Một số giải pháp quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thông tín chỉ ở trường đại học vinh - Pdf 32

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ CÔNG ĐỨC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG
ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 06.14.05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM MINH HÙNG

VINH, 2009


2

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lãnh
đạo Nhà trường, Khoa Sau đại học Trường Đại học Vinh đã tạo điều
kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ
đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ mới.
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tình
giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa
qua. Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm

6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.

CLB
CNKH
CNTT
CSVC
CSKV
CTCT

Giáo dục đại học
Giáo dục và Đào tạo
Giáo sư
Kỹ sư
Ký túc xá
Lưu học sinh
Phó Giáo sư
Quản lí giáo dục
Quản lý sinh viên
Sau đại học
Sư phạm
Trung học chuyên nghiệp
Thạc sĩ
Trợ lý Quản lý sinh viên
Tiến sĩ

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN...............................1
MỞ ĐẦU.......................................................................................................2


4

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận của đề tài ......................................................7

1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu.......................................................7
1.2. Một số khái niệm cơ bản....................................................................10
1.3. Mục đích, yêu cầu của công tác quản lý sinh viên.............................25
1.4. Các nội dung của công tác QLSV và hệ thống tổ chức,QLSV..........27

[16,45]. Như vậy, giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia,
dân tộc, có quan hệ mật thiết với sự hưng vong của mỗi quốc gia. Do đó, rất
nhiều nước trên thế giới đã coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho giáo
dục là đầu tư cho một tương lai phát triển bền vững.
Ở nước ta, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công đến nay, giáo dục
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, thể hiện trong các mặt: nâng cao
dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kĩ thuật, bồi dưỡng nhân
tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Bước vào thế kỷ XXI với sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin và xu thế toàn cầu hóa, vai trò của giáo dục lại ngày càng trở nên quan
trọng, là động lực phát triển và là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh đất
nước.
Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đã trở
thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới, các cơ sở giáo dục
trong nước nói chung, các trường đại học nói riêng một mặt phải phát huy những
thành tựu đã đạt được, mặt khác phải kiên quyết và nhanh chóng khắc phục
những hạn chế, yếu kém, tận dụng tối đa các cơ hội, vượt qua những thách thức
trong quá trình hội nhập để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, góp phần tích cực vào công cuộc đổi
mới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Song song với sự phát triển của các mặt kinh tế, xã hội, số lượng sinh viên,
chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục cũng được nâng lên, dần hoà nhập với
xu thế hội nhập quốc tế. Tuy vậy, sự phát triển của kinh tế và sự giao lưu về văn
hoá cũng làm nẩy sinh những tác động tiêu cực, gây ra nhiều tệ nạn xã hội, tác


6

động không nhỏ đến đời sống của giới trẻ. Nhiệm vụ quản lý, giáo dục sinh viên

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
4.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài.
4.3. Đề xuất các giải pháp QLSV trong đào tạo theo hệ thống tín ở Trường Đại
học Vinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, khái quát các tài liệu nghiên
cứu lý luận, các văn bản nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các quy chế, quy
định của ngành giáo dục và đào tạo có liên quan đến đề tài.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra qua các phiếu xin ý kiến.
- Phương pháp đàm thoại, phương pháp chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn
trực tiếp cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên, chính quyền địa phương, cảnh sát
khu vực, các hộ kinh doanh phòng trọ sinh viên… nhằm thu thập thêm thông tin
bổ sung cho phần nghiên cứu thực trạng.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu thực tiễn để từ đó rút ra
những kết luận và bài học kinh nghiệm cho công tác QLSV trong đào tạo theo hệ
thống tín chỉ nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
6.3. Phương pháp thống kê toán học.
7. Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Nêu và hệ thống hoá các cơ sở lý luận của công tác quản lý
sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ.
- Về thực tiễn: Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý sinh
viên trong đào tạo theo tín chỉ ở Trường Đại học vinh
8. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương:
Chương I . Cơ sở lý luận của đề tài.



khâu nghiên cứu, cải tiến quy trình đào tạo và quản lý sinh viên cũng được các
trường thực hiện ngay từ đầu. Trong đó, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu
để tìm ra các mô hình QLSV hiệu quả, sát với sứ mạng của các trường nêu trên.
Tuy nhiên, do tình hình chính trị, xã hội, kinh tế của mỗi nước một khác,
đặc điểm của mỗi trường đại học một khác nên những quy trình, những cách
thức của các nhà nghiên cứu thế giới đã làm không thể áp dụng được vào điều
kiện của Việt Nam hiện nay.
1.1.1. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước năm 1975, một số trường đại học ở miền Nam chịu ảnh
hưởng của nền giáo dục Hoa Kỳ đã áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ như:
Viện Đại học Cần Thơ, Viện đại học Thủ Đức...


10

Trong quá trình Đổi mới ở nước ta từ cuối năm 1986 chuyển nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, GDĐH ở nước ta cũng có nhiều thay đổi. Hội nghị Hiệu trưởng các
trường đại học tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới
GDĐH, trong đó có chủ trương triển khai trong các trường đại học qui trình đào
tạo 2 giai đoạn và môdun-hoá kiến thức. Theo đó, học chế học phần ra đời và
chính thức được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng
nước ta từ năm 1988. Học chế học phần có các đặc điểm cơ bản là tích luỹ dần
kiến thức, mô đun hoá kiến thức thành các học phần một cách khá trọn vẹn và
không quá lớn để có thể lắp ghép với nhau, tạo nên một chương trình đào tạo dẫn
đến một văn bằng mà người học có thể tích luỹ dần trong quá trình học tập. Để
đo lường kiến thức theo khối lượng lao động học tập của người học, khái niệm
đơn vị học trình được đưa vào.
Từ năm 1993, học chế tín chỉ đã được thực hiện ở Trường Đại học Bách
khoa Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là các trường Đại học Khoa học Tự nhiên

trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
Ở Trường Đại học Vinh, nhà trường triển khai đào tạo theo hệ thống tín
chỉ từ học kỳ II năm học 2007 – 2008. Vấn đề quản lý sinh viên cũng đã được đề
cập trong một số sáng kiến kinh nghiệm do công đoàn trường tổ chức. Công
trình – luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Quốc Dũng - “Một
số mô hình hoạt động Đoàn, Hội trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường
Đại học Vinh” là công trình khoa học duy nhất về vấn đề này ở Trường Đại học
Vinh cho đến thời điểm hiện nay.

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Sinh viên và công tác QLSV.
1.2.1.1. Sinh viên


12

a. Khái niệm: Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào
tạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 1584/GD- ĐT ngày 27 tháng 7 năm
1993 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu rõ: “Người đang học trong
hệ đại học và cao đẳng gọi là sinh viên”. [5]
b. Sinh viên có nhiệm vụ:
- Thực hiện nhiệm vụ học tập theo mục tiêu, chương trình và kế hoạch
giáo dục của nhà trường;
- Kính trọng nhà giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên của nhà trường và
cơ sở giáo dục khác; tuân thủ pháp luật của nhà nước; thực hiện nội quy, điều lệ
nhà trường.
- Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân và bảo vệ môi trường.
- Giữ gìn và bảo vệ tài sản nhà trường.
- Tham gia lao động công ích và hoạt động xã hội ở địa ương.
- Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ

về đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; được nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ lễ theo quy
định.
- Được hưởng các chế độ, chính sách ưu tiên theo quy định của Nhà nước;
được xét nhận học bổng do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ;
được miễn giảm phí khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giao thông, giải trí,
tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình văn hoá theo quy định của
Nhà nước.
- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với
nhà trường các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường; được đề đạt nguyện
vọng và khiếu nại lên Hiệu trưởng giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền,
lợi ích chính đáng của sinh viên.
- Được xét tiếp nhận vào ký túc xá theo quy định của trường. Việc ưu tiên
khi sắp xếp vào ở ký túc xá theo quy định tại Quy chế công tác HSSV nội trú của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.


14

- Sinh viên đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp được nhà trường cấp bằng tốt
nghiệp, bảng điểm học tập và rèn luyện, hồ sơ sinh viên, các giấy tờ có liên quan
khác và giải quyết các thủ tục hành chính.
- Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các
cơ quan Nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi, rèn luyện tốt và được hưởng các
chính sách ưu tiên khác theo quy định về tuyển dụng cán bộ, công chức, viên
chức [6].
* Nghĩa vụ của sinh viên:
- Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và
các quy chế, nội quy, điều lệ nhà trường.
- Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường; đoàn kết, giúp đỡ
lẫn nhau trong quá trình học tập và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh.

điểm; học, thi, thực tập, trực hộ người khác hoặc nhờ người khác học, thi, thực
tập, trực hộ; sao chép, nhờ hoặc làm hộ tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp; tổ
chức hoặc tham gia tổ chức thi hộ hoặc các hành vi gian lận khác.
- Hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học; say rượu, bia khi đến lớp.
- Gây rối an ninh, trật tự trong trường hoặc nơi công cộng.
- Tham gia đua xe hoặc cổ vũ đua xe trái phép.
- Đánh bạc dưới mọi hình thức.
- Sản xuất, buôn bán, vận chuyển, phát tán, tàng trữ, sử dụng hoặc lôi kéo
người khác sử dụng vũ khí, chất nổ, các chất ma tuý, các loại hoá chất cấm sử
dụng, các tài liệu, ấn phẩm, thông tin phản động, đồi trụy và các tài liệu cấm
khác theo quy định của Nhà nước; tổ chức, tham gia, truyền bá các hoạt động mê
tín dị đoan, các hoạt động tôn giáo trong nhà trường và các hành vi vi phạm đạo
đức khác.


16

- Thành lập, tham gia các hoạt động mang tính chất chính trị trái pháp luật;
tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể mang danh nghĩa nhà trường khi chưa
được Hiệu trưởng cho phép [6].
d. Vị trí, vai trò của sinh viên trong quá trình đào tạo:
Sinh viên là nhân vật trung tâm trong các học viện, đại học, các trường đại
học, cao đẳng. Trọng tâm hoạt động của bộ máy chính quyền, các tổ chức Đảng,
Đoàn, Hội Sinh viên trong nhà trường dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào
tạo cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các Ban, Ngành ở TW, của các cấp ủy
đảng và chính quyền địa phương đều hướng vào nhiệm vụ chính trị quan trọng
nhất của các trường là giáo dục, rèn luyện sinh viên.
Công tác sinh viên trong các trường đào tạo là một trong những công tác
trọng tâm của hiệu trưởng. Hiệu trưởng các trường đào tạo chịu trách nhiệm tất
cả các khâu trong công tác sinh viên, tạo điều kiện để sinh viên thực hiện đầy đủ

những nhiệm vụ và mục đích chung. [16]
Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động
nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một
đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người
nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã
định.
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
Nói cách khác, quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ
thể quản lý đến với khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
b. Khái niệm về quản lý sinh viên:
Quản lý sinh viên là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy)
hợp quy luật của chủ thể quản lý (ở đây gồm có nhà trường, gia đình, xã hội,
trong đó vai trò nhà trường là quan trọng nhất) đến sinh viên trong và ngoài
trường học làm cho nhà trường vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được
các mục tiêu đề ra.


18

Công tác quản lý sinh viên, dưới khía cạnh là những phương diện hoạt
động công ích của nhà trường nhằm quản lý, tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp sinh
viên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình học tập tại trường.
Công tác quản lý sinh viên bao gồm tất cả tiện ích do nhà trường cung cấp
nhằm tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình từ khi
trúng tuyển vào trường cho đến khi ra trường; từ hoạt động học tập của sinh viên
cho đến hoạt động rèn luyện đạo đức, nhân cách, thể chất; từ việc sinh viên thực
hiện những quy định bắt buộc cho đến việc chủ động, tích cực thực hiện
trong điều kiện cho phép sinh viên lựa chọn, yêu cầu.
1.2.2. Tín chỉ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ
1.2.2.1. Tín chỉ và học phần

thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và
được kết cấu như một phần của môn học hoặc dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn
học [14].
Hoạt động dạy - học một học phần gồm một hay kết hợp một số trong các
hình thức: lý thuyết, thực hành, bài tập, thí nghiệm, thực tập, tiểu luận, đồ án,
khoá luận tốt nghiệp.
Học phần có mã số riêng và số tín chỉ xác định. Mỗi học phần đều có đề
cương chi tiết. Đề cương chi tiết học phần được Hội đồng khoa học và đào tạo
khoa phê duyệt và công bố cùng chương trình đào tạo, được giảng viên phụ trách
học phần thông báo cho sinh viên trong buổi học đầu tiên của học phần [14].
Có 2 loại học phần chính là học phần bắt buộc và học phần tự chọn, cụ
thể:
- Học phần bắt buộc là học phần trong chương trình đào tạo chứa đựng
những nội dung chính yếu của ngành và chuyên ngành đào tạo mà sinh viên bắt
buộc phải hoàn thành đạt yêu cầu để được xét công nhận tốt nghiệp.


20

- Học phần tự chọn (nhóm học phần tự chọn) là học phần trong chương
trình đào tạo chứa đựng những nội dung cần thiết cho định hướng nghề nghiệp
mà sinh viên có thể lựa chọn đăng ký học. Để đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp,
sinh viên phải hoàn thành đạt yêu cầu một số học phần nhất định để tích luỹ đủ
số tín chỉ tối thiểu. Nếu không đạt học phần tự chọn nào đó, sinh viên có quyền
chọn đăng ký học lại học phần đó hoặc học phần khác cùng nhóm [14].
Ngoài ra còn có các loại học phần thay thế, học phần tiên quyết, học phần
học trước.
- Học phần thay thế là học phần được sử dụng khi một học phần có trong
chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay
thế bằng học phần khác đang tổ chức giảng dạy.

động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới. Đến nay,
Tuyên ngôn đã được ký bởi Bộ trưởng của 45 nền giáo dục đại học.
Ở Việt Nam, trước năm 1975, một số trường đại học ở miền Nam chịu ảnh
hưởng của nền giáo dục Hoa Kỳ đã áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ như:
Viện Đại học Cần Thơ (nay là Đại học Cần Thơ), Viện đại học Thủ Đức...
Trong quá trình Đổi mới ở nước ta từ cuối năm 1986 chuyển nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, GDĐH ở nước ta cũng có nhiều thay đổi. Hội nghị Hiệu trưởng các
trường đại học tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới
GDĐH, trong đó có chủ trương triển khai trong các trường đại học qui trình đào
tạo 2 giai đoạn và môdun-hoá kiến thức. Theo đó, học chế học phần ra đời và
chính thức được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng
nước ta từ năm 1988. Học chế học phần có các đặc điểm cơ bản là tích luỹ dần
kiến thức, mô đun hoá kiến thức thành các học phần một cách khá trọn vẹn và
không quá lớn để có thể lắp ghép với nhau, tạo nên một chương trình đào tạo dẫn
đến một văn bằng mà người học có thể tích luỹ dần trong quá trình học tập. Để
đo lường kiến thức theo khối lượng lao động học tập của người học, khái niệm


22

đơn vị học trình được đưa vào. Nhằm làm cho các chương trình đào tạo mềm
dẻo, có 3 loại học phần được quy định: học phần bắt buộc phải học, học phần lựa
chọn theo hướng dẫn của nhà trường và học phần tự chọn. Mỗi học phần được
đánh giá bằng một con điểm (tổng hợp của các đánh giá bộ phận và một kỳ thi
kết thúc). Kết quả học tập chung của học kỳ, năm học (hoặc khoá học) được
đánh giá bằng điểm trung bình chung; đó là điểm trung bình của các học phần đã
tích luỹ [22].
Từ năm 1993, học chế tín chỉ đã được thực hiện ở Trường Đại học Bách
khoa Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là các trường Đại học Khoa học Tự nhiên

- Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ dùng cách đánh giá
thường xuyên, và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích luỹ được để
cấp bằng cử nhân. Đối với các chương trình đào tạo sau đại học, ngoài các kết
quả đánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và các luận văn.
* Các ưu điểm của học chế tín chỉ:
Học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi nhờ có
nhiều ưu điểm. Có thể tóm tắt các ưu điểm chính của nó như sau:
- Thứ nhất, có hiệu quả đào tạo cao:
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức và
kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng. Với học chế này, sinh viên được chủ
động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ
học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình (học theo
tiến độ nhanh, tiến độ chậm...). Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các
trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết
kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào
tạo khác nhau.
- Thứ hai, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao:
Với học chế tín chỉ, sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần
khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh


24

vực kiến thức. Nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong
tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu.
Với học chế tín chỉ, các trường đaị học có thể mở thêm ngành học mới
một cách dễ dàng khi có nhu cầu về thị trường lao động và tình hình lựa chọn
ngành nghề của sinh viên.
Với học chế tín chỉ, người học có cơ hội học cùng lúc hai chương trình để
khi tốt nghiệp được cấp hai bằng đại học hệ chính quy, được chủ động ựa chọn

Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo
thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài
nước.
- Thứ năm, học chế tín chỉ tạo điều kiện để các trường đại học trong nước
mở các chương trình đào tạo liên kết với các trường đại học trong khu vực và
trên thế giới theo một chuẩn thống nhất để sinh viên có thể hoàn thành một số tín
chỉ cần thiết trong giai đoạn đầu của chương trình đào tạo trong nước, sau đó
mới ra nước ngoài tiếp tục học tập...
* Các nhược điểm của học chế tín chỉ.
- Thứ nhất, học chế tín chỉ cắt vụn kiến thức:
Phần lớn các mô đun trong học chế tín chỉ được quy định tương đối nhỏ,
cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự có
đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị
cắt vụn. Đây thật sự là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục nhược
điểm này bằng cách không thiết kế các mô đun quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong
những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có
tính tổng hợp để sinh viên có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học.
- Thứ hai, học chế tín chỉ khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên:
Vì các lớp học theo mô đun (lớp tín chỉ) không ổn định, khó xây dựng các
tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học, do đó việc quản lý cũng như



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status