƠNG 1
6
Nội, 2005); “Trí tuệ xúc cảm của giáo viên chủ nhiệm lớp THCS ” Luận án
Tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung (Viện Khoa học Giáo dục, 2008); “Phương
pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm trường THPT ” của Hà Nhật Thăng
( NXB ĐHQG Hà Nội, 2000 ) và đặc biệt tại Hội thảo bàn về công tác chủ
nhiệm lớp ở trường phổ thông do Bộ GD & ĐT tổ chức vào tháng 8/2010 vừa
qua có nhiều bài viết của các nhà khoa học và các nhà QLGD có giá trị, đó là:
“Nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của PGS. TS Bùi Văn
Quân; “Một vài điểm mới trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”
của PGS. TS Hà Nhật Thăng; “Phương hướng nâng cao năng lực giáo dục
cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thôn ” của PGS. TS
Nguyễn Dục Quang; “Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông quan
niệm và một số kiến giải” của PGS.TS Đặng Quốc Bảo; “Sứ mệnh và vai trò
của giáo viên chủ nhiệm” của PGS.TS Mạc Văn Trang; “Nâng cao năng lực
làm công tác chủ nhiệm cho giáo viên” của PGS.TS Nguyễn Văn Khôi ;
“Giáo viên chủ nhiệm với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh” của
Hoàng Thị Nga ... (Kỉ yếu Hội thảo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tháng 8 –
2010). v.v...
Tuy đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về xây dựng các giải
pháp quản lý hoạt động giáo dục, quản lý nhà trường nói chung và công tác
chủ nhiệm lớp, quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT nói riêng,
dưới các hình thức khác nhau, nhưng đối với các trường PT DTNT Trung
ương – đơn vị giáo dục chuyên biệt trực thuộc Bộ GD & ĐT thì chưa có một
công trình nào đi vào nghiên cứu và xây dựng các giải pháp quản lý hoạt động
chủ nhiệm lớp. Do vậy việc nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt
động chủ nhiệm lớp ở các trường PT DTNT Trung ương có ý nghĩa quan
trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các
trường PT DTNT, góp phần đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp phát triển
giáo dục đào tạo.
hiểu: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
8
Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết
hợp với nhau trong một tổ chức, một nhóm để đạt được mục tiêu đã định.
Quản lý là quá trình cùng làm việc của các cá nhân để hoàn thành mục tiêu
chung của tổ chức, của nhóm. Quản lý là một nghệ thuật đạt mục tiêu đề ra
thông qua việc điều khiển, phối hợp, chỉ huy hoạt động của người khác.
Qua các lý giải và khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hưóng dẫn
các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích,
ý tưởng của nhà quản lý.
Hoạt động quản lý gồm hai bộ phận cấu thành: Chủ thể quản lý và
khách thể quản lý.
Chủ thể quản lý là con người hoặc tổ chức do con người lập nên.
Khách thể quản lý có thể là ngưòi, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như:
Trường học, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, môi trường ... , cũng có thể là
những vật trừu tượng: nội quy, quy chế, luật lệ ... . Cũng có khi khách thể là
người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới
thấp hơn.
Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ
trợ lẫn nhau. “Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì
sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng
nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý”. Trong quản
lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động
nhằm đạt tới mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức
và lao đông.
Xét dưới góc độ điều khiển học, hành động quản lý chính là qua trình
của nhà trường.
Đối với học sinh, GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi
nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và
các mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong lớp phụ trách dựa trên đội
ngũ cán bộ lớp, cán bộ đoàn và tính tự giác của các học sinh.
10
Trong quan hệ với các lực lượng khác trong và ngoài nhà trường để phát
triển nhân cách học sinh và là cầu nối giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Xem xét về chức năng của GVCN, nhìn một cách tổng thể GVCN vừa
có chức năng lãnh đạo, tổ chức và quản lý, các chức năng này được tích hợp
hài hoà ở người GVCN. Người GVCN thực hiện chức năng quản lý khi đại
diện cho hiệu trưởng, Hội đồng nhà trường thực hiện các chủ trương kế hoạch
chung của trường, nhưng lại là người lãnh đạo khi phải xác định tầm nhìn cho
sự phát triển của học sinh trong lớp với tư cách là người đứng đầu tập thể lớp,
lãnh đạo tập thể lớp phát triển thành một tập thể thân thiện thực sự.
Nhiệm vụ và các nội dung công việc cần phải làm của GVCN để hoàn
thành được mục tiêu giáo dục đề ra. Theo quy định tại điều lệ trường THPT
của Bộ GD & ĐT, GVCN có nhiệm vụ:
- Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp
tổ chức giáo dục sát đôi tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp.
- Công tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các
giáo viên bộ môn, đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội có liên quan trong
hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm.
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kì và cuối năm học, đề
nghị việc: khen thưởng, kỉ luật học sinh; lên lớp thẳng hay ở lại lớp; kiểm
tra lại, rèn luyện thêm của học sinh và hoàn thành hồ sơ sổ điểm, học bạ
học sinh.
- Báo cáo thường kì và đột xuất về tình hình của lớp với hiệu trưởng.
+ Quản lý các hoạt động của chủ nhiệm lớp .
Hoạt động quản lý trong nhà trường cũng như các hoạt động quản lý
khác đều được dựa trên những chức năng cơ bản của quản lý đó là: Xây dựng
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Đối với việc quản lý đội ngũ GVCN lớp, phải căn cứ vào kế hoạch
tuyển sinh, tập thể học sinh để lựa chọn được đội ngũ GVCN lớp sao cho
công tác chủ nhiệm hiệu quả nhất. Việc lựa chọn GVCN thường dựa trên
phẩm chất, năng lực làm việc của giáo viên. Để việc lựa chọn đúng đắn, hiệu
trưởng nhà trường cần:
12
+ Xây dựng kế hoạch cụ thể như nắm bắt thông tin, bàn bạc trong hội
đồng nhà trường rồi đưa ra dự kiến đội ngũ GVCN.
+ Thông qua dự kiến để lắng nghe ý kiến phản hồi từ nhiều bộ phận,
nhiều góc cạnh khác nhau.
+ Dựa trên ý kiến phản hồi và tình hình thực tế, mục tiêu đề ra, hiệu
trưởng sẽ tiến hành kiểm tra thông tin, điều chỉnh danh sách đội ngũ GVCN .
+ Đưa ra quyết định về danh sách GVCN lớp .
- Đối với việc quản lý các hoạt động của chủ nhiệm, cần phải:
+ Triển khai cho GVCN học tập về quyền lợi và nghĩa vụ của GVCN.
+ Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm chung cho cả năm học, kì học.
+ Công bố kế hoạch, hướng dẫn và chỉ đạo việc thực hiện nội dung kế hoạch.
+ Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của GVCN.
Tóm lại, từ phân tích trên có thể hiểu: quản lý công tác chủ nhiệm lớp
chính là quản lý đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm và quản lý những
công việc mà người GVCN nên và cần phải làm để phát triển tập thể lớp chủ
nhiệm.
1.2.4. Giải pháp và giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp
1.2.4.1. Giải pháp
- Giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ GVCN lớp.
Các giải pháp được xác định nêu trên có phạm vi tác động rộng, bao
quát, nó chứa đựng các chức năng của quản lý.
Ngoài ra có thể xác định các giải pháp theo hướng căn cứ vào nội dung
của công tác quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp, sẽ có các nhóm giải pháp:
- Giải pháp quản lý đội ngũ GVCN: quản lý về số lượng, chất lượng,
việc tăng cường, phát triển năng lực ... cho đội ngũ GVCN.
- Giải pháp quản lý hoạt động của GVCN: nội dung công việc mà
GVCN nên và cần phải làm.
Với việc xác định các giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm nêu trên,
có thể thấy các giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT
14
DTNT Trung ương khá đa dạng, phong phú. Việc xác định cụ thể và sử dụng
các giải pháp này tùy thuộc vào điều kiện của tổ chức và thực trạng công tác
chủ nhiệm lớp ở các nhà trường.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, các giải pháp quản lý công tác
chủ nhiệm lớp ở các trường PT DTNT Trung ương về cơ bản sẽ được xác
định theo các định hướng phân tích ở trên. Như vậy, có thể quan niệm: Giải
pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT DTNT Trung ương là
các hoạt động cụ thể được chủ thể quản lý sử dụng nhằm tác động đến các
hoạt động chủ nhiệm lớp nhằm đạt tới mục tiêu là giải quyết những vấn đề tồn
tại và nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
1.3. Trường PT DTNT trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, mục tiêu và vai trò của trường PT DTNT
Theo điều lệ trường trung học và quy chế hoạt động của trường phổ
thông dân tộc nội trú: Trường PT DTNT là loại hình trường chuyên biệt nằm
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nhà nước thành lập trường PT DTNT nhằm đào tạo các bậc học cho
nghiệp.
- Tổ chức chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho học sinh phổ thông
dân tộc nội trú..
- Có kế hoạch theo dõi số học sinh đã tốt nghiệp nhằm đề ra các giải
pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục.
1.3.3. Hệ thống trường PT DTNT
Theo quy chế về tổ chức và hoạt động của trường PT DTNT mà Bộ GD
& ĐT đã ban hành, hệ thống trường PT DTNT gồm có:
- Trường PT DTNT cấp huyện đào tạo cấp THCS được được thành lập
tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng dân tộc (Trong trường hợp cần thiết để
tạo nguồn cán bộ là con em dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KT - XH đặc
biệt khó khăn, Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể giao cho trường PT DTNT cấp
huyện đào tạo cả cấp THPT).
- Trường PT DTNT cấp tỉnh đào tạo cấp THPT được thành lập tại các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
16
- Trường PT DTNT trực thuộc Bộ đào tạo cấp THPT và khi cần thiết có
thể đào tạo dự bị đại học.
1.4. Một số vấn đề quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT
DTNT
1.4.1. Mục đích quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT DTNT
Mục đích của việc quản lý công tác chủ nhiệm ở các nhà trường nói
chung và ở trường phổ thông dân tộc nội trú nói riêng về cơ bản đều có điểm
chung là để nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý. Qua đó để nắm bắt,
đánh giá tình hình công tác chủ nhiệm lớp và các vấn đề có liên quan đến hoạt
động này hoạt động này, từ đó có sự điều chỉnh kịp thời và đề ra các, biện
pháp, giải tác động trở lại hoạt động chủ nhiệm lớp khắc phục những hạn chế,
sai sót nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp nhằm đạt tới mục tiêu hoàn
+ Quản lý công tác tiếp nhận học sinh và lớp chủ nhiệm đầu năm học.
Có rất nhiều nội dung công việc cụ thể GVCN ở trường PT DTNT phải
làm: Nắm bắt tình hình và đặc điểm của lớp và từng học sinh trong lớp;
Nắm bắt tình hình lớp và làm công tác ổn định lớp ban đầu; phối hợp với
phòng quản lý học sinh để sắp xếp, bố trí nơi ăn, ở, nhận lớp học và hướng
dẫn việc thực hiện nội quy cho học sinh; đặc biệt là với khối lớp 10, phần lớn
lần đầu phải sống xa gia đình, bố mẹ nên GVCN cần có sự quan tâm sâu sát.
+ Quản lý việc xây dựng, thực hiện kế hoạch làm việc của GVCN
Quản lý nắm bắt việc lập kế hoạch và nội dung của kế hoạch .
Để GVCN có thể lập được bản kế hoạch đảm bảo tính khoa học, sát thực
tiễn và khả năng thực thi cao, hiệu trưởng nhà trường phải hướng dẫn, giúp đỡ
GVCN, đồng thời đặt ra yêu cầu cơ bản của việc lập kế hoạch công tác để
GVCN thực hiện. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch công tác của GVCN.
+ Quản lý công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lớp của GVCN.
Quản lý công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lớp của GVCN gồm có quản
lý việc lựa chọn, việc sử dụng và bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ lớp. Vì
tính chất đặc thù của trường nội trú, nên hiệu trưởng và GVCN đều phải nhận
thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác này và vai trò của đội ngũ cán bộ
18
lớp, đây là những trợ thủ đắc lực giúp cho GVCN quản lý và triển khai tổ
chức các hoạt động ở lớp chủ nhiệm.
+ Quản lý việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Đây là nội dung rất quan trọng ở các trường PT DTNT. Hoạt động
ngoài giờ được tổ chức thường xuyên và đa dạng ở trường dân tộc nội trú, là
hoạt động hết sức quan trọng trong giáo dục toàn diện cho học sinh. Quản lý
việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp của GVCN gồm có: kế hoạch tổ
chức, việc tổ chức, chỉ đạo và kết quả.
+ Quản lý việc đánh giá, xếp loại học sinh.
hiệu trưởng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có một số
phương pháp thường sử dụng:
- Phương pháp kế hoạch hóa: hiệu trưởng có thể dùng để xây dựng mục
tiêu, kế hoạch hoạt động chủ nhiệm, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của
giáo viên…
- Phương pháp giáo dục ý thức, tư tưởng, đạo đức: Đây là sự tác động
về tinh thần và tư tưởng đối với GVCN nhằm giác ngộ lí tưởng, hình thành ý
thức chính trị, và pháp luật, phát huy tính tự giác, tính tích cực và sáng tạo lao
động để hoàn thành nhiệm vụ. Ý thức đúng thì hành động tốt. Trên cơ sở của
ý thức, tư tưởng và đạo đức đúng đội ngũ GVCN sẽ có trách nhiệm, hăng hái
lao động, phát huy hết năng lực của bản thân để cống hiến.
Phương pháp này có thể thực hiện dưới hình thức hội nghị như hội nghị
tổng kết về công tác chủ nhiệm, tổ chức hội nghị về chuyên đề công tác chủ
nhiệm ở các trường nội trú, tập huấn bồi dưỡng công tác chủ nhiệm…Hoặc
dưới các hình thức hoạt động thông tin như cung cấp tài liệu cho GVCN. Hiệu
trưởng có thể áp dụng sinh động các hình thức giáo dục phù hợp với từng đối
tượng, từng nơi, từng lúc.
- Phương pháp tâm lí – xã hội.
Tác động tâm lí –xã hội là một phương pháp quản lý rất quan trọng chủ
yếu nhằm tác động vào tâm tư, tình cảm của đội ngũ GVCN, tạo cho họ
không khí phấn khích, yêu thích công việc, gắn bó với tập thể lao động, hăng
20
say làm việc, động viên, giúp đỡ họ giải quyết những vướng mắc trong công
tác và vượt qua những khó khăn về cuộc sống.
Những yếu tố trong quan hệ gia đình và xã hội có tác động mạnh đến
tâm lý và hiệu quả công việc của người lao động, đặc biệt môi trường tâm lí –
xã hội nơi làm việc có tầm quan trọng hơn cả do đó người hiệu trưởng phải
quan tâm để tạo ra bầu không khí tâm lí - xã hội chung của nhà trường để tác
mục tiêu và uốn nắn kịp thời những lệch lạc, rủi ro có thể xảy ra.
Cần lưu ý khi thực hiện phương pháp này là: Quyết định của hiệu
trưởng đưa ra sau khi đã thực hiện dân chủ hóa.
- Phương pháp kinh tế: Là tác động vào đội ngũ GVCN thông qua các
lợi ích kinh tế, làm cho các GVCN tích cực, tự giác thực hiện trách nhiệm,
nhiệm vụ của mình một cách tốt nhất để đạt hiệu quả cao nhất. Phương pháp
này thể hiện sự kết hợp hài hòa đúng đắn giưa ba lợi ích: Giáo viên làm công
tác chủ nhiệm, lợi ích nhà trường và lợi ích xã hội. Cụ thể: Việc tăng lương
trước thời hạn, xét thưởng cao cho các GVCN có kết quả công tác tốt và
ngược lại với các GVCN không hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Tác động kinh tế sẽ tạo động lực tốt nếu GVCN có nhận thức đầy đủ và
kết hợp đúng đắn các lợi ích.
Sử dụng phương pháp này đòi hỏi hiệu trưởng phải có trình độ và năng
lực về nhiều mặt, đồng thời phải có bản lĩnh vững vàng.
Thực tiễn cho thấy, phương pháp quản lý khoa học, hợp lí sẽ cho hiệu
quả cao. Nhưng để thực hiện tốt công tác quản lý các hoạt động chủ nhiệm,
trong quá trình quản lý hiệu trưởng cần vận dụng tổng hợp, kết hợp hài hòa
giữa các phương pháp quản lý. Tuy nhiên vẫn phải khẳng định rằng: Phương
pháp giáo dục chính trị tư tưởng nổi lên hang đầu, phải làm thường xuyên và
nghiêm túc. Phương pháp tâm lí - xã hội là rất quan trọng, thực hiện đúng
phương pháp hành chính luật pháp là rất cần thiết, khẩn trương nhưng phải sử
dụng một cách đúng đắn.
Việc lựa chọn đúng và sử dụng đúng mức tác động của phương pháp,
biết vận dụng linh hoạt tùy theo đối tượng tác động để các phương pháp bổ
sung cho nhau sẽ góp phần nâng cao hiệu quản lý.
1.4.3.2. Hình thức quản lý
22
Để quản lý tốt công tác chủ nhiệm lớp ở trong nhà trường, cần phải có