Một số giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN HỒNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG THPT
QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN HỒNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG THPT
QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05

Người hướng dẫn: PGS. TS NGUYỄN VĂN TỨ

NGHỆ AN, 2013


Chữ viết đầy đủ

CBQL

Cán bộ quản lý

CMHS

Cha mẹ học sinh

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

GV

Giáo viên

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

HS

Học sinh

NGLL

Ngoài giờ lên lớp


Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG THPT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

7

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2. Một số khái niệm cơ bản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.3. Nội dung công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1.4. Các nội dung quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT . . . . 34
Kết luận chương 1 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN 8, TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,
văn hóa - giáo dục của Quận 8, TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
2.2. Khái quát về giáo dục THPT tại Quận 8, TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
2.3. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại Quận 8,
TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 49
2.4. Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT
tại Quận 8, TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 58
2.5. Đánh giá chung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 65
Kết luận chương 2 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 66
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
Ở TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN 8, TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 67


..............................................................................

97

101

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới ngày nay ở trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ
tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức;
đồng thời, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát
triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền
lợi quốc gia. Công nghệ thông tin - truyền thông được ứng dụng trên quy mô
rộng lớn ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong giáo dục. Giáo
dục thế giới đang thực hiện những nguyên tắc cơ bản: “học để biết, học để
làm, học để khẳng định mình, học để cùng chung sống”, chuyển từ giáo dục


tinh hoa sang giáo dục đại chúng, chuyển từ việc chỉ cung cấp tri thức lý
thuyết sang chú trọng hình thành năng lực hoạt động của người học.
Giáo dục đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trên con đường phát
triển của nhân loại, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển kinh
tế - xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Các thành tựu của ngành giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) trong những
năm qua đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế
quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên (GV) và cán bộ quản lý

Trong khi đó, công tác chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác chủ
nhiệm lớp trên suốt lộ trình từ nơi đào tạo (các trường có ngành sư phạm) đến
nơi sử dụng (các trường trung học) còn gặp không ít khó khăn, bất cập mà
chưa được quan tâm đúng mức, chưa có nhiều những giải pháp cần thiết, khả
thi để nâng cao hiệu quả hoạt động. Thậm chí, có lúc có nơi, còn một số
CBQL, GV ở trường THPT chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn tầm quan trọng
và những yêu cầu, nội dung của công tác chủ nhiệm lớp, dẫn đến việc quản lý
và thực hiện công tác chủ nhiệm lớp diễn ra một cách hời hợt, qua loa. Nguồn
lực của trường chủ yếu được dùng để tập trung phục vụ cho việc giảng dạy
chuyên môn, nâng cao tỉ lệ HS lên lớp và thành tích thi cử. Điều này làm cho
việc “dạy người” không còn quan trọng bằng “dạy chữ”. Do đó, việc thực hiện
mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục ở trường THPT vẫn còn hạn chế.


Là một quận vùng ven còn nhiều khó khăn của thành phố Hồ Chí Minh
(TP.HCM), Quận 8 đang trăn trở, nỗ lực vươn lên cùng đất nước. Trừ một số
nét riêng, về cơ bản, ngành GD&ĐT trên địa bàn Quận 8 cũng có các đặc
điểm, thuận lợi, khó khăn như ở hầu hết các địa phương khác của Việt Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm kiếm, xây dựng các giải pháp quản lý
công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT là hết sức cần thiết. Ngoài ra, nếu một
số giải pháp đề xuất phù hợp với Quận 8 thì cũng có thể vận dụng được cho
nhiều địa phương khác. Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Một số giải
pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông Quận 8,
Thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản lý
công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại Quận 8, TP.HCM, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
c) Phương pháp thống kê:
Để xử lý số liệu trong quá trình khảo sát thực trạng, xây dựng giải pháp.
7. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng
tỏ thêm một số vấn đề về lý luận của việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng, xác định các ưu điểm, hạn chế
của việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại Quận 8,
TP.HCM. Từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở
các trường THPT tại Quận 8, TP.HCM mang tính khả thi.
8. Cấu trúc của luận văn


Sau phần Mở đầu, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường
THPT tại Quận 8, TP.HCM.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các
trường THPT tại Quận 8, TP.HCM.
Cuối cùng là phần Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

đạo đức, nhân cách cho HS đã nêu lên được những vấn đề như mục tiêu, yêu
cầu, nội dung, cách thức hoạt động,… Một số công trình tiêu biểu mà chúng
tôi đã trực tiếp hay gián tiếp tham khảo như: Cải tiến việc quản lý đội ngũ
GVCN lớp của Hiệu trưởng trường phổ thông của PGS. TS Lưu Xuân Mới
(chủ nhiệm đề tài), trường CBQL GD&ĐT Hà Nội, 1998; Những tình huống
giáo dục HS của người GVCN của Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử và
Nguyễn Thị Kỷ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000;

Công tác GVCN lớp

ở trường phổ thông của PGS. TS Hà Nhật Thăng (chủ biên), tái bản lần thứ 3,
NXB Giáo dục, 2001; Giáo dục học của PGS. TS Phạm Viết Vượng, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2004; Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác GVCN lớp
cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh, Tạp chí Giáo dục số 126
(11/2005); Kỷ yếu hội thảo Công tác GVCN ở trường phổ thông của Bộ
GD&ĐT, NXB Giáo dục, 2010; ...
Các văn bản của Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT ban hành cũng đã
đề cập ít nhiều đến công tác chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác của
GVCN lớp.
Tuy nhiên, hiện nay những tài liệu, công trình nghiên cứu về các giải pháp
quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT vẫn còn tương đối ít. Vì vậy,
theo chúng tôi, những cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề này cũng chưa hẳn
đã hoàn chỉnh và cũng chưa được hệ thống hóa.
Ngoài ra, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào khác nghiên cứu về
các giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT trên địa bàn
Quận 8, TP.HCM. Đây cũng là một lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài này.


1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Trường trung học phổ thông

Trong nhà trường thì lớp học là đơn vị cơ bản được thành lập để tổ
chức các hoạt động giáo dục và giảng dạy HS. Ở mỗi lớp, nhà trường chọn
ra một GV trong số các GV dạy lớp đó để làm công tác chủ nhiệm lớp.
GVCN chịu trách nhiệm chính về chất lượng giáo dục toàn diện HS của lớp
mình chủ nhiệm.
Theo Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng: “Giáo dục toàn diện là
những biện pháp tổng thể của nhà trường, gia đình và xã hội tác động tới HS
nhằm hình thành và phát triển tất cả các mặt: trí tuệ, đạo đức, sức khoẻ và
nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
cuộc sống hạnh phúc của mỗi cá nhân. Giáo dục toàn diện trong nhà trường
thường biểu hiện ở nội dung giáo dục bao gồm đầy đủ các mặt: đức dục, trí
dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục nghề nghiệp, … phù hợp với điều kiện và đặc
điểm đặc thù của từng cấp học, bậc học”. (Giáo dục Việt Nam hướng tới
tương lai - vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004).
Do đó, GVCN phải đạt các yêu cầu sau: có sức khỏe tốt, có năng lực
chuyên môn vững, có kinh nghiệm giáo dục và quản lý HS, có tinh thần
trách nhiệm và nhiệt tình với công tác chủ nhiệm, có uy tín với HS và tập thể
sư phạm.
Ở trường THPT, GVCN có vai trò là người:
- Thay mặt Hiệu trưởng quản lý một lớp học;
- Tập hợp HS của lớp thành một khối đoàn kết;
- Tổ chức các hoạt động giáo dục HS trong lớp;
- Cố vấn đắc lực của các đoàn thể trong trường, trong lớp;
- Chủ động trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục.
Theo PGS. TS Hà Nhật Thăng, GVCN có 4 chức năng chủ yếu: chức năng
quản lý giáo dục, chức năng cố vấn, chức năng đại diện, chức năng đánh giá.


Theo đúc kết của Hội thảo Nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm lớp ở
trường trung học do Vụ Giáo dục trung học thuộc Bộ GD&ĐT tổ chức tại Đà

từng HS;
g) Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;
h) Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS, với các GV bộ môn, Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám
sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của HS lớp mình chủ nhiệm và góp
phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường;
i) Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị
khen thưởng và kỷ luật HS; đề nghị danh sách HS được lên lớp thẳng, phải
kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại
lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ HS;
j) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng;
k) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
GVCN lớp có những quyền sau đây:
a) Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và
giáo dục HS;
b) Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc,
bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
c) Được trực tiếp hay thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường;
d) Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành;
e) Được cử tham gia các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề để nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
f) Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường
và cơ sở giáo dục khác nếu thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ theo quy định
và được sự đồng ý của Hiệu trưởng;
g) Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, an toàn thân thể;
h) Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của HS lớp mình;


i) Được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ



giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn
định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những
chương trình, mục tiêu của hệ thống đó”.
Theo Quản trị hiệu quả trường học của K.B. Everard, Geofrey Morris và
Ian Wilson, do Dự án SREM sưu tầm và biên dịch (NXB Hà Nội, 2009) thì
các định nghĩa về quản lý có rất nhiều và hết sức đa dạng. Tuy nhiên, về mặt
thực tiễn, có thể nói ngắn gọn như sau:
Quản lý (theo nghĩa rộng nhất) bao gồm:
a) Đề ra phương hướng, mục đích và mục tiêu;
b) Lập kế hoạch tiến trình thực hiện hay cách thức để đạt được mục tiêu;
c) Tổ chức các nguồn lực có sẵn (nhân lực, thời gian, vật lực), để có
thể đạt được mục tiêu một cách kinh tế nhất theo đúng kế hoạch đề ra;
d) Kiểm soát tiến trình thực hiện (ví dụ: đối chiếu kết quả đạt được với
kế hoạch và điều chỉnh, sửa chữa khi cần thiết);
e) Đề ra và nâng cao chuẩn của tổ chức.
Theo Giáo trình khoa học quản lý do Hồ Văn Vĩnh chủ biên (NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002): “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để đạt mục tiêu đã đề ra”.
Quản lý có bốn chức năng: chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức,
chức năng chỉ đạo thực hiện, chức năng kiểm tra đánh giá. Bốn chức năng
được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình quản lý. Các chức năng
này có quan hệ chặt chẽ nhau, đan xen nhau và đều cần đến thông tin quản lý.
1.2.5. Quản lý giáo dục
Từ các khái niệm quản lý nêu trên, ta có thể nói: Quản lý giáo dục là
thực hiện bốn chức năng quản lý trong công tác giáo dục, bao gồm: kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục.
Ở cấp độ vi mô thì quản lý giáo dục là quản lý nhà trường.
Theo Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục của Giáo sư Phạm


Có thể nói, nội dung công tác chủ nhiệm lớp nói chung và ở trường
THPT nói riêng là một sự tổng hợp những đặc trưng, yêu cầu, phẩm chất của
công tác quản lý, công tác giáo dục, công tác nghệ thuật,… Nội dung đó tùy
thuộc vào mục tiêu, yêu cầu cụ thể của từng đối tượng trong một không gian,
thời gian cụ thể và cần sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, chủ động của người
làm công tác chủ nhiệm. Những nội dung cơ bản đó như sau:
1.3.1. Tìm hiểu, nắm vững đặc điểm của HS lớp chủ nhiệm
HS là đối tượng giáo dục đồng thời cũng là chủ thể giáo dục. Để giáo
dục HS có kết quả tốt, GV phải hiểu các em một cách đúng đắn, cụ thể và đầy
đủ, từ đó lựa chọn những tác động sư phạm thích hợp. Thực tiễn giáo dục cho
thấy, nếu không hiểu rõ HS thì những tác động sư phạm được lựa chọn sẽ
không phù hợp, do đó không tạo ra kết quả như mong muốn, thậm chí sẽ bị
thất bại. Vì vậy, GVCN cần cố gắng hiểu rõ từng HS một cách thật đầy đủ,
chính xác về:
a) Hoàn cảnh sống của từng HS:
Mỗi HS được sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh gia đình khác
nhau. Tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, phương pháp giáo dục, phẩm
chất đạo đức của bố mẹ; điều kiện sinh hoạt vật chất và bầu không khí tình
cảm của gia đình; quan hệ của gia đình với xóm giềng; quan hệ bạn bè; tình
hình an ninh trật tự của địa phương; … Tất cả những điều đó đều có ảnh
hưởng, tác động rất lớn đến HS. Bởi vậy, việc tìm hiểu, nắm vững điều kiện,
hoàn cảnh sống của từng HS rất quan trọng. Nhờ đó mà GVCN biết được
nguyên nhân nào, những yếu tố tích cực hoặc tiêu cực, những thuận lợi hay
khó khăn gì đang chi phối HS; biết được cách thức giáo dục của gia đình để
có thể tư vấn, phối hợp với gia đình mà lựa chọn phương pháp giáo dục HS
cho phù hợp, hiệu quả.
b) Những đặc điểm về thể chất, sinh lý của từng HS:
Nắm được những đặc điểm về thể chất, sinh lý của HS, GVCN sẽ
có hướng động viên các em phát huy mặt mạnh; giao việc thích hợp; đồng

trong sáng, cao đẹp; rèn luyện được năng lực và sức khỏe dồi dào; biết sống


tự lập và cũng biết hợp tác, hòa nhập; đáp ứng tốt các yêu cầu đổi mới của
thời đại và đất nước.
Ở độ tuổi HS phổ thông nói chung, PTTH nói riêng, cuộc sống nội
tâm của các em dễ có những biến động do các quá trình tâm lý chưa ổn định
và do ảnh hưởng của xã hội, của hoàn cảnh sống. Bởi vậy, GVCN phải
thường xuyên quan tâm đến sự thay đổi của từng HS để giúp HS có định
hướng đúng và điều chỉnh kịp thời, trong suốt thời gian làm chủ nhiệm lớp
(một hoặc nhiều năm học). Tuy nhiên, nội dung cụ thể của việc tìm hiểu có
khác nhau ở từng thời điểm. Khi mới bắt đầu tiếp cận với HS, GVCN lớp cần
nhanh chóng nắm được đại khái những nét cơ bản của từng HS và cả lớp nói
chung. Trên cơ sở đó, dự kiến kế hoạch tổ chức, giáo dục cho tập thể lớp, cho
từng nhóm HS và cho từng cá nhân. Sau đó, việc tìm hiểu HS sẽ giúp GVCN
kiểm tra lại độ chính xác của các thông tin đã thu được ban đầu, kịp thời bổ
sung, điều chỉnh kế hoạch, biện pháp tác động sư phạm phù hợp với từng đối
tượng giáo dục. Gần cuối học kỳ hoặc cuối năm học, GVCN tiếp tục theo dõi
các em để nắm được tình hình và kết quả giáo dục, những diễn biến mới phát
sinh ở bên trong và ở xung quanh HS. Từ đó mà kịp thời bổ sung, điều chỉnh
cách thức tác động và biện pháp giáo dục nhằm đạt được chất lượng, hiệu quả
giáo dục cao hơn.
1.3.2. Lập kế hoạch cho công tác chủ nhiệm lớp
Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp là chương trình hoạt động của GVCN
trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục HS đối với lớp chủ nhiệm. Hiệu quả
giáo dục HS của một lớp phụ thuộc vào tính khoa học, thực tiễn và khả thi
của kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp đó.
Khi xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp phải chú ý các vấn đề sau:
a) Những yếu tố cần tìm hiểu:
• Mục tiêu và nhiệm vụ năm học của ngành.

Đó phải là những HS có uy tín với tập thể lớp, có khả năng và điều
kiện hoạt động tập thể, học lực trung bình trở lên, gồm có:
• Một lớp trưởng: phụ trách chung, đại diện cho tập thể lớp khi
liên hệ với các thầy cô và thay mặt cho thầy cô để điều hành, quản lý lớp, khi
thầy cô vắng mặt. Dưới sự chỉ đạo và cố vấn của GVCN, lớp trưởng tổ chức,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status