Bộ giáo dục & ĐàO TạO
TRờNG ĐạI HọC VINH
KHOA Ngữ văn
-----------------------
Đào Thị Xuân
Hình tợng ngời phụ nữ trong
thơ tố hữu
Khóa Luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: ngôn ngữ
Vinh 2006
Lời nói đầu
T
rong quá trình viết khoá luận này, chúng tôi đợc sự giúp đỡ tận tình, chu
đáo trực tiếp của giáo viên hỡng dẫn PGS. TS Đỗ Thị Kim Liên cùng với
sự góp ý của nhiều quí thầy cô trong tổ bộ môn Ngôn Ngữ khoa Ngữ Văn.
Nhân dịp này chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành đối với các
thầy cô giáo và các bạn bè, ngời thân trong gia đình.
Vinh, tháng 5 năm 2006
Ngời thực hiện:
Đào Thị Xuân
Chơng 3.......................................................................................................53
Một số biện pháp tu từ đặc sắc trong thơ.........................53
Tố Hữu viết về ngời phụ nữ...........................................................53
3.1 Biện pháp so sánh tu từ.......................................................................53
3.2 Biện pháp nhân hoá............................................................................56
3.3 Điệp cú pháp........................................................................................59
3.4 Một số nhận xét về phong cách ngôn ngữ Tố Hữu viết về hình tợng
ngời phụ nữ................................................................................................62
3.4.1. Ngôn ngữ thơ Tố Hữu giàu cảm xúc trữ tình.................................62
3.4.2 Ngôn ngữ thơ Tố Hữu giàu nhựa cuộc sống, khoẻ khoắn đầy lạc
quan............................................................................................................64
3.4.3 Ngôn ngữ thơ Tố Hữu mang tầm vóc khái quát............................66
Kết luận....................................................................................................69
Tài liệu tham khảo............................................................................70
Hình tợng ngời phụ nữ trong thơ tố hữu
mở đầu
I. lý do chọn đề tài.
1. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu đợc đánh giá là đại
biểu xuất sắc và tiêu biểu cho nền thơ ca cách mạng. Trên sáu thập kỉ qua, thơ
ông đã truyền lửa và gieo hạt cho biết bao thế hệ độc giả, ngời ta tìm thấy đờng đi, lẽ sống và lí tởng sống đích thực trong thơ Tố Hữu. Chính vì thế thơ
ông đã và đang đợc nhiều sự quan tâm nghiên cứu của của giới khoa học trong
đó có các nhà ngôn ngữ học.
2. Thơ Tố Hữu tuy đã đợc nghiên cứu, đánh giá trên nhiều mặt nhng cha có tác giả nào chuyên sâu vào nghiên cứu khảo sát hình tợng ngời phụ nữ
trong thơ ông dới góc độ ngôn ngữ. Vì vậy, luận văn này chúng tôi đi theo hớng còn để ngỏ nhằm góp phần làm rõ hơn phong cách của một nhà thơ cộng
sản với t tởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ và nhằm tôn vinh ngời phụ nữ.
nhiều góc độ khác nhau
- ở góc độ thi pháp:
Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử là một bớc đột phá lớn trong
quá trình tiếp cận và nghiên cứu thơ Tố Hữu. ông đã chỉ ra những đóng góp
lớn của Tố Hữu trong ngôn ngữ thơ, thể tài và sự nghiệp thơ ca cách mạng
Việt Nam . Theo ông, Tố Hữu là ngời đầu tiên biết kết hợp hài hoà t tởng, lí tởng cách mạng cao đẹp nhất, sáng tỏ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ
mới cho thơ ca. Đấy chính là nét duyên, tạo sức hấp dẫn kì lạ của nhà thơ
cộng sản luôn đứng trong hàng ngũ cần lao và cách mạng
- Góc độ ngôn ngữ.
Một số đề tài khoá luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã đi sâu tìm
hiểu những đóp góp về ngôn ngữ của nhà thơ Tố Hữu nh:
+ Động từ chỉ hành động trong thơ Tố Hữu.
+ Khảo sát cách sử dụng từ địa phơng trong thơ Tố Hữu.
+ So sánh tu từ trong thơ Tố Hữu.
Tuy nhiên, hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Tố Hữu đang còn là vấn đề
cha đợc nghiên cứu, khảo sát cụ thể và thỏa đáng. Do đó, chúng tôi chọn lựa
thành đề tài Hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Tố Hữu để bớc đầu nghiên
cứu.
IV. cáI mới của đề Tài
1. Sự thành công của Tố Hữu không chỉ dừng lại ở việc khắc họa thành công
hình tợng vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại: Hồ Chí Minh mà còn thành công ở rất
nhiều hình tợng tiêu biểu nh: anh Giải phóng quân, hình tợng Tổ quốc Tuy
nhiên, việc khắc họa những gơng mặt mặt phụ nữ tiêu biểu nh mẹ Suốt, chị
Trần Thị Lý, mẹ Tơm đã tạo nên bức t ợng đài về hình tợng ngời phụ nữ
anh hùng-bất khuất-trung hậu- đảm đang của ngời phụ nữ Việt Nam nói
riêng trong kháng chiến và của giới nữ nói chung.
2. Tấm lòng nhân đạo cao cả của ngời cộng sản đã khiến cho thơ ông có sức
cuốn sách Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi) làm chuẩn thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống,
thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc,
giàu hình ảnh và nhất là nhịp điệu
(Xem 3, tr 309)
Thơ là một thể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy
ngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là ngôn ngữ mang
tính nghệ thuật đợc dùng trong văn học. ở phạm vi thể loại ngôn ngữ thơ đợc
hiểu là một chùm đặc trng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trng hoá,
khái quát hóa hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thơ ca.
1.1.2. Đặc trng của thơ
a. Về ngữ âm
Đặc điểm nổi bật về phơng diện ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là
tính nhạc. Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của cảm xúc, tình
cảm, chiều sâu nội tâm, thế giới tình cảm của nhà thơ không chỉ biểu hiện
bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn trong cả âm thanh, nhịp điệu, kết cấu. Vì vậy
mà nhiều ngời đã nhất trí trong việc xem tính nhạc là đặc thù cơ bản của ngôn
ngữ thơ ca. Từ đó cần chú ý những đối tợng sau: Sự đối lập về trầm-bổng;
khép-mở của các nguyên âm. Sự đối lập về vang-tắc giữa hai dãy phụ âm
mũi và phụ âm tắc, vô thanh trong các phụ âm cuối. Sự đối lập về cao- thấp,
bằng- trắc của các thanh điệu. Bên cạnh những đối lập đó vần và nhịp cũng
góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca.
b. Về ngữ nghĩa
Mỗi từ ngữ khi đi vào thơ đều qua sự chọn lựa kĩ càng và hoạt động biến
hoá đa dạng, linh hoạt. Khác với văn xuôi, khi đi vào thơ do áp lực của cấu
trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen nghĩa
gốc ban đầu mà mang ý nghĩa mới tinh tế hơn, sâu sắc hơn, đa dạng hơn và
mới mẻ hơn nhiều. Đó là nghĩa bóng hay còn gọi là ý nghĩa biểu trng của
Lớn lên trong thơì điểm đầy biến động của lịch sử đất nớc, Tố Hữu đã
sớm giác ngộ lý tởng cộng sản và hăng hái tham gia hoạt động cách mạng.
Năm 1936 ông gia nhập đoàn thanh niên cộng sản. Năm 1938 Tố Hữu đợc kết
nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam . Từ đó, cuộc đời ông gắn bó máu thịt với
cách mạng Việt Nam. Ông liên tục giữ những cơng vị trọng yếu trong cơ quan
lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc. ông mất ngày 9/12/2002 tại Hà Nội, để lại
niềm tiếc thơng vô hạn cho công chúng yêu thơ và bạn bè, đồng chí.
Sớm phải chịu thiệt thòi và mất mát từ lúc nhỏ nên Tố Hữu có sự đồng
cảm và lòng trắc ẩn sâu sắc trớc những cảnh đời éo le, ngang trái trong xã hội
cũ. Cũng chính vì lẽ đó mà Tố Hữu hòa mình với cuộc sống của quần chúng
lao khổ và tìm đến cách mạng khi còn rất trẻ. Nhờ có lý tởng cách mạng soi
sáng, thơ Tố Hữu đã nói lên tiếng nói của quần chúng cách mạng, đợc đón
nhận nồng nhiệt và say mê. Tác giả Trần Đình Sử đã nhận xét: nếu lấy mức
độ phổ cập, sức mạnh chinh phục trái tim quần chúng nhân dân làm thớc đo
tầm vóc thơ, thì Tố Hữu có thể sánh ngang với bất cứ nhà thơ lớn nào có
trong lịch sử dân tộc và nhân loại
(Xem 15, tr 15)
Về sáng tác, Tố Hữu để lại 7 tập thơ với gần 300 bài thơ, thu hút đến hơn
200 bài viết và công trình nghiên cứu về các tác phẩm của ông.
Từ ấy (1946) là tập thơ đầu tay bao gồm các sáng tác của Tố Hữu trong
10 năm (1937-1946) phản ánh một thời kì lịch sử sôi động của phong trào
cách mạng. Tập thơ là niềm vui bắt gặp lí tởng của tuổi trẻ sẵn sàng hiến
dâng, chấp nhận mọi thử thách tù đày và đấu tranh cho lý tởng cách mạng ấy,
nhà thơ đã cảm thông và khơi dậy ở ngời lao khổ lòng căm thù, ý chí đấu
tranh giải phóng và đem lại cho họ niềm tin vào tơng lai (em bé mồ côi, lão
đầy tớ, chị vú em, cô gái giang hồ, bà má Hậu Giang). Trong thời gian bị tù
đày, thơ Tố Hữu là tiếng hát chiến đấu, là nỗi niềm tâm sự và cả quyết tâm
của ý chí trên con đờng đấu tranh không chịu khuất phục trớc uy lực và sự tàn
bạo của kẻ thù. Cách mạng tháng Tám thành công, nhà thơ say sa ngợi ca
thắng lợi của cách mạng, nền độc lập tự do của đất nớc.
Tập thơ cuối cùng: Ta với Ta là tập hợp những bài thơ sáng tác từ năm
1993-2002. ở đây ta bắt gặp nhiều chiêm nghiệm đáng quí về đạo làm ngời,
nhận thức rõ trách nhiệm với cộng đồng ở mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm. Tập
thơ nh một cuộc hành hơng trở về với quá khứ (Về quê, Về chiến khu xa) và
làm sống dậy cả lịch sử. Đồng thời, nó cũng đằm sâu nỗi buồn của ngời đã bớc qua tuổi thất thập cổ lai hy nắm rõ qui luật của tạo hóa nghiệt ngã nhng
vẫn nặng tình, nặng lòng với đời:
Thơ gửi bạn đời, tro bón đất
Sống là cho, và chết cũng là cho
( Bài thơ cuối cùng)
1.2.2 Vai trò thơ Tố Hữu trong nền thơ ca cách mạng
Tố Hữu đợc coi là một đại biểu tiêu biểu nhất của thơ ca cách mạng Việt
Nam hiện đại. Ông là một gơng mặt sáng giá, là con chim đầu đàn của dòng
thơ cách mạng. Thơ Tố Hữu đã thực sự là nguồn lực về tinh thần nuôi dỡng
cho thanh niên trong thời đại mới về lẽ sống cao cả. Thơ ông mang đậm tính
dân tộc và quần chúng rộng rãi, là tiếng nói tâm tình của dân tộc, tiếng hát
của thời đại. Qua nửa thế kỉ làm thơ và làm cách mạng Tố Hữu đã tạo dựng
cho thơ mình một diện mạo riêng, một hệ thống thơ mới so với thơ cổ điển và
thơ mới lãng mạn. Đó là thơ trữ tình chính trị trong đời sống văn hóa tinh thần
của ngời Việt Nam và hơn thế nữa đã góp phần cho thơ cách mạng một tiếng
nói mới, độc đáo và ngày càng phát triển. Do đó, ta có thể nói rằng Tố Hữu là
nhà thơ thành công nhất trong lối thơ trữ tình cách mạng. Sứ mệnh lịch sử
cùng với tố chất nhà thơ trữ tình chính trị đã làm nên giá trị và sức hấp dẫn kì
lạ của thơ Tố Hữu. Ông là ngời mở đầu và dẫn dắt nền thơ ca cách mạng Việt
Nam. Thơ ông trở thành ngọn đuốc soi đờng, thành kim chỉ nam cho những
ngời muốn sống có hoài bão và lý tởng. Một thời, thơ Tố Hữu trở thành sách
gối đầu giờng và làm bạn tri âm của thanh niên yêu nớc, muốn đi theo cách
mạng. Độc giả tìm đến và gắn bó với thơ ông vì họ cảm nhận đợc ngọn lửa lý
tởng ngời sáng, cùng một trái tim nhân hậu yêu thơng vô bờ-vốn là phẩm chất
đọc tác phẩm, chỉ khi nào thâm nhập đợc vào thế giới tinh thần đó mới có thể
nảy sinh đợc sự thởng thức, đồng cảm .
(Xem 12, tr 140).
1.3.2 Hình tợng ngời phụ nữ từ truyền thống đến hiện đại
T duy hình tợng là đặc trng của t duy nghệ thuật. T duy hình tợng là đòi
hỏi sự khái quát nhng sự khái quát ấy không làm mất đi cái cụ thể trực quan
sinh động. Đó là một quá trình điển hình hóa khách quan theo quan niệm chủ
quan của tác giả. Nh vậy, hình tợng vừa là công cụ t duy của nhà thơ đồng
thời là mục đích sáng tạo của thơ.
Hình tợng ngời phụ nữ ban đầu gắn liền với văn học dân gian: Xuất hiện
nhiều trong ca dao, truyện cổ. Tuy nhiên, ngời phụ nữ xa phải sống theo
khuôn phép, lễ giáo và phụ thuộc vào chồng con. Họ chỉ nh là vật trang sức
hoặc nô bộc trong gia đình, bị đè nén bởi nhiều thế lực và không đợc coi
trọng. Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, quanh quẩn bếp núc, gia đình. ở
nông thôn thì ngời phụ nữ cả đời không bớc chân khỏi lũy tre làng. Ngời phụ
nữ xa sống nh những cái bóng, âm thầm và nhẫn nhục. Chính vì lẽ đó mà họ
gửi gắm nỗi niềm tâm sự, than thân trách phận vào ca dao, vào thân cò, thân
vạc.
Đàn bà nh hạt ma sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng bùn
Thân em nh dải lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Nổi lên là hình tợng con cò trong ca dao là một hình tợng nhân hóa
những cuộc đời hiền lành chịu khó, giàu tính nhân ái, rất gần gũi với tâm hồn
Việt Nam đặc biệt là với ngời phụ nữ lao động. Với vẻ đẹp dịu dàng duyên
dáng:
Con cò bay lả bay la
Sự cần cù chăm chỉ một nắng hai sơng:
của ngời phụ nữ Việt Nam mà chúng ta đã gặp trong ca dao, dân ca, các
truyện nôm bình dân. Qua sự gia công gọt giũa của văn chơng bác học, ngời
đọc cảm thán trớc vẻ đẹp vô ngần về tình cảm, sự thuần khiết cao quí về đức
hạnh, sự mẫn tuệ và khả ái về tâm hồn của ngời chinh phụ. Nàng trở thành
một đại diện tiêu biểu cho ngời phụ nữ Việt Nam thế kỷ XVIII. Thế nhng, trớc cuộc chiến tranh phong kiến tàn bạo, thân phận bé nhỏ của nàng có khác gì
cánh diều bị tung bạt trong bão táp cuồng phong. Ngời chinh phụ chỉ còn biết
nhớ mong, chờ đợi, khát khao trong mòn mỏi, tuyệt vọng trong nỗi lo sợ cho
chồng và cho mình. Vậy mà chiến tranh và tình yêu tan vỡ vẫn là một thực tế
không thể thay đổi. Dù vậy, trớc sau nàng vẫn khẳng định triết lý hạnh phúc:
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy, theo kiếp này hơn thấy kiếp sau. Bởi lẽ:
ấy loài vật tình duyên còn thế, sao kiếp ngời nỡ để đấy đây. Khúc ngâm đã
thực sự gieo vào lòng ngời đọc một nỗi chán ghét, oán giận đối với những
cuộc chiến tranh phi nghĩa, vô nhân đạo, phản nhân văn. Chính vì thế, tác
phẩm mãi mãi hấp dẫn đối với những ai yêu chuộng hòa bình và trân trọng
mọi vẻ đẹp của con ngời.
Sự xuất hiện của Truyện Kiều đã thúc đẩy bớc phát triển của lý tởng
nhân văn, của tinh thần nhân văn trong nền văn học dân tộc lên một đỉnh cao
mà giờ đây cha một tác phẩm nào vợt qua. Nhân vật Thúy Kiều vốn bắt nguồn
từ văn học Trung Quốc nhng qua sự tái sinh của thiên tài Nguyễn Du, nàng đã
trở thành một hình tợng phụ nữ tiêu biểu mang tâm hồn và tính cách dân tộc
Việt. Truyện Kiều đợc lu truyền rộng rãi và nổi tiếng tới mức nó trở thành
món ăn tinh thần không thể thiếu của ngời Việt Nam: ngời ta tập Kiều, lẩy
Kiều, bói Kiều. Có thể thấy toàn tác phẩm vĩ đại này là một bức tranh rộng
lớnvề cuộc sống thời đại nhà thơ đang sống, trong đó Nguyễn Du muốn làm
nổi bật sự đối lập gay gắt giữa quyền sống của con ngời nhất là của phụ nữ,
với sự áp bức của chế độ phong kiến suy tàn. Thúy Kiều là nhân vật kết tinh
những khao khát tình cảm của ngời phụ nữ thời trớc, những ớc mơ vơn tới
những cái gì là đáng sống, là tốt đẹp ở đời. Bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp
Nguyễn Du trao cho Thúy Kiều, không phải để trang sức, mà là để khẳng định
ngời phụ nữ bất hạnh trong cuộc sống. Trong thơ Hồ Xuân Hơng, hình tợng
ngời phụ nữ chính là hình tợng cảm xúc, hình tợng tâm trạng của bản thân nhà
thơ và những ngời cùng giới với nhiều cung bậc, sắc thái khác nhau: có than
thở, chua xót, có phẫn nộ căm hờn, có độ lợng khoan dung, có yêu thơng đằm
thắm, có châm biếm sâu cay. Và dù thế nào đi nữa, tiếng thơ Hồ Xuân H ơng vẫn thể hiện một phong cách riêng độc nhất vô nhị. Đứng về quyền lợi
của giới nữ nhà thơ cũng nêu lên một nét điển hình của chế độ hôn nhân
phong kiến đầy bất công: Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có
một chồng. Bà kịch liệt phản đối và phản kháng bằng thơ. Bản thân là một
ngời phụ nữ hơn ai hết Xuân Hơng không chỉ chia sẻ, cảm thông, bênh vực
phản kháng tố cáo mà còn hết sức đề cao ca ngợi nét đẹp thể hình của ngời
phụ nữ, (Thiếu nữ ngủ ngày, Bánh trôi nớc). Đặc biệt là tấm lòng tình
cảm bên trong: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Hồ Xuân Hơng xứng đáng với danh hiệu Bà chúa thơ Nôm bởi không chỉ
ở sáng tạo nghệ thuật đặc sắc mà dấu ấn cá nhân của một ngời phụ nữ cũng
nhận thấy rất rõ trong các tác phẩm của bà.
Hình tợng ngời phụ nữ với những đặc tính quý báu mang tính truyền
thống còn hiện diện trong thơ Trần Tế Xơng vào giai đoạn cuối của văn học
trung đại:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nớc buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mời ma dám quản công.
(Thơng vợ - Tú Xơng)
Sau này, khi chữ quốc ngữ ra đời, văn học viết phát triển với nhiều trào lu mới. Ngọn gió của phơng Tây đã làm thay đổi diện mạo của văn chơng Việt
Nam. Hàng loạt cây bút trẻ ra đời cùng với sự thống lĩnh văn đàn của phong
trào thơ mới. Bên cạnh đó thơ ca cách mạng cũng phát triển nh một mạch
2.1 Các lớp từ ngữ chỉ ngời phụ nữ
2.1.1 Thống kê, định lợng
Thứ tự
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Đu-xi-a
Em
Em ả
Em gái
Gái
Má
Má già
Me
Mẹ
Mé
Mụ
Mẹ già
Tần số
9
23
6
1
5
1
1
1
61
1
6
1
5
10
1
1
0,21
1,03
2,06
0,21
0,21
2,26
0,41
0,21
0,21
0,21
0,21
32,57
0,21
0,41
0,62
0,62
0,21
0,21
19,17
1,03
0,21
1,23
34
35
36
37
38
39
Ngời đẹp
Ngời em
Ngời mẹ
Ngời vợ
O
Quả phụ
Thân em
Thân gái
Thiếu nữ
1
3
2
14
1
1
1
1
1
2
1
1
8
1
1
12
3
2
1
1
2.1.2. Các tiểu nhóm từ chỉ ngời
2.1.2.1. Nhóm danh từ chỉ đối tợng nhân vật nữ
Qua khảo sát có thể phân lớp từ chỉ đối tợng nhân vật nữ thành 3 nhóm ở
độ tuổi khác nhau: Ngời mẹ già, ngời phụ nữ trung niên và thanh niên.
a. Trớc hết là các từ chỉ ngời mẹ già
Tố Hữu đã sử dụng 6 danh từ sau để khắc họa nhân vật: Mẹ, Bầm, Bủ,
Má, Mụ , Mé. Đây là những ngời mẹ đã từng sinh ra những đứa con cho cách
mạng hoặc là những ngời mẹ đã nuôi dỡng, chở che cách mạng, cống hiến cho
cách mạng.
Ví dụ:
Mẹ ơi , đời mẹ buồn lo mãi
Thắt ruột mòn gan, héo cả tim!
( Quê mẹ - Tr. 281)
Bà bủ không ngủ, bà nằm
Càng lo càng nghĩ, càng căm càng thù
Ngoài phên gió núi ù ù
Ma đêm ma tự chiến khu ma về
( Bà Bủ - tr. 227)
Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa đun cành củi khô
Một mình má một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro má cời
( Bà má Hậu Giang - tr. 140)
Coi chừng sóng lớn gió to
Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình
( Mẹ Suốt - tr. 422)
Con mé có ba
Trai hai gái một
Biết bao nhiêu quả phụ
Nhăn trán nhìn va-gông
( Đông Kinh nhuộm máu - tr. 49)
Hay cô giáo:
Chị là cô giáo hiền tơi
Bàn tay chăm chút nh ngời mẹ yêu
( Chị là ngời mẹ - tr. 294)
c. Các từ chỉ ngời thanh niên
Đặc biệt hơn cả trong thơ Tố Hữu đó là sự u ái của tác giả khi viết về
những nữ thanh niên đã hy sinh xơng máu, cống hiến tuối thanh xuân cho
cách mạng. Đó là chị Lý- ngời con gái Việt Nam từ cõi chết trở về chói lọi
hay những cô dân quân, du kích, những cô thanh niên xung phong không rõ
tuổi tên, hình dángv.v. Những bóng hồng âm thầm và gan góc đã chắc
tay súng, vững tay cày góp phần làm nên lịch sử hào hùng của đất nớc:
Ví dụ:
Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
( Ngời con gái Việt Nam - tr.322)
Ngời con gái đi nhanh trên đê nhỏ
( Giữa ngày xuân - tr.379)
Chào em! cô dân quân vai súng tay cày
Chân lội bùn, mơ hạ máy bay!
( Chào Xuân 67- tr. 436)
ôi những nàng xuân rất dịu dàng
Hát câu quan họ chuyến đò ngang
Nhẹ nhàng tay cấy bên sông ấy
Súng khoác trên lng, chẳng ngỡ ngàng
( Xuân sớm - tr. 430)
Lng đèo Mụ Giạ
21.Thanh niên xung phong ( cô gái đèo Mụ Giạ)
22.Du kích
23.Chị hàng hoa ( làng Ngọc Hà - Hà Nội)
24.Phi công ( chị Đu-xi-a)
25.Bí th nhà máy dệt Thành Công
26.Cô bán hàng ( thời bình)
Với tổng số 26 nghề trên, nhà thơ đã bộc lộ một cái nhìn toàn diện và
khá bao quát về ngời phụ nữ ở mọi góc độ của đời sống thờng nhật dù là kẻ ở
dới đáy xã hội hay lãnh đạo xã hội thì ông đều có cái nhìn bao dung, đầm ấm
thơng xót, thông cảm khích lệ hoặc ngợi ca.
Ví dụ:
Ngày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
( Tiếng Hát sông Hơng - tr. 71)
Thi nhân đã gieo vào lòng ngời kĩ nữ niềm lạc quan, tin tởng và sự hy
vọng lớn vào cuộc sống khi cách mạng thành công thì họ hoàn toàn có thể bắt
đầu lại từ đầu cuộc sống mới.
Còn với ngời nữ chiến sĩ cách mạng gan góc, kiên cờng trở về từ địa
ngục trần gian, Tố Hữu đã dồn hết mọi yêu thơng, nâng niu, trân trọng và cảm
phục tột độ.
Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt
Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt
ôi bàn tay nh đôi lá xanh
Trên mình em đau đớn cả thân cành
( Ngời con gái Việt Nam - tr.322)
Côn Lôn, Phú Quốc, dìu nhau trở về
Lá buông trắng vách lều tre
Bài ca Hy vọng hát nghe ấm lòng
( Nớc non ngàn dặm - tr. 528)
Truyền thống đánh giặc giữ nớc của dân tộc Việt đã tạo nên ngọn lửa ấm
của muôn thế hệ và ngời phụ nữ không là ngoại lệ mà luôn là hậu phơng vững
chắc nên giặc đến nhà đàn bà cũng đánh họ chấp nhận sự hy sinh để có sự
hồi sinh đất nớc và những con ngời mới:
Vợ ta chết ? Nhng sống muôn em ả
( Đời thợ - tr.156)
Hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Tố Hữu đã dần dần rõ nét và đợc khẳng
định. Họ đã là chủ đất nớc và làm chủ số phận. Ta có thể nhận thấy điều này
trong t thế kiêu hãnh đứng trên đầu thù của o du kích nhỏ:
o du kích nhỏ giơng cao súng