NGHIÊN CỨU NHÂN NHANH GIỐNG CÂY HÔNG ( Paulownia fortunei) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT ĐỂ PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH TÂY

KHOA CÔNG NGHỆ NÔNG - LÂM - THỰC PHẨM
..…………..

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU NHÂN NHANH GIỐNG
CÂY HÔNG ( Paulownia fortunei) BẰNG PHƯƠNG
PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT ĐỂ PHỤC
VỤ TRỒNG RỪNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÊ XUÂN ĐẮC
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BỘ MÔN - KHOA: CÔNG NGHỆ NÔNG - LÂM - THỰC PHẨM
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ TRÀ MY
LỚP: K2- CNSH2

HÀ NỘI- 2012


Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê
Xuân Đắc, Viện Công nghệ sinh học đã luôn tận tình giúp đỡ cà hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ Trại Thực nghiệm sinh học, Viện
Công Nghệ Sinh Học đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của khoa Công Nghệ Nông Lâm - Thực Phẩm trường Đại Học Thành Tây đã truyền đạt cho tôi những tri
thức mới, lòng say mê nghiên cứu khoa học suốt thời gian tôi học tập tại trường.
Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình và bạn bè những người đã ủng hộ động
viên tôi trong suốt quá trình tôi học tập cũng nhưng nghiên cứu khoa học lời

Diện tích rừng bị thu hẹp, biến đổi khi hậu toàn cầu làm tăng nhanh thiệt hại
đến từ các thảm họa thiên nhiên
- Đợt bão năm 2005, bang Louisiana ( Mỹ) bị thiệt hại đến 135 tỉ đô la, mấy
tháng tiếp theo, thu nhập của toàn bang giảm đến 15%.
- Mùa lũ 2011 tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của 8 tỉnh bị ảnh hưởng của
lũ lụt, triều cường ở đồng bằng sống Cửu Long. Tính đến hết ngày 9/10: thiệt
hại về vật chất gần 1 tỉ đồng, 60.000 ngôi nhà đổ sập , cuốn trôi ngập trong
nước. Theo thống kê có 24 người chết trong đố 21 người là trẻ em, 6 người bị
thương.
- Núi lửa Mayon( Philippines, 1814) phun trào chôn vùi một thị trấn, làm
khoảng 1.200 người thiệt mạng. Năm 1993, phun trào giết chết 79 người.
- Sự phun trào của núi lửa Tambora( Indonesia, 1815) vùi lấp các cư dân đảo
Sumbawa trong tro bụi, khí độc và đá, 88.000 người thiệt mạng.
- Núi lửa Merapi( Indonesia ,31/10/2010) phun trào nham thạch, gây những
biển khói lớn, hàng nghìn người dân tại khu vực này phải sơ tán trong cảnh
hoảng loạn. Tính tới hết ngày, theo thống kê sơ bộ, số người thiệt mạng do núi
lửa và động đất tại Indonesia trong tuần vừa qua đã lên tới 500 người.

4


- Thảm họa động đất, sóng thần xảy ra tại đông bắc Nhật Bản( 11/3/2011) vừa
qua thiệt hại ước tính lên đến 235 tỉ USD, số người thiệt mạng lên đến
8.450 người; 12.931 người khác mất tích.
- Đợt nắng nóng quét qua Châu Âu hồi( 2003) làm thiệt mạng khoảng 35.000
người, tăng nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và đóng góp
vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
Biến đổi khí hậu còn làm mất cân bằng đa dạng sinh học, có nguy cơ kìm
hãm sự phát triển dẫn đến sự tiệt chủng của nhiều loài sinh vật.
Chuyển đổi mục đích sử dụng của đất rừng cho quá trình công nghiệp hóa,

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm auxin
( NAA) tới sự hình thành rễ in vitro của chồi hông nuôi cấy.
Xây dựng được qui trình nhân cây Hông trong ống nghiệm và nuôi trồng
cây con trong điều kiện nhà lưới.

1.3. Tình hình nghiên cứu Hông( paulonia fortunei) trên thế giới và Việt
Nam
1.3.1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới
Radojevic L. ( 1979) từ mô hữu tính tạo mô sẹo và nuôi cấy mô sẹo sau đó
tạo phôi trực tiếp từ mô sẹo và cho phôi phát triển trên môi trường MS.
Saito A( 1976) isolation of protoplasts from mesophyll cells of pawlonia
fortunei Hemsl.
Burger D.W (1985) nuôi cấy chồi nách tạo ra cây trên môi trường MS/2.
1.3.2. Tổng quan nghiên cứu trong nước
Cây Hông được Việt Nam du nhập từ úc từ năm 2000, đã có 1 số công trình
nghiêm cứu nuôi trồng trong ống nghiệm và được trồng nhiều ở miền nam và
tây nguyên.
TS.Trần Kim Tính(Trường Đại học Cần Thơ): trồng Hông ( Paulownia
fortunei) bằng hột và cây cấy mô tại Hậu Giang, cung cấp nguyên liệu cho các
nhà máy sản xuất giấy .
Viện Sinh học nhiệt đới (Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc
gia) đã nhập giống gốc, nhân bằng phương pháp nhân cụm chồi trên môi trường
MS ( 1962).
Công ty Giống lâm nghiệp TP. HCM nhân giống bằng phương pháp vi giâm
cành ( microcutting) trên môi trường có bổ sung BA nồng độ thấp.
Bùi Duy Ngọc, Nguyễn Đình Hợi, Nguyễn Thị Minh Xuân( 2007): Bước
đầu nghiên cứu nâng cao khối lượng thể tích gỗ Hông (Paulownia fortunei).
Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp số 1/2007, trang 291-296.
Thái Xuân Du: Ảnh hưởng của nồng độ chất dinh dưỡng và ventilation
condition of the culture vessel on the groth of Hông(Paulownia fortunei) nuôi


Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng : Hông( Paullownia fortunei)
Cây Hông ( Paulownia fortunei) là một trong chín loài cây gỗ thuộc chi
Pawllonia họ hoa mõm chó Ssrophula riaceae, thân thẳng, có lớp vỏ cây trơn
láng, vỏ màu xám và bám chặt vào thân, lõi rộng, có kêt cấu đẹp. Chúng có bộ
rễ đâm sâu và ăn ngang nên hấp thu nhanh mọi nguồn dinh dưỡng và nước để
phát triển.
Hông là loài cây gỗ lớn, có tốc độ sinh trưởng nhanh và không kén đất, chỉ
cần đất xốp, dễ thoát nước. Trong điều kiện bình thường, mỗi năm cây có thể
tăng trưởng 3 – 4 cm đường kính. Trong điều kiện tối ưu, cây có khả năng tăng
trưởng 8 – 9 cm đường kính/năm. Chỉ sau 18 tháng, đường kính của cây có thể
đạt 16 – 22cm, chiều cao 10 – 12m. Sau 9 năm, trung bình 1 cây có chiều cao
20m, có thể tích từ 1 – 1,5m3. Nếu trong điều kiện tối ưu nhất, một cây có thể
đạt thể tích từ 2 đến 3m3 gỗ.
Từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới có điều kiện tự nhiên phù hợp với cây
Hông đã chọn cây Hông làm cây lâm nghiệp và chú ý phát triển. Ở Việt Nam
7


cây Hông phân bố trong rừng tự nhiên ở một số tỉnh phía Bắc giáp với biên giới
Trung Quốc.
Hông sinh trưởng phát triển nhanh, có tiềm năng phát triển rộng diện tích
theo mục đích trồng rừng nguyên liệu và tạo cảnh quan môi trường. Chúng là
loại cây sống lâu năm và cũng được sử dụng trong mục đích trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường.
Hông ưa sáng tuyệt đối, nhiệt độ phát triển tối ưu là được trồng ở vùng đất
cao trên 100m( so với mực nước biển), đất cát, thoát nước tốt. Hông ưa sáng,
nhiết độ trung bình 270C . Ở Việt Nam Hông thích hợp ở vùng đất của Tây



Hông có khả năng tái sinh chồi tự nhiên rất tốt, tái sinh sau mỗi chu kỳ khai
thác. Tái sinh nhiều lần, cho phép khai thác nhiều đợt trên cùng một gốc cây
nên giảm chi phí đầu tư cho những mùa sau.
- Giá trị cho trồng rừng:
Hông là cây gỗ lớn, sinh trưởng rất nhanh (sau 6-7 năm trồng, cây cao hơn
10m, đường kính 35-40cm).
Rễ của Hông là rễ cọc phát triển mạnh, ăn sâu xuống mặt đất, tán lá rộng ,
nhiều cành lá to và thưa thích hợp cho phủ xanh đất trống đồi trọc.
Hông cũng được coi là cây lâu năm nên còn được trồng làm rừng phòng hộ.
Hông có khả năng tái sinh nhanh và cao, mỗi gốc có khả năng tái sinh nhiều
lần.
Gỗ Hông chỉ cháy ở nhiệt độ trên 4000C nên người ta còn thường trồng
Hông làm đường băng xanh phòng chống cháy rừng.
Gỗ Hông cháy chậm vì gỗ của Hông có rất nhiều lỗ nhỏ li ti trông giống
như tổ ong. Vách tế bào chứa ít lignin và gỗ dễ dàng chuyển thành carbon khi
gặp nhiệt độ cao. Lớp carbon này trở nên dẫn nhiệt kém và làm cho gỗ cháy
chậm giảm nguy cơ bùng phát cháy rừng vào mùa khô.
- Giá trị cho môi trường:
Hông có nhiều cành, tán lá rộng, lá to, khả năng bao phủ lớn ,hạn chế khả
năng gây thiệt hại do mưa bão.
Lá Hông có nhiều lông, tiết ra chất dính, có thể hút bụi, làm sạch không khí,
chống chịu rất mạnh đối với các khí độc như SO 2, Clo, HF, sương axít nitric…
vì vậy có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Khi lá rụng xuống mau phân hủy, nếu thời tiết vào mùa mưa, trong 45 ngày
đã hòa nhập vào tầng đất màu trên mặt tạo xốp đất và tăng độ phì nhiêu cho đất.
Hông có có cả 2 loại rễ, rễ cọc ăn sâu xuống mặt đất. Rễ chùm ăn ngang
giúp cải tạo đất vì có khả năng tự tạo ra các chất dinh dưỡng nuôi cây và làm
cân bằng hệ dinh dưỡng của đất.

có định hướng dựa vào tính toàn năng của tế bào thực vật( từ dạng tế bào bất kỳ
nào trong cơ thể thực vật cũng đều có khả năng phát triển thành một cơ thể
hoàn chỉnh trong các điều kiện thích hợp).
2.2.1. Lịch sử phát triển của nuôi cấy mô tế bào thực vật
Có thể tạm thời phân chia quá trình này phát triển qua bốn giai đoạn
- Giai đoạn khởi xướng ( 1898- 1930)
Đầu tiên từ những thí nghiệm của Haberlandt( 1898) khi ông đề xướng ra
tính toàn thể của tế bào và tìm cách nuôi cấy tế bào phân lập nhưng không thành
công .
Tiếp sau có rất nhiều phòng thí nghiệm như Winknler ( 1902) Thielmanm (
1924) … Nhưng phải đến những năm 30 của thế kỉ 20 người ta mới đạt tiến bộ
thực sự về lĩnh vực này : công trình của các nhà khoa học như Schmucker(
1929) , Scheitteres( 1931) Pfeiffer ( 1931 ,1933 ) Larue ( 1933) thông báo về
nuôi cấy thành công đoạn đầu rễ riêng rẽ . Trong môi trường nuôi cấy nhân tạo
10


các đoạn rễ này phát triển thành những rễ hoàn chỉnh . Đây là tién bộ đánh dấu
một giai đoạn phát triển mới .
- Giai đoạn nghiên cứu sinh lý ( 1930-1950)
Giai đoạn này được đánh dấu là sự thành công của White( 1934) nuôi cấy
được một dòng rễ cà chua sinh trưởng và phát triển liên tục và sau đó là sự
thành công của nhiều công trình khác của các nhà khoa học khác trên thế giới
như Gau theret , Nobecourt … và vào cuối thời kì này đã có những quan điểm
về sự phân hóa cơ quan rễ ,lá trong nuôi cấy mô của cây cà rốt và cây thuốc lá
lai .
Thành công quan trọng của thời kì này là đã xây dựng và sử dụng có kết
quả một số loại môi trường bán nhân tạo , đồng thời phát hiện được vai trò của
một số loại vitamin đảm bảo sự thành công đối với việc nuôi cấy cơ quan ( rễ )
và mô ( tượng tầng ) ở thực vật .

giống Xanthi.
1977 Melchers lai soma thành công cây cà chua và cây khoai tây.
1985 cây thuốc lá mang gen biến nạp đầu tiên được công bố.
1994 giống củ cải đường mang gen kháng bệnh virus biến nạp được đưa vào
sản xuất đại trà ở Nauy.
Ngày nay nuôi cấy mô tế bào không những là cơ sở quan trọng của công
nghệ sinh học hiện đại mà còn là công cụ quan trọng trong chọn, tạo, nhân
giống… đóng góp cơ sở lý luận mới cho công nghệ sinh học hiện đại.
2.2.2. Cở sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật
- Tính toàn năng của tế bào thực vật
Cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật là tính toàn
năng của tế bào do Haberlandt nêu ra năm 1902. Mỗi tế bào bất kỳ của một cơ
thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cá thể
hoàn chỉnh.
Ngày nay theo quan niệm sinh học hiện đại thì tính toàn năng của tế bào là
mỗi tế bào riêng rẽ đã phân hóa đều mang toàn bộ lượng thông tin di truyền cần
thiết và đủ của cơ thể sinh vật đó. Khi gặp điều kiện thích hợp, mối tế bào đều
có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh.
- Sự phân hóa và phản phân hóa tế bào
Sự phân hóa tế bào: là sự chuyển các tế bào phôi sinh ban đầu hình thành
các tế bào mô chuyên hóa đảm nhân các chức năng khác nhau.
Tế bào phôi sinh

tế bào dãn

tế bào phân hóa( có chức
năng riêng biệt)

sơ đồ các giai đoạn phân hóa của tế bào
12

trường in vitro tốt hơn, chồi gốc tăng trưởng nhanh hơn chồi nách.
Mô sẹo phát sinh từ những mẫu cấy có nguồn gốc khác nhau từ những phần
khác nhau của cây như rễ, chồi, cuống lá đều có phản ứng in vitro giống nhau.
- Kích thước mẫu cấy
13


Các cấu trúc nhỏ như tế bào, cụm tế bào và mô phân sinh khó cảm ứng để
tăng trưởng hơn những cấu trúc lớn như thân, lá, củ.
Các bộ phận của cây có chứa nhiều chất dinh dưỡng như củ, thân hành
thường dễ tái sinh trong môi trường in vitro hơn những cơ quan ít chất dự trữ.
- Kiểu di truyền
Những cây hai lá mầm thông thường có khả năng tái sinh mạnh hơn cây
một lá mầm và cây hạt trần rất khó tái sinh.
Nếu một loài dễ tái sinh cơ quan trong môi trường tự nhiên thì chúng hầu
như dễ tái sinh in vitro.
- Tuổi, sinh lý của cây
Các mô phôi thường có khả năng tái sinh cao.
Các bộ phận của cây non dễ tái sinh hơn, khi cây già đi khả năng tái sinh
của chúng cũng giảm.
Đôi khi sau nhiều lần cấy chuyển mẫu cấy già dần dần được trẻ hóa do tăng
khả năng tái sinh và phân chia tế bào.
- Tuổi của mô, cơ quan
Những mô còn non và mềm dễ nuôi cấy hơn những mô cứng nhưng còn có
nhiều trường hợp ngoại lê.
Các mẫu cấy từ cuống lá còn non tái sinh tốt hơn những mẫu cấy lấy từ
cuống lá già do cơ quan của chúng già nên khả năng tái sinh không cao và phân
chia tế bào giảm.
- Tình trạng sinh lý
Thông thường các bộ phận của cây trong giai đoạn sinh dưỡng dễ tái sinh

Thông thường thực vật tổng hợp các vitamin cần thiết cho sự tăng trưởng và
phát triển của chúng.
Các vitamin thường được sử dụng nhiều nhất trong nuôi cấy mô là
Thiamine( B1), Acid Nicotinic, Pyridoxin ( B6) và Myo- Inositol.
- Chất điều hòa sinh trưởng thực vật
Có năm chất điều hòa sinh trưởng quan trọng trong nuôi cấy mô thực vật:
Auxin, Cytokinin, Gibberillin, Acid Abscisic và Ethylen.
Tỉ lệ Auxin/ Cytokinin xác định dạng phân hóa cơ quan của tế bào thực vật
nuôi cấy.A/C cao giúp sự tạo rễ, A/C thấp giúp tạo chồi.
- Auxin
Auxin phối hợp với cytokinin giúp sự tăng trưởng chồi non và khởi phát sự
tạo mới mô phân sinh ngọn chồi từ nhu mô.
15


Auxin ở nồng độ cao kích thích sự tạo sơ khởi rễ, nhưng cũng cản trở sự
tăng trưởng của các sơ khởi này.
- Cytokinin
Kích thích tế bào phân chia( với điều kiện có auxin).
Cytokinin tác động trên cả 2 bước của sự phân chia tế bào: phân nhân và
phân bào.
Ảnh hưởng của môi trường
- Các chất hữu cơ không xác định
Bổ xung nhiều chất trích hữu cơ khác nhau vào môi trường nuôi cấy thường
mang lại kết quả thuận lợi cho sự tăng trưởng của mô.
Các chất bổ xung này là: protein hydrolysate, nước dừa, dịch chiết nấm
men, dịch chiết lúa mạch, chuối, nước cam, nước cà chua…
- Nguồn cung cấp Nitrogen
Mặc dù tế bào có khả năng tổng hợp tất cả các amino acid cần thiết nhưng
sự bổ xung các amino acid vào môi trường nuôi cấy là để kích thích sự tăng

- Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng nhanh số
lượng thông qua các con đường: hoạt hóa chồi nách, tạo chồi bất định và tạo
phôi vô tính.
- Trong bước này cần chú ý đến môi trường và các điều kiện ngoại cảnh để có
hiệu quả cao nhất.
Bước 4: Tạo cây in vitro hoàn chỉnh
- Để tạo rễ cho chồi người ta chuyển chồi từ môi trường nhân nhanh sang môi
trường tạo rễ.
Bước 5: Thích ứng cây in vitro ngoài điều kiện tự nhiên
Để đưa cây từ ống nghiệm ra vườn ươm với tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng
mạnh cần đảm bảo các yêu cầu sau .
- Cây trong ống nghiệm đã đạt những tiêu chuẩn hình thái nhất định.
- Có giá thể tiếp nhận cây in vitro thích hợp: giá thể sạch, tơi xốp, thoát nước…
- Phải chủ động điều chỉnh được độ ẩm, sự chiếu sáng của vườn ươm cũng như
có chế độ dinh dưỡng thích hợp.
2.2.4. Ứng dụng của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật
Tính ưu việt của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật là việc sử dụng
các mô cấy có kích thước nhỏ, sự tương tác trong mô đơn giản, phân hóa dễ
dàng hơn và tái sinh nhanh hơn so với các phương pháp truyền thống.

17


Ứng dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật để sản xuất cây giống
trên quy mô công nghiêp, có hệ số nhân cao và tạo ra các cá thể có kiêu gen
đồng nhất.
Duy trì và nhân nhanh các kiểu gen quý làm vật liệu cho công tác chọn
giống.
Nhân nhanh các loài cây cảnh, loài hoa khó trồng bằng hạt.
Nhân nhanh kết hợp với làm sạch virus.


Nhân đa chồi

Cây trồng
ngoài tự nhiên

Cây trồng
trong bầu

Tạo cây in vitro
hoàn chỉnh

Sơ đồ tổng quát nhân nhanh trong in vitro
2.2.6.Vai trò của các chất sinh trưởng đối với tái sinh cây in vitro
Các chất kích thích sinh trưởng thực vật có vai trò quan trọng trong kỹ thuật
nuôi cấy mô và tế bào thực vât. Bằng cách cung cấp các chất kích thích sinh
trưởng ở một mức độ thích hợp, chúng ta có thể điều khiển được chiều hướng
phát sinh hình thái của mẫu nuôi cấy. Auxin và cytokinin là hai chất kích thích
sinh trưởng được sử dụng phổ biến nhất trong nuôi cấy mô.
Đặc tính của Auxin
Auxin là chất kích thích sinh trưởng thực vật được sử dụng thường xuyên
trong nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Auxin kết hợp chặt chẽ với các thành
phần khác của môi trường dinh dưỡng để kích thích sự tăng trưởng của mô sẹo,
huyền phù tế bào, điều hòa sự phát sinh hình thái đặc biệt là khi nó được sử
dụng với Cytokinin. Sự áp dụng loại và nồng độ Auxin trong môi trường nuôi
cấy phụ thuộc vào: kiểu tăng trưởng hoặc phát triển cần nghiên cứu, hàm lượng
Auxin nội sinh của mẫu nuôi cấy, sự tác động qua lại giữa Auxin ngoại sinh và
Auxin nội sinh.
Auxin có vai trò kích thích sự tăng trưởng, kéo dài tế bào. Cùng với
Cytokinin các nhóm Auxin kích thích sự phân chia tế bào. Các hormone của

Trong nước
Ở Việt Nam việc áp dụng kỹ thuật này để bảo tồn các loài thực vật nhiệt đới
quý hiếm, có giá trị kinh tế cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, bắt đầu từ
các cây Thông ( Taxus sps.) là loài có chứa các hoạt chất chữa ung thư hiệu quả
như Taxoid và các hợp chất và một số loài thực vật có giá trị làm thuốc ( Lê Thị
Xuân, 1996).
Cây Màng tang ( Litsea verticillata) là một loại cây thân gỗ có chứa một số
hợp chất có khả năng kháng HIV (+) – demethoxyapiercelsin và verticillatol (
Hoang VD, Zhang HJ). Tác giả Lê Xuân Đắc và cộng sự đã thành công trong
việc nhân nhanh và bảo tồn cây Màng tang ( Litsea verticillata) được tìm thấy ở
vườn Quốc gia Cúc Phương bằng kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật ( Lê
Xuân Đắc).
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng đã nhân giống in vitro thành công cây Sưa (
Dalbergia tonkinensis Prain), cây thân gỗ quý hiếm và có giá trị kinh tế cao vào
năm 2008. Năm 2009 tác giả này cũng thành công với đề tài “Nghiên cứu bảo
20


tồn in vitro một số loài lan rừng Việt Nam quý hiếm”, nhân được nhiều giống
lan như: Thanh đạm một hoa, Thủy tiên hường, Ngọc vạn sáp, Mỹ dung dạ
lan...(http://www.baomoi.com/8X-bao-ton-gien-nhieu-giong-cayquy/79/3777758.epi).
Cây Ba kích là một cây dược liệu quý, có tác dụng bổ thận âm, bổ thận
dương, tăng cường gân cốt, khử phong thấp( Ning-Zhen Huang). Dịch chiết cồn
từ củ cây Ba kích có tác dụng giảm huyết áp, tác dụng nhanh đối với các tuyến
cơ năng, bổ trí não, giúp ăn và ngủ ngon.( Wei L) Ngày nay nhu cầu sử dụng
loài cây này làm dươc liệu đang gia tăng nên nó bị khai thác kiệt quệ. Năm
2010, các tác giả Võ Châu Tuấn, Huỳnh Minh Tư đã nghiên cứu và nhân giống
thành công giống cây quý này bằng phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực
vật ( Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng – Số 5(40).2010, 191-196).
Thế giới

Đây là biện pháp bảo tồn hiệu quả nhất bao hàm các quần thể tái sinh nhân
tạo bằng nguồn hạt giống thu hái tại chỗ, thu hái từ cây mẹ mà không áp dụng
có định hướng.
Điều này có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng rừng giống cho các loài
cây có phân bố rải rác, như vậy quần tụ bảo tồn được dùng làm nguồn cung cấp
vật liệu giống cho tái sinh nhân tạo.
Bảo tồn ex situ
Được thực hiện bằng cách tách rời cây hoặc vật liệu nhân giống ra khỏi
vùng phân bố tự nhiên để đưa vào các bộ sưu tập cây sống ( Vườn thực vật),
rừng trồng với mục đích bảo tồn ( quần tụ bảo tồn ex situ, ngân hàng hạt giống,
phấn hoa hay nuôi cấy mô) ( Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006).
Ba nhiệm vụ chính của bảo tồn ex situ:
- Thu thập các mẫu gen tiêu biểu
- Duy trì chúng ở điều kiện tốt trong thời gian dài
- Làm tăng số lượng mẫu thu thập được ( Havens K)
Bảo tồn ex situ được áp dụng cho các loại cây trồng chủ yếu, các loài cây đó
biết rõ giá trị của chúng hoặc khi các quần thể tự nhiên không được bảo vệ an
toàn do tác động của sâu bệnh, lửa rừng và sự phá hoại rừng của súc vật hoặc
con người hoặc do bị tạp giao với các quần thể ngoại lai khác.

22


Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1.

Vật liệu nghiên cứu:
Nguyên liệu thực vật: Cây Hông có nguồn gốc từ Autralia do Viện Công

nghệ sinh học cung cấp.

Đốt thân ngoài tự nhiên
khử trùng vào mẫu

môi trường MS/2. 4 tuần

Chồi con in vitro
tách chồi in vitro
môi trường MS/2 có bổ xung BAP( 5- 7 mg/l)
Cụm chồi
tách chồi in vitro

môi trường MS/2 có bổ xung NAA( 0,1- 0,2mg/l)

Cây con hoàn chỉnh
giá thể. Đất/ cám dừa: 4/1
Trồng cây ra đất

3.3.1. Khử trùng mẫu
Khử trùng mẫu bao gồm các bước sau:
- Cắt cành cây Hông thành đoạn 6- 8cm.
- Rửa mẫu bằng nước xà phòng pha loãng.
- Rửa sạch nước xà phòng pha loãng dưới vòi nước.
- Rửa 2 lần bằng nước cất vô trùng.
- Rửa trong cồn 700C( trong 15 giây).
- Rửa bằng nước cất khử trùng 3 lần.
24


- Khử trùng trong dung dịch 1% NaClO, lắc trong 10 phút.
- Rửa 4 lần bằng nước cất vô trùng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status