Một số giải pháp thực hiện xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở ở huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh - Pdf 32

1

bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
--------------------

Hoàng nữ ngọc Oanh

Một số giải pháp
thực hiện xã hội hóa giáo dục
trung học cơ sở ở huyện lộc hà tỉnh hà
tĩnh

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Vinh - 2009


2

Mục lục

Mục lục

Trang

Danh mục viết tắt
M ầu

1


Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về vấn đề xã hội hoá giáo dục

37

Chơng 2 . Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

41

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và giáo dục của 41
huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh
2.2.

Thực trạng công tác xã hội hoá Giáo dục trung học cơ sở ở huyện LộcHà

57

tỉnh Hà Tĩnh.
2.3.

Nguyên nhân của thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục THCS ở huyện 70
Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh

Chơng 3. Một số giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo 73
dục THCS ở huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh
3.1.

Nguyên tắc đề xuất giải pháp

73


Tài liệu tham khảo
Phụ lục nghiên cứu

M ầu
1. Lý do chn ti


4

Không có một sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia nào có thể tách
khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và
những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần
thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem
nh đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả phá sản. [ 5] Nh vậy, giáo dục có
quan hệ mật thiết đến sự hng vong của một quốc gia. Do đó, trong thời kỳ đổi
mới toàn Đảng, toàn dân ta cần khẩn trơng tiến hành ngay một cuộc cải cách
mang tính cách mạng về giáo dục để tạo ra nguồn lực mới với trình độ cao, đa
nớc ta hoà nhập vào trào lu phát triển của loài ngời trong thế kỷ 21. Giáo dục
là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chính vì vậy, không
chỉ riêng nớc ta mà nhiều nớc trên thế giới, giáo dục đợc xem là quốc sách
hàng đầu. Với các chức năng đó, giáo dục không thể tách rời đời sống xã hội,
giáo dục là sự nghiệp chung của toàn xã hội. Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992) điều 35 ghi rõ: Giáo dục đào tạo là quốc
sách hàng đầu. Nhà nớc phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dỡng nhân tài [21,Tr47].
Đảng, Nhà nớc ta luôn quan tâm chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục.
Sau khi Nhà nớc vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề: diệt
giặc dốt ngang hàng với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Từ đó nền giáo
dục nớc nhà rất đợc chú trọng và ngày càng phát triển. Cuộc đổi mới do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo đã đạt đợc nhiều thành tựu quan

đầu, đồng thời Đảng và Nhà nớc đã ban hành nhiều chủ trơng, chính sách về
xã hội hóa công tác giáo dục. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
tiếp tục khẳng định: Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đây là
nhiệm vụ cơ bản và bao trùm sự nghiệp giáo dục trong những năm tới.
Trên cơ sở đó, ngoài sự u tiên đầu t của Nhà nớc cho giáo dục cần phải
huy động và tổ chức lực lợng toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo
dục, tạo điều kiện để mọi ngời dân đợc hởng thụ mọi thành quả do giáo dục
đem lại, xây dựng đợc phong trào cả nớc thành một xã hội học tập.


6

Thực hiện các Nghị quyết của TW Đảng, cuộc vận động xã hội hóa công
tác giáo dục ở huyn Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã phát triển rộng khắp. Đặc biệt
từ khi triển khai Nghị quyết TW2 (khóa VIII) Về định hớng chiến lợc phát
triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc,
xã hội hóa công tác giáo dục lại phát triển một cách mạnh mẽ cả về chiều sâu
và bề rộng, đạt nhiều kết quả nổi bật.
Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo
trên địa bàn, thực hiện những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ
lần thứ nhất đã đề ra: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xã hội hóa giáo dục
một cách sâu rộng, triệt để, trong những năm qua công tác xã hội hóa giáo
dục ở Thạch Hà và Can Lộc cũng nh gần 3 năm qua ở Lộc Hà đã đạt đợc
những kết quả khả quan về quy mô, chất lợng và hiệu quả.
Nhng hiện nay công tác xã hội hoá giáo dục ở huyện Lộc Hà còn gặp
nhiều khó khăn vớng mắc nhất là bậc học THCS: Cơ sở vật chất nhìn chung
còn nghèo nàn, trang thiết bị phục vụ dạy học còn thiếu nhiều, số trờng đạt
chuẩn Quốc gia còn rất ít, cha có trờng nào đạt chuẩn giai đoạn 2, các trờng
phần lớn còn học 2 ca, đặc biệt có trờng còn phải học 2 phân hiệu nên kết quả
giáo dục cha cao, cha đáp ứng đợc nhu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện

Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh
6. Phạm vi nghiên cứu
XHHCTGD là một vấn đề lớn, phức tạp và đa dạng vì vậy luận văn chỉ
tập trung nghiên cứu các hoạt động XHHCTGD THCS ở huyện Lộc Hà tỉnh
Hà Tĩnh từ năm 2004 2009.
7. Phơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phơng pháp nghiên cứu lý luận
Đọc sách, tài liệu, các công trình nghiên cứu, các văn bản, các nghị
quyết, báo cáo tổng kết có liên quan đến xã hội hoá giáo dục, nhằm xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài, định hớng cho việc nghiên cứu thực tiễn.
7.2 .Nhóm phơng pháp nghiên cứu thực tiễn


8

Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục, trng cầu ý kiến qua ankét gồm hệ
thông các câu hỏi, nhằm phát hiện thực trạng xã hội hoá giáo dục THCS và
các biện pháp thực hiện xã hội hoá giáo dục THCS trên địa bàn huyện Lộc Hà,
tỉnh Hà Tĩnh.
7.3. Phơng pháp thống kê
Thống kê số liệu, tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu.
8. Những đóng góp của đề tài
8.1. Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về xã hội hoá giáo dục đối với
giáo dục THCS.
8.2. Đánh giá thực trạng xã hội hoá giáo dục THCS trên địa bàn huyện
Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
8.3. Nêu ra các giải pháp để thực hiện xã hội hoá giáo dục THCS trên địa
bàn huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chơng.

chỉ giới hạn ở trẻ em trong độ tuổi đi học, bây giờ đã mở rộng ra đối với tất cả
mọi ngời. Từ năm 1972, UNESCO đã đề ra quan điểm Giáo dục suốt đời,
giáo dục phải hớng mục tiêu đào tạo ra những ngời có đủ tri thức và kỹ
năng, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của ngời công
dân tham gia vào cuộc sống lao động [ Trích từ 31,Tr8]. Vì vậy các phơng hớng phát triển giáo dục của các nớc trên thế giới trong thế kỷ XXI là:
- Tích cực chuyển nền giáo dục sang hệ thống học tập suốt đời;


10

- Phát triển các chơng trình giáo dục hớng mạnh vào tính cá nhân;
- Làm cho hệ thống giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại
(Đa dạng, mềm dẻo, liên thông).
Tựu trung lại tất cả đều hớng vào phát triển mục tiêu chung là: Thông
qua phát triển giáo dục đào tạo, tạo ra động lực cho tăng trởng kinh tế, tiến bộ
xã hội của đất nớc mình. Vì vậy phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo không
chỉ riêng của Nhà nớc và của ngành Giáo dục đào tạo mà là nhiệm vụ chung
của mọi lực lợng xã hội. Mỗi quốc gia tuỳ thuộc đặc điểm riêng của mình có
những hình thức làm giáo dục theo một cách riêng. Dới đây là một vài nét về
cách làm giáo dục của một số nớc trên thế giới, liên quan đến XHHGD.
Malaysia đang đặt ra cho nền giáo dục nhiệm vụ: giáo dục và đào tạo
ra nguồn nhân lực có kỹ năng, có tay nghề cao. Chính phủ đã đầu t cho giáo
dục chiếm phần lớn nhất trong ngân sách Nhà nớc. Nhờ đó mà trong nhiều
năm qua, thanh niên Malaysia đã tham gia đông đảo vào thị trờng lao động tay
nghề cao ở Mỹ, Anh, Canađa, Ôxtrâylia và Niwzilơn. Sinh viên Malaysia
chiếm tỷ lệ cao trong số sinh viên nớc ngoài ở những đất nớc này. Số sinh viên
học tập ở nớc ngoài chiếm 25% trong tổng số sinh viên. Chính phủ Malaysia
có kế hoạch nâng tỷ lệ này lên 40% vào năm 2010. Ngành giáo dục Malaysia
tăng cờng hợp tác liên kết đào tạo với các trờng danh tiếng trên thế giới, bắt
kịp nền giáo dục tiên tiến của các nớc khác [4,Tr8].

khai năm 1883; chơng trình đào tạo kỹ năng theo học phần triển khai năm
1987...Vào những năm 1990, Singapo thành lập các cơ sở đào tạo có chuyên
môn hoá và cơ sở liên doanh với các doanh nghiệp t nhân [5].
Mỹ năm 1991 đã đa ra một số nét lớn của chiến lợc phát triển giáo dục.
Đến năm 2010, toàn nớc Mỹ sẽ xây dựng các cộng đồng tiến hành giáo dục
ngoài phạm vi nhà trờng. Với trờng học, các nhà thiết kế nhà trờng kiểu mới
phải xoá bỏ các gơng mặt cũ, xây dựng nhà trờng thế kỷ mới. Vị trí đặc biệt
trong thiết kế nhà trờng kiểu mới thuộc về tập thể cộng đồng, giới doanh
nghiệp và lao động. Nhà trờng Mỹ đang và sẽ biến đổi từng thành viên trong
xã hội Mỹ thành ngời đi học. Nhà trờng là trung tâm đời sống cộng đồng. Mặt


12

khác phải tạo điều kiện cho việc học tập không phải chỉ ở nhà trờng mà còn ở
gia đình. Tổng thống Bill Clintơn đã có thông điệp nói đến hiện đại hoá nền
giáo dục, mục tiêu học tập suốt đời và đề cao việc học để đạt trình độ học vấn
cao. Clintơn nói đến việc mở rộng các biên giới của việc học suốt đời để ngời
Mỹ ở độ tuổi nào cũng có cơ hội học tập, yêu cầu khấu trừ thuế lên tới
10.000USD/ năm cho toàn bộ học phí ở cao đẳng và đại học để mọi gia đình
không phải đóng thuế với khoản tiền mà họ tiết kiệm đợc để giành đóng học
phí vào đại học và cao đẳng.
Tuy phải đối phó với nhiều vấn đề nhng trong chiến lợc phát triển giáo
dục của mình, nớc Mỹ đặc biệt quan tâm đến yêu cầu một nền giáo dục đợc
xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin và xã hội tri thức để đón đầu sự
phát triển của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ XXI.
Trung Quốc: Cuộc cải cách giáo dục ở Trung quốc hiện nay nhằm vào
mục tiêu kinh tế sau đây:
- Tăng 4 lần tổng sản lợng để đạt thu nhập quốc dân trên 1000 tỷ USD
(800 USD/ ngời tơng đơng với mức bình quân thế giới năm 1980).

đối với tất cả mọi ngời, giáo dục suốt đời Giáo dục hớng tới mục tiêu giúp
cho con ngời học cách chung sống với nhau...đã và đang trở thành các quan
điểm chủ đạo chi phối phơng hớng, chiến lợc của các nớc. Vấn đề XHHGD
trở thành quan điểm chỉ đạo của các nhà lãnh đạo, hơn thế nó còn đợc thể hiện
trong luật, trong hiến pháp. Có thể nói rằng XHHGD là một quy luật để làm
giáo dục cho mọi quốc gia. Tuy vậy, quá trình vận động cho quy luật này phát
triển còn tuỳ thuộc ở điều kiện kinh tế- xã hội và chính thể ở mỗi quốc gia.
1.1.2. Vấn đề xã hội hoá giáo dục trong các nghiên cứu ở trong nớc
Cũng trong thời kỳ đổi mới này nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo
dục đã bàn luận nhiều về xã hội hoá giáo dục. Đặc biệt tác giả Phạm Minh
Hạc đã viết nhiều tài liệu về xã hội hoá giáo dục, nhiều bài phát biểu chỉ đạo
phong trào xã hội hoá giáo dục, trong cuốn Xã hội hoá công tác giáo dục
xuất bản năm 1997 do ông làm tổng chủ biên, ông đã khẳng định: Xã hội hoá


14

công tác giáo dục là một t tởng chiến lợc, một bộ phận của đờng lối giáo dục,
một con đờng phát triển giáo dục nớc ta [30,Tr16]. Trong cuốn Giáo dục
Việt Nam trớc ngỡng ca của thế kỷ XXI, tác giả Phạm Minh Hạc một lần
nữa khẳng định: Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nớc, mà là
của toàn xã hội: mọi ngời cùng làm giáo dục, Nhà nớc và xã hội, Trung ơng
và địa phơng cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào tập trung trong toàn
dân{29,330}.
Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn Xã hội hoá công tác giáo dục đã
làm rõ nội hàm khái niệm xã hội hoá công tác giáo dục và coi xã hội hoá là
một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam,
qua mỗi giai đoạn khái niệm đó lại đợc phát triển thêm, nội hàm phong phú
hơn. Trong lời giới thiệu cuốn sách Những nhân tố mới về giáo dục trong
công cuộc đổi mới, Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh: Phát triển giáo dục theo

với ý nghĩa một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trng của xã hội hoá giáo dục ở
các cấp học, bậc học và địa bàn nông thôn, vấn đề quản lý Nhà nớc trong việc
thực hiện xã hội hoá giáo dục để có sự định hớng đúng đắn hoạt động xã hội
hoá giáo dục ở các nhà trờng và địa phơng.
Bàn về xã hội hoá giáo dục còn có nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả
Hà Nhật Thăng, Lê Khanh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Nghĩa Dân, Mai Đắc Lơng, Hồ Hơng, Nguyễn Thanh Long, Vũ Văn Tảo...

1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Xã hội hoá
Xã hội hoá là một trong những vấn đề cơ bản của xã hội học. Từ trớc
đến nay, xã hội hoá đợc hiểu theo hai nghĩa: xã hội hoá cá nhân và xã hội hoá
một hoạt động.
- Xã hội hoá cá nhân


16

Xã hội hoá cá nhân là quá trình con ngời tiếp thu nền văn hoá của xã
hội trong đó con ngời đợc sinh ra, quá trình mà nhờ đó con ngời đạt đợc
những đặc trng xã hội của bản thân, học đợc cách suy nghĩ và ứng xử đợc coi
là thích hợp trong xã hội.
Xã hội hoá cá nhân là quá trình tiếp thu và tái tạo những kinh nghiệm
xã hội của cá nhân thông qua hoạt động và giao lu. Xã hội hoá cho phép con
ngời nhận thức toàn diện hiện thực xã hội xung quanh, chiếm lĩnh những kỹ
năng hoạt động của cá nhân và tập thể.
Xã hội hoá cá nhân là quá trình liên tục, quá trình đó còn gọi là quá
trình học hỏi xã hội, tiếp thu xã hội, thích ứng xã hội [9].
- Xã hội hoá một hoạt động
XHH đợc nghiên cứu ở đây chính là sự tham gia rộng rãi của xã hội
(các cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng...) vào một hoạt động hoặc một số các

thức huy động xã hội, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục,
vận động xã hội là chính. Mà trong nhiều trờng hợp XHH theo cách này đã
huy động đợc không nhỏ sức lực, trí tuệ của cả xã hội cho việc thực hiện các
mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ xã hội.
Thực tế ở Việt Nam, Đảng và Nhà nớc ta trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ cách mạng của mình đã không ít lần XHH thành công các nhiệm vụ
trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng nh trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chính nhờ XHH mà chúng ta đã có những phong trào quần chúng rầm rộ
trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, phòng chống
tệ nạn ma tuý, mại dâm, phòng chống HIV/AIDS, đảm bảo ATGT, an toàn
cộng đồng, giữ vững an ninh trật tự xã hội, quốc phòng toàn dân, đối ngoại
nhân dân...
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng XHH các hoạt động không chỉ nghĩa là
tăng cờng huy động cộng đồng mà coi nhẹ trách nhiệm Nhà nớc hoặc trách
nhiệm các chủ thể chính mà ngợc lại, đây chính là quá trình kết hợp chặt chẽ
giữa trách nhiệm của Nhà nớc, của các cơ quan chủ quản với cộng đồng, làm


18

cho các nguồn lực đợc huy động đến mức tối đa và sử dụng có hiệu quả nhất.
Đây mới là mục tiêu thực chất của XHH các hoạt động.
Nh vậy, XHH hoạt động đợc đề cập ở đây chính là biến nhiệm vụ của
một ngành, một chủ thể thành nhiệm vụ của nhiều ngành, nhiều chủ thể xã hội
hay của toàn xã hội bằng cách thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục,
thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của từng đối tợng, sự
điều hành quản lý của các nhà lãnh đạo nhằm tăng cờng sự phối hợp chặt chẽ
giữa các lực lợng xã hội để thực hiện nhiệm vụ xã hội đang đặt ra.
XHH hoạt động con ngời rõ ràng khác biệt với XHH cá nhân. Bởi lẽ
nếu XHH cá nhân là nhằm biến con ngời cá nhân thành con ngời xã hội thì

số khái niệm tơng tự nh phơng pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của các
khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công
việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh
đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phơng pháp nhấn mạnh
đến trình tự các bớc có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục
đích.
Theo Hoàng Phê, phơng pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến
hành một công việc nào đó [22]. Còn theo Nguyễn Văn Đạm, phơng pháp đợc hiểu là trình tự cần theo trong các bớc có quan hệ với nhau khi tiến hành
một công việc có mục đích nhất định [28, tr 325].
Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển tiếng Việt, đó là cách làm, cách
giải quyết một vấn đề cụ thể [35, tr 64].
Nh vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phơng pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp.
1.2.3.2. Giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục
Giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục là hệ thống các cách thức huy
động toàn thể xã hội tham gia một cách có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục.
1.3. Giáo dục trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân


20

1.3.1. Hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục là tập hợp các loại hình giáo dục (hoặc loại hình trờng) đợc xắp xếp theo một trình tự nhất định trong các bậc học nhất định từ
thấp đến cao [36,Tr5]. Hệ thống giáo dục là một chỉnh thể hữu cơ nhiều tầng
bậc, nhiều nhân tố, nhiều hình thái, nhiều chức năng. Hệ thống giáo dục là
một hệ thống con trong hệ thống lớn xã hội. Mối liên hệ hữu cơ giữa nó và các
hệ thống con khác nh kinh tế, chính trị, văn hoá... thể hiện đặc điểm xã hội
nhất định. Ngoài ra hệ thống giáo dục lại là chỉnh thể độc lập tơng đối. Tính

sở để làm tốt giáo dục trung học phổ thông, đại học, hơn nữa khoảng 20% học
sinh sau khi tốt nghiệp THCS sẽ trực tiếp đi vào cuộc sống lao động sản xuất
nên giáo dục THCS còn có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức cần thiết tối
thiểu về kỹ thuật và hớng nghiệp cho học sinh mới đáp ứng đợc nhu cầu của
xã hội. Chính vì vậy mà Nghị quyết Quốc hội kỳ họp thứ VIII (khoá X), ngày
25 tháng11 năm 2004 nêu rõ: Mở rộng hợp lý qui mô giáo dục đại học và tạo
sự chuyển biến cơ bản về chất lợng giáo dục đại học. Phát triển mạnh giáo
dục nghề nghiệp, thực hiện phân luồng sau THCS và liên thông trong hệ thống
giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh thiếu niên lựa chọn nhiều hình
thức học tập và sau khi học xong THCS và THPT, học sinh có cơ hội đợc học
nghề. Phát triển giáo dục thờng xuyên đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của
nhân dân.
Chính từ những mối quan hệ trên Đảng ta đã xác định để đạt đợc mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội 2001 2010 là: Đa nớc ta thoát khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công
nghiệp theo hớng hiện đại . Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học và công
nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đợc tăng cờng;
thể chế kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa đợc hình thành về cơ
bản; vị thế nớc ta trên trờng quốc tế đợc nâng cao.[21,tr59]. Giáo dục - đào
tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng dầu, phát triển giáo
dục là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện


22

đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con ngời yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững. Do vậy, phải tạo chuyển
biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá; tiếp tục nâng cao chất lợng toàn diện; đổi mới nội dung,

Xã hội đóng vai trò quyết định đối với giáo dục, ngợc lại giáo dục có
tác dụng to lớn đối với xã hội. Nhờ có giáo dục mà kho tàng tri thức, kinh
nghiệm cuộc sống của xã hội loài ngời đợc bảo tồn và ngày càng bổ sung phát
triển.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là tạo ra nguồn nhân lực có trình độ, kỷ luật,
phẩm chất cung cấp cho mọi ngành nghề, phục vụ đắc lực cho sự phát triển
kinh tế xã hội. Ngợc lại, khi nền kinh tế xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện
thuận lợi ( đầu t ngân sách, phơng tiện kỹ thuật...) thúc đẩy giáo dục phát
triển. Nh vậy giữa giáo dục và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua
lại lẫn nhau. Mối quan hệ cùng tồn tại này là do con ngời và vì con ngời. Với
ý nghĩa đó, đờng lối và chiến lợc phát triển kinh tế- xã hội của Đảng tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Phát triển giáo dục và đào
tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH- HĐH,
là điều kiện để phát huy nguồn lực con ngời yếu tố cơ bản để phát triển xã
hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững [12, Tr 109].
Nhà trờng phải gắn liền với cộng đồng, phát triển vì mục tiêu của cộng
đồng, chính vì thế phơng châm giáo dục của chúng ta gắn nội dung giáo dục
của nhà trờng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, giải quyết tốt mối quan hệ
giữa nhà trờng và cộng đồng, huy động tối đa các nguồn lực cộng đồng để xây
dựng và phát triển nhà trờng. Đặc biệt đối với giáo dục THCS, ngoài việc huy
động mọi nguồn lực đầu t cơ sở vật cho nhà trờng, đa dạng hoá loại hình học
tập, nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện thì khác với các cấp học, bậc học
khác việc tuyên truyền giáo dục, vận động học sinh bỏ học trở lại trờng và
định hớng phân luồng học sinh sau THCS là hết sức cần thiết. Để vận động
học sinh bỏ học trở lại trờng và phân luồng học sinh sau THCS phải là việc


24

làm của toàn xã hội, nếu khoán trắng việc này cho nhà trờng thì rõ ràng hiệu


dần đợc khắc phục khi giải quyết tốt bản chất xã hội liên quan mật thiết tới
giáo dục. Đảng ta đã khẳng định quan điểm Giáo dục là sự nghiệp của quần
chúng. Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khoá IX đã chỉ rõ: Toàn Đảng,
toàn dân, toàn ngành giáo dục cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những
định hớng chiến lợc về giáo dục trong Nghị quyết TW 2 ( khoá VIII)... đẩy
mạnh XHHGD THCS nhằm tạo nguồn nhân lực có số lợng và chất lợng đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH...
Qua đó chúng ta thấy rằng XHHGD THCS không chỉ đơn thuần là huy
động sức mạnh tổng hợp của các ngành các cấp vào sự phát triển sự nghiệp
giáo dục mà còn có chiều ngợc lại: Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có số lợng
và chất lợng đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới góp phần giải quyết
hiện tợng thiếu thợ trong xã hội. Thực ra có thể coi XHHGD trung học cơ
sở là một cách làm giáo dục đợc xác định bởi những đặc trng cơ bản sau:
- Huy động toàn xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, thực hiện đa
dạng hoá các nguồn đầu t cho giáo dục.
- Các lực lợng xã hội tham gia phát triển quy mô - số lợng giáo dục.
- Các lực lợng xã hội tham gia vào việc đa dạng hoá các hình thức học
tập.
- Các lực lợng xã hội tham gia vào việc đa dạng hoá các loại hình trờng
lớp.
- Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trờng thuận lợi cho việc
giáo dục thế hệ trẻ.
- Thu hút các lực lợng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục của nhà
trờng.
- Thu hút các lực lợng xã hội tham gia tuyền truyền vận động học sinh,
phụ huynh về công tác hớng nghiệp, dạy nghề và phân luồng học sinh sau
trung học cơ sở.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status