Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học cơ sở tỉnh hoà bình nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------
NGUYỄN VĂN HIỂN

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HOÀ BÌNH NHẰM
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

THÁI NGUYÊN- 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Luận văn được hoàn thành tại
Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGUYỄN BÁ DƯƠNG


----------------------------- NGUYEN VAN HIEN
MANAGING EDUCATION SOCIALICATION IN LOWER
SECONDARY SCHOOLS IN HOA BINH TO SOLVE THE
PROBLEM OF STUDENTS DROPPING OUT
MASTER THESIS Major : EDUCATION SOCIALICATION
Code : 60 14 05 Super visor: Pr .Phd NGUYEN BA DUONG

giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, mặc dù bản thân đã có nhiều cố
gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung trình bày luận
văn. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các nhà
nghiên cứu khoa học, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hoà Bình, ngày 20 tháng 9 năm 2009
Tác giả Nguyễn Văn Hiển

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bƣớc sang thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, thế kỷ trí tuệ
con ngƣời giữ vai trò quyết định sự phát triển, với những xu thế toàn cầu hoá,
phát triển kinh tế tri thức, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, hình
thành nền văn minh trí tuệ...
Những xu thế này là cơ hội lớn cần nắm bắt để con đƣờng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (CMH, HĐH) nƣớc ta, bên cạnh những bƣớc tuần tự phải có
những bƣớc nhảy vọt bằng cách vận dụng sáng tạo nhiều ý tƣởng, tri thức và
công nghệ hiện đại, nâng cao nội lực, đi thẳng vào một số ngành công nghệ
cao, một số ngành kinh tế tri thức, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn hơn,
nhanh hơn. Những xu thế này đồng thời là những thách thức lớn cần vƣợt
qua. Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhấn mạnh, nƣớc ta vẫn còn là một nƣớc
kinh tế kém phát triển, mức sống nhân dân còn thấp, trong khi đó cuộc cạnh
tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chóng vƣơn
lên, sẽ càng tụt hậu xa về kinh tế. Cơ hội và thách thức đan xen nhau không

những năm qua, dƣới sự Lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND
tỉnh Hoà Bình, công tác XHHGD đã đƣợc tiến hành dƣới nhiều hình thức
phong phú, cùng với cuộc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực,
huy động các nguồn đầu tƣ cho GD. Đặc biệt là cấp học THCS, thực hiện đa
dạng hoá các loại hình trƣờng lớp, gắn kết giáo dục nhà trƣờng với cộng đồng
xã hội. Do vậy, sự nghiệp giáo dục của tỉnh Hoà Bình đã thu đƣợc những
thành tựu đáng tự hào về sự phát triển quy mô, số lƣợng và chất lƣợng giáo
dục và Đào tạo (GD&ĐT).
Tuy nhiên, trong những thành tích đã đạt đƣợc, việc thực hiện XHHGD
bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nói chung vẫn còn gặp không ít khó khăn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
trở ngại nhƣ: Một số phƣờng, xã, cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, phụ huynh
học sinh vẫn chƣa nhận thức đƣợc vị trí, tầm quan trọng của giáo dục trung
học cơ sở. Mặt trái của nền kinh tế thị đã làm ảnh hƣởng đến sự quan tâm của
gia đình, của các LLXH đến trẻ em lứa tuổi học sinh THCS. Việc xiết chặt kỷ
cƣơng, chống bệnh thành tích, đồng thời sự phân luồng lao động xã hội đã
làm cho một số gia đình, các em học sinh có tƣ tƣởng chán nản, không chú
trọng việc học tập, hoặc bỏ học để tham gia vào kiếm sống ngay ở lứa tuổi
học sinh; hơn nữa không ít quan niệm khác nhau cho rằng nội dung chính của
công tác xã hội hoá giáo dục chỉ là huy động kinh phí trong nhân dân, hoặc có
nơi cho rằng XHHGD là để dân lo là chính dẫn đến việc đầu tƣ nguồn lực cho
phát triển giáo dục chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Mặt khác, việc quản lý
nhà nƣớc về công tác XHHGD còn thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả.
Chính từ thực trạng trên, tác giả chọn đề tài: ''Quản lý công tác xã hội hóa giáo
dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ
học''. Với đề tài này, mong muốn đƣợc góp phần đẩy mạnh sự phát triển toàn
diện giáo dục trung học cơ sở tại tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn tiếp theo.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực trạng và các biện pháp quản lý công tác xã

6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề xã hội hoá giáo dục ở bậc trung
học cơ sở trên địa bàn tỉnh Hoà Bình giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008.
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ
sở trên các mặt cơ bản sau:
- Sự lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phƣơng đối với công tác
XHHGD bậc trung học cơ sở.
- Các biện pháp quản lý của Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT trong công
tác XHHGD bậc trung học cơ sở.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
- Sự phối hợp của các cơ quan, đoàn thể, các ban ngành, các tổ chức
chính trị - xã hội trong tỉnh, để phát triển giáo dục bậc trung học cơ sở và
khắc phục tình trạng học sinh bỏ học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài, làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn
các giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác XHHGD trung học cơ sở trong tỉnh.
- Vận dụng các phƣơng pháp xã hội học nhƣ: Điều tra, khảo sát, thâm
nhập thực tiễn, trao đổi với các khách thể nghiên cứu, tham khảo các văn bản
tổng kết của các điển hình tiên tiến trong GD&ĐT; xem xét, đánh giá các báo
cáo sơ kết, tổng kết về tình hình quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở
trong tỉnh; từ đó phân tích, tổng hợp, rút ra đánh giá và những bài học kinh
nghiệm tạo tiền đề cho việc đề xuất các biện pháp quản lý tăng cƣờng công
tác xã hội hoá giáo dục bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục
tình trạng học sinh bỏ học trong giai đoạn tới.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham
khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

nhiều năm qua. Với tƣ tƣởng ''lấy dân làm gốc'', ''Sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng'' đã đƣợc Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm
tàng cho sự phát triển nền GD nƣớc nhà.
Dƣới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ
mở rất ít trƣờng học, chủ yếu trƣờng học đƣợc mở ra cho con em quý tộc
phong kiến và con nhà giàu. Con em lao động không đƣợc chính quyền quan
tâm, ngƣời dân muốn đƣợc học phải tự lo dƣới hình thức học ở trƣờng tƣ do
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
các thầy đồ tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù
chữ. Cách mạng tháng tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực
hiện các quan điểm ''giáo dục là sự nghiệp của quần chúng''. Ngay từ những
ngày đầu của nƣớc Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra ''Lời kêu
gọi chống nạn thất học''. Trong lời kêu gọi, Ngƣời đã nêu rõ phƣơng châm,
nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ ''Những ngƣời đã biết chữ
hãy dạy cho những ngƣời chƣa biết chữ... những ngƣời chƣa biết chữ hãy
gắng sức mà học cho biết, vợ chƣa biết chữ thì chồng bảo, em chƣa biết chữ
thì anh bảo, cha mẹ chƣa biết thì con cái bảo, ngƣời ăn ngƣời làm chƣa biết
chữ thì chủ nhà bảo; các ngƣời giàu có thì mở lớp học tƣ gia dạy cho những
ngƣời chƣa biết chữ'' {25}. Hƣởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Hồ
Chủ Tịch, cả nƣớc đã trở thành một xã hội học tập. Tiêu biểu, sôi động nhất
đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi
đến miền ngƣợc, từ hậu phƣơng cho đến nơi tiền tuyến...ngƣời ngƣời đi học,
nhà nhà đi học; trƣờng lớp chỉ là những nhà, lán đơn sơ. Tƣ tƣởng giáo dục
''ai cũng đƣợc học hành'' của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống.
Đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện
một hệ thống giáo dục và đã đạt đƣợc những thành quả nhất định. Song do cơ
chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác
triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD. Thay vì
thực hiện sự ''quản lý GD của nhà nƣớc'', chúng ta đã ''nhà nƣớc hoá GD'' làm

XHH, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong
các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH
lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao. Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban
hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao [20]. Bộ GD&ĐT ban hành một số văn
bản hƣớng dẫn thực hiện công tác XHHGD; xây dựng đề án ''Quy hoạch
phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010'' [14] vv...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, Nghị định, Thông tƣ,
Nghị quyết của Đảng, Nhà nƣớc về công tác GD; các cơ quan Liên Bộ, các
nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục (QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu về
vấn đề XHHGD. Nguyên Bộ trƣởng Phạm Minh Hạc đã khẳng định: ''Xã
hội hoá công tác giáo dục là một tƣ tƣởng chiến lƣợc, một bộ phận của
đƣờng lối giáo dục, một con đƣờng phát triển giáo dục nƣớc ta''[35;16]; tác
giả Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh: Phát triển giáo dục theo tinh thần xã
hội hoá và đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó
là tƣ tƣởng chiến lƣợc của Đảng. Tƣ tƣởng đó đƣợc tổng kết lại không chỉ
là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý
cách mạng của Việt Nam.
Vấn đề XHHGD cũng đã đƣợc nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD nhƣ nhóm tác giả Bùi
Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn thanh Bình trong cuốn "Xã hội hoá giáo
dục nhận thức và hành động". Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thái
Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực
tiễn công tác XHHGD. Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài, luận văn đã đề cập
và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD nhƣ: Luận văn của tác giả Phạm
Thuý Hiền với đề tài: ''vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non với sự nghiệp
phát triển giáo dục''; Luận văn Thạc sĩ của Trần Hồng Diễm về ''Biện pháp
tăng cƣờng công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn

vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo
cho nó hoạt động và phát triển tối ƣu theo mục đích đặt ra'' [28].
''Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó nhƣ thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất, rẻ nhất'' . (Wiliam - Taylor).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Theo giáo trình quản lý của học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
thì ''Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tƣợng quản lý, tạo ra
sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống hƣớng vào mục tiêu nhất định'' .
Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác
động vào từng thành tố của hệ bằng phƣơng pháp thích hợp nhằm đạt mục
tiêu đã đề ra (Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Quản lý là dạng lao động đặc biệt của ngƣời lãnh đạo, mang tính tổng
hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất,
điều hoà phối hợp các khâu, các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu
quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính Quốc gia).
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là
sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý)
đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Các tác giả còn phân định rõ hơn
về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận
dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và
kiểm tra.
Các nhà lý luận quản lý trên thế giới nhƣ: Frederich Wiliam Taylor
(1986-1915), Mỹ; Hemi Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weler (1864-1920),
Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc
đẩy sự phát triển xã hội.
Có thể xét theo quan điểm: Quản lý = quản + lý, trong đó quản là coi
sóc, cai quản, chăm lo, còn lý là xử lý, biện lý. Quản mà không có lý thì sẽ
dẫn đến sự trì trệ, lý mà không có quản thì sẽ dẫn đến sự rối ren. Nhƣ vậy,

Vì thế ngay từ thời cổ đại các nhà triết học, giáo dục học, sử gia đã sớm
nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Platon (429-347 TCN), ông đã nêu: ''Muốn
kiến thiết một quốc gia phải lấy giáo dục làm nền tảng và phải theo đuổi công
trình ấy suốt cả đời''. Khổng Tử (551-479 TCN), nhà giáo lớn thời cổ đại của
Trung Quốc, ông coi giáo dục là nằm trong hệ thống ''Thứ - Phú - Giáo'', đòi
hỏi những nhà chính trị, những ngƣời cầm quyền không đƣợc sao nhãng. Sử
gia nổi tiếng của nƣớc Pháp là Jules Machalet (1789-1874) khẳng định:
Thành phần thứ nhất của chính trị là gì ? - Giáo dục
Thành phần thứ hai của chính trị là gì ? - Giáo dục
Thành phần thứ ba của chính trị là gì ? - Giáo dục
Nhƣ vậy, qua các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về xã
hội học, về giáo dục từ thời kỳ cổ đại đến nay cho thấy: GD là một hiện tƣợng
xã hội có lịch sử lâu đời và tồn tại song hành cùng với sự phát triển của xã hội
loài ngƣời. GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố
đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử.
Trong sách ''Giáo dục học'' của A.Ilinna, nhà giáo dục học Xô Viết cho
rằng: Giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho
các thế hệ mới, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và bước vào
lao động sản xuất .
Ở Việt Nam, Giáo sƣ Hà Thế Ngữ cũng đƣa ra khái niệm về giáo dục
tƣơng tự. Ông viết: Giáo dục là quá trình đào tạo con người có mục đích,
nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động
sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của loài người .
Giáo dục đƣợc hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch,
có hệ thống, nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần
của con ngƣời, đáp ứng đƣợc những nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Giáo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
quản lý ngành giáo dục- đào tạo, thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục đáp ứng
yêu cầu xã hội.
Theo M.I.Kônzacôvi: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến
tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành
chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, sự phát triển
thể lực và tâm lý trẻ em .
Trong cuốn sách Quản lý nhà nƣớc về giáo dục lý luận và thực tiễn do
Phó Giáo sƣ-Tiến sĩ Đặng Bá Lãm chủ biên: Quản lý nhà nước về giáo dục là
quản lý theo ngành do một cơ quan trung ương đại diện cho Nhà nước là Bộ
GD&ĐT thực hiện. Đó là việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ
chế và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước, phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội nước nhà và của thời đại cũng như tổ chức thực
hiện thành công các vấn đề đó, nhằm không ngừng nâng cao trình độ dân trí
của dân và tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực có trình độ cao, bảo đảm
thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
QLGD là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động
GD nhằm thúc đẩy GD phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nƣớc đã xác
định. QLGD đƣợc thể hiện thông qua quản lý mục tiêu, chƣơng trình đào tạo,
quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán
bộ, giáo viên, quản lý ngƣời học và chất lƣợng GD&ĐT...Do đó có thể nhận
thấy: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục
vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế .
Do đó có thể thống nhất quan niệm: Quản lý Giáo dục là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo
dục, đào tạo thể hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17

những hoạt động của cộng đồng, điều khiển quá trình dạy và học nhằm tạo ra
những con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho sự phát triển của xã hội.
Xét về mặt bản chất, quản lý giáo dục là một hiện tƣợng xã hội, thể
hiện ở các mặt:
+ Quản lý giáo dục là một loại hình hoạt động, tuy chuyên biệt nhƣng
có ảnh hƣởng đến toàn xã hội, mọi quyết định, thay đổi của giáo dục đều có
ảnh hƣởng đến đời sống xã hội.
+ Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý đƣợc đông đảo thành viên
tham gia.
+ Bản thân quản lý giáo dục là hoạt động mang tính xã hội, đòi hỏi phải
huy động vào hoạt động này nhân lực, nguồn lực lớn.
+ Giáo dục truyền đạt, lĩnh hội những giá trị kinh nghiệm lịch sử xã hội
tích luỹ qua các thế hệ nên xã hội muốn tồn tại, phát triển thì phải phát triển
Giáo dục và Đào tạo.
Muốn quản lý giáo dục một cách có khoa học thì chủ thể quản lý phải
nắm đƣợc các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tƣợng
quản lý, đồng thời thực hiện tốt các chức năng quản lý.
Bản chất của giáo dục mang tính xã hội hoá cao nên quản lý giáo dục
(QLGD) mang tính xã hội, đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của xã hội.
Thực tế đã chứng minh không có ngành nào mà có mối quan hệ tác động hai
chiều, nhạy cảm và sâu sắc nhƣ GD. Do đó QLGD có vị trí vai trò cao nhất
trong việc tạo điều kiện XHH cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách,
giúp con ngƣời đảm nhận và gánh vác những yêu cầu phát triển xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở
nƣớc ta, một mặt tạo ra những nguồn lực mới cho sự phát triển kinh tế; mặt
khác cũng tạo ra điều kiện và nhu cầu mới về đa dạng hoá các hình thức

lịch sử, một hình thức nhất định của những quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào
một trình độ phát triển lịch sử nhất định, là một kiểu loại xã hội nhất định đã hình
thành trong lịch sử. (Ví dụ: xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tƣ bản, vv...).
Trong trƣờng hợp này, xã hội trùng hợp với hình thái kinh tế xã hội.
- Theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con
ngƣời, đã hình thành trong lịch sử. Theo T. Makiguchi: Xã hội không chỉ là
một quần thể gồm những con người mà còn là sự hoà hợp tinh thần và tâm
linh nữa. Khái niệm xã hội ít nhất cũng bao gồm:
+ Xã hội gồm nhiều cá nhân khác nhau, tƣơng tự nhƣ một cơ thể sống
bao gồm nhiều tế bào riêng biệt;
+ Một mục đích chung, dù có đƣợc các thành viên ý thức hay không,
mà mọi ngƣời đều biết tới;
+ Các thành viên chia sẻ mối liên đới hay tƣơng tác trong một thời
gian nào đó, tƣơng tự nhƣ các mối quan hệ trong tế bào làm thành một cơ
thể sống;
+ Tất cả các cá nhân trong tập thể chia sẻ kinh nghiệm với nhau trong
một không gian nhất định;
+ Tất cả các cá nhân liên kết với nhau thành một tổ chức, nhƣ những
thành phần của một cơ thể sống trọn vẹn;
+ Mỗi thành viên đảm nhận những bổn phận cần thiết cho hoạt động
liên tục của cộng đồng, tƣơng tự nhƣ hoạt động của cơ quan trong một cơ
thể sống
1
.

1
Dẫn theo '' Xã hội học đại cƣơng '' Viện đại học mở Hà Nội (1995;trang 97-98)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
* Xã hội hoá giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status