Phần thứ nhất
PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong thời gian qua, số lượng học sinh bỏ học với tỷ lệ khá cao, bỏ học có nhiều
lý do, nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, do
công tác tuyên truyền giáo dục trong phụ huynh học sinh chưa tốt, sự kết hợp giữa các
lực lượng xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động chưa chặt chẽ… nhưng sự bắt
nguồn từ nguyên nhân sâu sa nhất là chất lượng của công tác chủ nhiệm lớp chưa tốt, từ
đó dẫn đến học sinh bỏ học tôi thấy là việc cần nghiên cứu để có thể phần nào hạn chế
được học sinh bỏ học.
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường học có vai trò rất quan trọng trong giáo dục học
sinh; trong thời gian qua công tác này mặc dù có sự chỉ đạo kỳ quyết của các cấp lãnh
đạo ngành cùng với sự lãnh và chỉ đạo của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo
dục. Song năng lực của đội ngũ giáo viên được phân công làm công tác chủ nhiệm
không đồng đều, một số giáo viên chưa toàn tâm toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục,
chưa có sự nổ lực trong công tác chủ nhiệm. Từ đó dẫn đến thực hiện công tác chủ
nhiệm chưa tốt.
Trước thực tế trên, sự cần thiết nghiên cứu nguyên nhân, xác định chức năng,
nhiệm vụ và tìm ra biện pháp giúp cho công tác chủ nhiệm lớp ở trường học tăng cường
công tác chủ nhiệm, thu hút học sinh đến trường, duy trì sĩ số là vấn đề rất cần thiết
trong điều kiện hiện nay để góp phần hạn chế việc học sinh bỏ học.
Phần thứ hai
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Người giáo viên chủ nhiệm phải hiểu và xác định đúng vai trò, vị trí, nhiệm
vụ của mình.
Công tác chủ nhiệm lớp là một trong những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn nếu thực
hiện đầy đủ và có trách nhiệm các yêu cầu, nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm;
không thể phủ nhận vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số ở trường
THCS nếu như xác định đúng vị trí, nhiệm vụ, biết tổ chức giáo dục.
Người giáo viên chủ nhiệm phải tham gia các hoạt động chính trị xã hội, phải rèn
luyện đạo đức, tác phong sư phạm đây vừa là trách nhiệm vừa yêu cầu cần thiết trong
việc giáo dục học sinh. Vì để làm tốt công tác chủ nhiệm trước hết phải được học sinh
trẻ cũng là một nguyên tắc nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, để thực hiện tốt chức năng
phối hợp các lực lượng xã hội không ai thực hiện tốt hơn giáo viên chủ nhiệm. Phối hợp
các lực lượng xã hội không chỉ dừng ở chỗ nhận thức, mà quan trong hơn cả là xây dựng
được chương trình, kế hoạch hoạt động nhằm thống nhất, khép kín quá trình hoạt động,
về không gian, thời gian tác động đến học sinh của lớp chủ nhiệm.
2. Cần quán triệt đầy đủ nhiệm vụ, nội dung công tác chủ nhiệm:
- Nhiệm vụ chủ yếu của người giáo viên chủ nhiệm bao gồm:
Người giáo viên chủ nhiệm, trước hết phải thực hiện tốt những nhiệm vụ của một
thầy giáo nói chung, đó là mẫu mực về đạo đức, tác phong, gương mẫu trong việc chấp
hành pháp luật và những quy định của nhà nước, nắm vững đường lối, chủ trương, quan
điểm, lý luận giáo dục và biết vận dụng sáng tạo vào thực tiển giáo dục thế hệ trẻ, làm
tốt công tác giáo dục, vũ trang tri thức khoa học, phát triển trí tuệ của học sinh. Đồng
thời, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm giáo dục cho học sinh những phẩm chất đạo
đức, rèn luyện năng lực để các em trở thành những công dân tốt mai sau.
- Nội dung công tác của người giáo viên chủ nhiệm lớp:
+ Nghiên cứu nắm vững đường lối quan điểm, lí luận giáo dục để vận dụng vào
công tác chủ nhiệm lớp. Đặc biệt cần nắm vững phương pháp, nghệ thuật sư phạm.
+ Nắm vững mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ
giáo dục, dạy học của năm học. Đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu, tìm hiểu những yêu
cầu, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, trên cơ sở đó vận dụng vào tình hình cụ thể của
lớp chủ nhiệm.
2
+ Hiểu sâu sắc chức năng nhiệm vụ của các tổ chức trong nhà trường, nắm được
kế hoạch hoạt động của cán bộ phụ trách các mặt hoạt động và đội ngũ giáo viên giảng
dạy các môn học ở lớp chủ nhiệm.
+ Giáo viên chủ nhiệm phải có kế hoạch nghiên cứu đặc điểm gia đình và đặc điểm
của từng học sinh của lớp chủ nhiệm, biết phân loại học sinh theo các đặc điểm để có
giải pháp tác động phù hợp.
+ Điều đặc biệt quan trọng đối với giáo viên chủ nhiệm là bằng các phương pháp
nghiên cứu phân tích được nguyên nhân của các hiện trạng, đặc điểm của từng họcsinh.
- Bằng uy tín và vị thế của giáo viên chủ nhiệm, phương pháp tác động trực tiếp
đem lại hiệu quả giáo dục tức thời.
Ví dụ: Học sinh nói chuyện trong giờ học, không làm bài đầy đủ hoặc có nhiều
biểu hiện hành vi tốt như làm bài hay, sáng tạo thì giáo viên chủ nhiệm có thể nhắc nhở,
tuyên dương, động viên, khen thưởng bằng lời hoặc cho điểm tốt phù hợp…
3
- Nếu giáo viên chủ nhiệm không đo được mức độ của hành vi, sử dụng không
tương ứng, dẫn tới phản tác dụng giáo dục hoặc không đáng khen mà khen quá lời cũng
không tốt, những hành vi chỉ đáng nhắc nhở nhưng giáo viên chủ nhiệm vì một lẽ gì
khác đã cảnh cáo phê bình không tương xứng với khuyết điểm sẽ dễ làm cho học sinh
không đồng tình, hậm hực dẫn tới mất lòng tin, bi quan, dẫn đến bỏ học.
- Muốn phát huy hiệu qủa của phương pháp giáo dục trong tập thể học sinh, giáo
viên chủ nhiệm trước hết phải là người có trình độ lí luận và có năng lực phuyết phục
tốt, có uy tính, có trách nhiệm, nắm vững đối tượng, xây dựng được tập thể học sinh
thành một tập thể vững mạnh và hội đủ các điều kiện sau:
+ Đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ chung của từng thành viên của lớp,
+ Tổ chức những hoạt động chung để thực hiện mục tiêu, có tính thu hút học sinh.
+ Lớp có đội ngũ tự quản có uy tín, có trách nhiệm, có năng lực, bản lĩnh,
+ Có kỉ luật chặt chẽ, có qui định, nội qui phải rõ ràng, được mọi người tôn trọng
và tự giác chấp hành,
+ Có dư luận tập thể lành mạnh, dư luận của tập thể là phản ánh sức mạnh, là bản
lĩnh của mỗi thành viên.
2.2. Phương pháp tuyên truyền, vận động trong phụ huynh học sinh:
- Người giáo viên chủ nhiệm phải nắm vững việc xây dựng trường học thân thiện,
tích cực một phần không nhỏ xuất phát từ việc xây dựng tổ chức lớp học thân thiện, tích
cực. Để làm được việc này giáo viên phải đầu tư nghiên cứu đầy đủ tình hình lớp học về
năng lực, thực trạng và những biểu hiện trong học tập và trong hoạt động của học sinh
để đề ra biện pháp phù hợp.
Khi học sinh có biểu hiện lơ là trong học tập, chán học có hiện tượng bỏ học giáo
viên phải tìm hiểu hoàn cảnh, điều kiện gia đình tạo lập mối quan hệ thường xuyên, gần
định hướng rõ ràng hơn đối với nhiệm vụ được giao, đồng thời làm cơ sở để chỉ đạo
công tác chủ nhiệm trong năm học.
Kết quả của năm học 2012-2013 số lượng học sinh bỏ học cụ thể như sau:
Thời điểm Số lượng
Bỏ học
tính đến
cuối
HK,
năm học
Tỉ lệ
%
Lý do học sinh bỏ học
Do kinh tế Do HL yếu
Lý do
khác
SL TL SL TL SL TL
HK I: 2012-2013 1032 5 0,48 3 0,29 1 0,07 1 0,07
HKII: 2012-2013 1032 5 0,48 3 0,29 1 0,07 1 0,07
Cả năm:
2012-2013
1032 5 0,48 3 0,29 1 0,07 1 0,07
Năm học 2011-2012 học sinh bỏ học 10 em, tỷ lệ 0,99%. Cuối năm học 2012-2013
học sinh bỏ học 5 em , tỷ lệ 0,48%. So với năm học 2011-2012 giảm 5 em.
Trong năm học 2012-2013 sau khi rút kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm tôi
tiếp tục triển khai nội dung các biện pháp này ở trường THCS 1 Sông Đốc trong các
cuộc sinh hoạt giáo viên chủ nhiệm đầu năm và trong những buổi họp tổ chủ nhiệm,
lồng ghép nhắc nhở giáo viên thực hiện các nội dung nêu trên đồng thời đề nghị các giáo
viên chủ nhiệm có kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra giám sát việc lên kế hoạch chủ nhiệm chặt
chẽ hơn.
2. Đề xuất:
3. Nội dung cơ bản của sáng kiến:
Phần 1: Đặt vấn đề nêu lên sự cần thiết nghiên cứu nguyên nhân, xác định chức
năng, nhiệm vụ và tìm ra biện pháp giúp cho công tác chủ nhiệm lớp ở trường học tăng
cường công tác chủ nhiệm, thu hút học sinh đến trường, duy trì sĩ số là vấn đề rất cần
thiết trong điều kiện hiện nay để góp phần hạn chế việc học sinh bỏ học.
Phần 2: Giải quyết vấn đề nêu lên các nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm
phải tham gia các hoạt động chính trị xã hội, phải rèn luyện đạo đức, tác phong sư phạm
đây vừa là trách nhiệm vừa yêu cầu cần thiết trong việc giáo dục học sinh. Vì để làm tốt
công tác chủ nhiệm trước hết phải được học sinh tin yêu quý trọng, có vậy thì trong lời
nói, cử chỉ, hành động của thầy mới có tính thuyết phục cao đối với học sinh.
Phần 3: Kết quả đạt được và những đề xuất kiến nghị.
4. Phạm vi áp dụng:
Triển khai thực hiện tại Trường THCS I Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời và có thể
triển khai các trường trên địa bàn thị trấn Sông Đốc để góp phần hạn chế học sinh bỏ
học.
5. Hiệu quả đạt được:
Năm học 2011-2012 học sinh bỏ học 10 em, tỷ lệ 0,99%. Cuối năm học 2012-2013
học sinh bỏ học 5 em, tỷ lệ 0,48%. So với năm học 2011-2012 giảm 5 em.
Người đăng ký sáng kiến
6
PHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THCS I SÔNG ĐỐC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Huyện Trần Văn Thời, ngày 26 tháng 5 năm 2013
BÁO CÁO
7
Thời điểm Số lượng
Bỏ học
tính đến
cuối
HK,
năm học
Tỉ lệ
%
Lý do học sinh bỏ học
Do kinh tế Do HL yếu
Lý do
khác
SL TL SL TL SL TL
HK I: 2012-2013 1032 5 0,48 3 0,29 1 0,07 1 0,07
HKII: 2012-2013 1032 5 0,48 3 0,29 1 0,07 1 0,07
Cả năm:
2012-2013
1032 5 0,48 3 0,29 1 0,07 1 0,07
Năm học 2011-2012 học sinh bỏ học 10 em, tỷ lệ 0,99%. Cuối học kỳ I năm học
2012-2013 học sinh bỏ học 5 em , tỷ lệ 0,48%. So với năm học 2011-2012 giảm 5 em.
Trong năm học 2012-2013 sau khi rút kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm tôi
tiếp tục triển khai nội dung các biện pháp này ở trường THCS 1 Sông Đốc trong cuộc
sinh hoạt giáo viên chủ nhiệm đầu năm và trong những buổi họp tổ chủ nhiệm, lồng
ghép nhắc nhở giáo viên thực hiện các nội dung nêu trên đồng thời đề nghị các giáo viên
chủ nhiệm có kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra giám sát việc lên kế hoạch chủ nhiệm chặt chẽ
hơn.
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
Trong phạm vi ảnh hưởng rộng rãi tại các trường học trên địa bàn huyện Trần Văn
Thời, nội dung sáng kiến kinh nghiệm này đã được thực hiện và đạt được những kết quả