TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN ĐỖ THỊ NGỌC
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ
TRONG LẠNH LÙNG CỦA NHẤT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG HÀ NỘI – 2014
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Khóa luận với đề tài: Hình tượng người phụ nữ trong Lạnh lùng của
Nhất Linh chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì một công trình nào. Nếu sai,
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2014
Sinh viên Đỗ Thị Ngọc Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
MỤC LỤC
3.1. Miêu tả ngƣời phụ nữ qua ngoại hiện 40
3.1.1. Miêu tả người phụ nữ qua ngoại hình và hành động 40
3.1.2. Miêu tả người phụ nữ qua thiên nhiên, ngoại cảnh 47
3.2. Miêu tả ngƣời phụ nữ qua ngôn ngữ nghệ thuật 51
3.2.1. Miêu tả người phụ nữ qua ngôn ngữ đối thoại 51
3.2.2. Miêu tả người phụ nữ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm 52
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Con ngƣời từ lâu đã trở thành thƣớc đo giá trị của văn học, là cơ sở
để đánh giá vị trí các hiện tƣợng văn học trong tiến trình văn học nƣớc nhà.
Tìm hiểu một tác phẩm văn học thì điều trƣớc tiên là phải chú ý đến hệ thống
nhân vật trong tác phẩm đó. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhận định rằng:
“Không thể lý giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con ngƣời đƣợc thể hiện
trong đó. ( ). Vấn đề quan niệm về nghệ thuật của con ngƣời thực chất là vấn
đề năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con ngƣời
bằng các phƣơng tiện nghệ thuật” [31, tr 20]. Nói đến văn học Việt Nam giai
đoạn 1930 - 1945 không thể không nhắc đến Tự lực văn đoàn, nhóm đã cho ra
đời những tiểu thuyết thật sự mới mẻ về nội dung lẫn tƣ tƣởng, phong cách.
Tự lực văn đoàn góp phần lớn giúp văn xuôi Việt Nam giai đoạn hiện đại phát
triển lên một tầm mới với những cây bút nổi tiếng nhƣ: Nhất Linh, Khái
Hƣng, Hoàng Đạo, Thạch Lam đặc biệt là Nhất Linh – ngƣời có công đầu
tiên trong việc sáng lập Tự lực văn đoàn và để lại nhiều tác phẩm có giá trị
cho nền văn học Việt Nam: Đoạn tuyệt, Bướm trắng, Đời mưa gió (viết chung
thu hút đƣợc sự quan tâm của các giới nghiên cứu cũng nhƣ việc giảng dạy
trong các trƣờng phổ thông, cao đẳng và đại học Thông qua đó, chúng ta có
thể hiểu hơn về những tâm tƣ, nỗi niềm sâu kín bên trong thân phận của họ.
1.4. Từ những lí do đó, chúng tôi hƣớng tới tìm hiểu đề tài: Hình tượng
người phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh qua đó có thể nhận ra đƣợc sự
đổi mới cả về tƣ tƣởng và nghệ thuật trong việc khắc họa hình tƣợng ngƣời
phụ nữ. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ, nhƣng mỗi ngƣời có
cách khai thác và tiếp cận khác nhau sẽ cho thấy đƣợc nhiều điều mới và vấn
đề nghiên cứu sẽ đƣợc phong phú hơn lên.
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
3
2. Lịch sử vấn đề
Từ khi ra đời đến nay tiểu thuyết của Nhất Linh đã trở thành tiêu điểm
chú ý của giới nghiên cứu văn học. Có rất nhiều công trình xuất sắc nghiên
cứu từ trƣớc năm 1945 ở cả hai miền Nam Bắc, nhƣng ý kiến đánh giá lại
không hoàn toàn nhất quán, thậm chí trái ngƣợc nhau. Ý kiến khen cũng
nhiều nhƣng chê cũng không ít.
2.1. Trước năm 1945
2.1.1. Ngay từ 1939, trong cuốn Dưới mắt tôi, nhà phê bình Trƣơng
Chính với thái độ tôn trọng, ghi nhận sự tiến bộ, ông dành nhiều trang để
đánh giá các tác phẩm đang “làm mƣa làm gió” của Nhất Linh và Khái Hƣng
trên văn đàn. Khi bàn về tác phẩm Lạnh lùng, ông cho rằng đó là “mũi tên
độc thứ hai” mà Nhất Linh bắn vào Khổng giáo vì: “Trong Lạnh lùng, nạn
nhân của chế độ cũ cũng đáng thƣơng nhƣ Loan. Nhung một ngƣời đàn bà trẻ
tuổi, góa bụa, nhƣng không đi lấy chồng, hay không thể, không dám đi lấy
chồng vì Luân lí, vì Đạo đức, vì Danh dự.
Tác giả sẽ cho ta hiểu rằng Luân lý ấy là luân lí áp bức, Đạo đức ấy là
đạo đức giả dối, Danh dự ấy là danh dự hão huyền ” [1, tr 630]
Giá trị tố cáo, kết án xã hội đƣợc ông khẳng định khi kết luận về nội
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về các cây bút tiêu biểu
của Tự lực văn đoàn cũng đã gặp gỡ với nhà phê bình Trƣơng Chính khi chú
ý đến một mảng hiện thực trong tiểu thuyết của họ. Đó là hiện thực cuộc sống
nghèo nàn, tù túng với những số phận bất hạnh hay những hủ tục đang tồn tại
trong xã hội nhƣ một căn bệnh cần phải xóa bỏ. Trong cái nhìn của hai nhà
phê bình có tiếng đƣơng thời, hiện thực xã hội cũng là nội dung quan trọng
trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hƣng và Thạch Lam. Dù chƣa phải là
hiện thực nóng bỏng với những mâu thuẫn cơ bản, song yếu tố hiện thực về
cuộc sống của con ngƣời gắn với lễ giáo, hủ tục phong kiến cũng đƣợc đề cập,
ghi nhận và tạo dấu ấn trong tác phẩm của các cây bút Tự lực văn đoàn.
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
5
Các công trình trên bƣớc đầu mới chỉ nêu lên một số đóng góp về tiểu
thuyết của các nhà văn trong nhóm nói chung và tiểu thuyết của Nhất Linh
nói riêng về mặt tƣ tƣởng và nghệ thuật nhƣ đấu tranh giải phóng cá nhân,
nghệ thuật tả cảnh và miêu tả tâm lí nhân vật. Tuy nhiên, những luận điểm
đƣa ra còn đƣợc đánh giá chung chung và có phần còn đơn giản.
2.2. Sau năm 1945
Sau Cách mạng tháng Tám, trong thời đại lịch sử mới, những ý kiến
đánh giá về nghệ thuật Tự lực văn đoàn nói chung và tiểu thuyết Nhất Linh
nói riêng có ảnh hƣởng sâu sắc. Thời kì kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946-1954), trong xu thế khẳng định của nền văn học Cách mạng,
Đoạn tuyệt (1935) với những cái đƣợc coi là uỷ mị, sầu thảm cũng nhƣ ý thức
đề cao cá nhân của văn học lãng mạn, các nhà nghiên cứu hầu nhƣ không lƣu
tâm tới những tác phẩm của Nhất Linh, phải tới sau những năm 1954, chúng
mới đƣợc nghiên cứu trở lại. Nhƣng do tình hình chính trị của đất nƣớc mà
việc nghiên cứu về Nhất Linh cũng đƣợc chia thành hai bộ phận theo hai miền
Nam – Bắc.
Trên thực tế, lối phê bình thời kì này chủ yếu dựa trên quan điểm xã hội
ái tình, dục tình, trỗi dậy trong lòng Nhung” [24, tr 463].
Ý kiến có thể là hơi quá đề cao, song qua đó, chúng tôi nhận thấy các
nhà nghiên cứu phê bình ở đây đã chỉ ra đƣợc những đổi mới về phƣơng diện
nghệ thuật thể hiện nhân vật của Nhất Linh ở hai thể loại tiểu thuyết.
Ở miền Bắc, các công trình của nhóm Lê Qúy Đôn (Lược thảo lịch sử
văn học Việt Nam, tập 3 – từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1945, 1957), của Bạch
Năng Thi – Phan Cự Đệ (Văn học Việt Nam 1930 – 1945, tập 1, 1961), bài
viết của Nguyễn Đức Đàn (Mấy ý kiến về Nhất Linh và Khái Hưng – Hai nhà
văn tiêu biểu trong Tự lực văn đoàn, 1958) đã cho thấy một cách nhìn
khách quan về tiểu thuyết của Nhất Linh.
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
7
Nhóm Lê Quý Đôn nhận xét rằng với tiểu thuyết Tự lực văn đoàn “cả
một thế giới tâm tình trƣớc kia hé mở một cách rụt rè, e lệ, bây giờ đƣợc phơi
bầy mổ xẻ tinh vi” [12, tr 296], “Nhất Linh thành công ở cách bố trí truyện,
cách sử dụng cảnh vật xung quanh để làm nổi bật tâm lí nhân vật” [12, tr
331]. Bạch Năng Thi trong cuốn Văn học Việt Nam 1930 - 1945 đã khẳng
định: “Nhất Linh ngó sâu vào mâu thuẫn trong tâm hồn; tấn bi kịch âm ỉ, đôi
lúc bùng ra, luôn luôn có sức hấp dẫn” [32, tr 107]. Do nhìn nhận tác phẩm
văn học theo quan điểm xã hội học nên nhìn chung, các ý kiến đánh giá của
các nhà nghiên cứu cả hai miền Nam - Bắc phần lớn rơi vào phán xét tiểu
thuyết của Nhất Linh theo quan điểm đạo đức xã hội. Nhƣng một số ý kiến đã
đề cập đến sự đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Nhất Linh, trong đó có nghệ
thuật xây dựng nhân vật.
Bƣớc vào giai đoạn sau Đại hội Đảng VI (1986); trong xu thế đổi
mới, một số hiện tƣợng văn học quá khứ đƣợc nhìn nhận, đánh giá lại và đƣợc
đánh giá toàn diện hơn, trong đó nổi bật lên là những tác phẩm của Nhất Linh.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Phan Cự Đệ (Tự lực văn đoàn
- con người và văn chương), Hà Minh Đức (Các bài giảng về Đoạn tuyệt ,
sắc cạnh, tâm lý nhân vật còn đơn giản” [5, tr 115]. Ngô Văn Chƣơng cho
rằng ở Đoạn tuyệt có những chi tiết vô lý, không hợp quy luật tình cảm “Loan
đang nghĩ tới Dũng sao lại âu yếm với Thân ngay đƣợc” [3, tr 173]. Dƣơng
Thị Hƣơng cũng chỉ ra mặt hạn chế trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của
Nhất Linh trong tiểu thuyết tâm lý: “Nhân vật đƣợc miêu tả trong thế giới cô
lập, khép kín, vì vậy quá trình tâm lý hoặc các trạng thái tâm lý của nó đƣợc
nhìn nhận bởi cái nhìn chủ quan của tác giả và nhân vật nhiều hơn bởi sự tác
động của hoàn cảnh” [18, tr 148]. Tất cả những công trình đó đã cho thấy sức
sống mạnh mẽ của văn chƣơng Nhất Linh. Thời gian càng lùi xa thì độ sáng
của hiện tƣợng văn học mà ta đang xem xét dƣờng nhƣ lại sáng hơn lên, diện
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
9
mạo của những nhân vật nòng cốt trong tiểu thuyết của Nhất Linh lại càng
hằn bóng nơi tâm trí chúng ta. Đó chính là bằng chứng khẳng định sức sống,
sự trƣờng tồn của văn chƣơng Nhất Linh. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với những
công trình trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề chống phong kiến, tính dân chủ,
cá nhân, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ là những mảng đƣợc chú ý nhiều.
Còn hình tƣợng ngƣời phụ nữ có đƣợc xem xét nhƣng còn tản mạn, chƣa có
hệ thống, chủ yếu là để chứng minh cho nội dung trung tâm của văn đoàn đó
là chống lễ giáo phong kiến mà phụ nữ là nạn nhân tiêu biểu.
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ là hình ảnh quen thuộc và là đề tài quan trọng
trong văn học dân tộc ta. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn văn học lại có những cách
phác họa hình tƣợng này khác nhau. Nhà văn Nhất Linh đã xây dựng nên một
hệ thống nhân vật nữ độc đáo, rất hiện thực ở hai giới tuyến: một phái “nệ cổ”
là những phụ nữ đại diện cho xã hội cũ, chịu ảnh hƣởng nặng nề của giáo lý
Khổng, Mạnh và phái đối lập là những cô “gái mới” tân thời theo tƣ tƣởng
phƣơng Tây. Cuộc chiến giữa hai phái này làm cho tiểu thuyết của Nhất Linh
trở nên hấp dẫn ngƣời đọc. Qua những trang viết về họ, nhà văn đã bộc lộ tài
năng cũng nhƣ tƣ tƣởng tiến bộ của mình.
nữ Việt Nam trong văn học đồng thời thấy đƣợc những giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm.
Về mặt thực tiễn: Khóa luận là một tƣ liệu thiết thực trong học tập và
nghiên cứu, giảng dạy các tác phẩm của Nhất Linh ở trƣờng phổ thông, cao
đẳng và đại học.
8. Bố cục của khóa luận
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận còn có 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Giới thuyết chung.
Chƣơng 2. Ngƣời phụ nữ - số phận và khát vọng sống chính đáng
Chƣơng 3. Một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
11
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1. Nhất Linh và quan điểm văn học
1.1.1.Thân thế
Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tƣờng Tam, sinh ngày 25 tháng 7 năm
1905 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng, nguyên quán làng Cẩm Phô,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông nội là Nguyễn Tƣờng Tiếp, làm quan
đến tri huyện. Cụ có ngƣời con trai duy nhất là Nguyễn Tƣờng Nhu làm thông
phán nên thƣờng gọi là Thông Nhu, hay Phán Nhu. Ông Nhu mất năm 1918
khi mới 37 tuổi. Ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sâm, có đƣợc 7 ngƣời
con: Nguyễn Tƣờng Thụy, Nguyễn Tƣờng Cẩm, Nguyễn Tƣờng Tam (Nhất
Linh), Nguyễn Tƣờng Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tƣờng
Lân sau đổi thành Nguyễn Tƣờng Vinh (Thạch Lam), Nguyễn Tƣờng Bách.
Gia đình Nhất Linh sống ở Cẩm Giàng, một huyện nhỏ. Cha ông mất
sớm, cả nhà lâm vào cảnh khó khăn. Từ bé, anh em Nhất Linh đã tiếp xúc với
những ngƣời nông dân nghèo khổ, điều đó ảnh hƣởng đến văn học của Nhất
Năm 1932, cùng một số ngƣời khác, Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa
của Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai. Ông chủ trƣơng dùng tiếng cƣời
trào phúng để đả kích lễ giáo phong kiến, hô hào "Âu hóa" và đề cao chủ
nghĩa cá nhân. Nhất Linh làm giám đốc kiêm quản lý tờ báo Phong Hóa.
Năm 1933, Nhất Linh thành lập nhóm Tự lực văn đoàn gồm có các
thành viên: Nhất Linh (Nguyễn Tƣờng Tam), Khái Hƣng (Trần Khánh Giƣ)
còn gọi là Nhị Linh, Hoàng Đạo (Nguyễn Tƣờng Long), Thạch Lam (Nguyễn
Tƣờng Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Xuân Diệu
(Ngô Xuân Diệu). Đây là trung tâm tập hợp phong trào văn nghệ lãng mạn,
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
13
tuyên truyền cho một cuộc cách tân văn học, cho phong trào Âu hóa chống lại
lễ giáo và quan trƣờng phong kiến.
Tự lực văn đoàn đã tiếp thu ảnh hƣởng của văn học phƣơng Tây,
phƣơng Đông, của truyền thống văn học dân tộc để xây dựng một nền tiểu
thuyết văn học hiện đại. Tổ chức này có công rất lớn trong việc đổi mới văn
học vào những năm 30 của thế kỉ XX. Đó là sự đổi mới về quan niệm xã hội,
từ mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, quan niệm thẩm mĩ cho đến việc
đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đƣờng hiện đại hóa, làm cho ngôn
ngữ văn học trở nên trong sáng và giàu có hơn. Công cuộc đổi mới đó đã diễn
ra dƣới những ảnh hƣởng của trào lƣu triết học phƣơng Tây và phƣơng Đông,
nhất là của văn học Pháp.
Những tác phẩm chính của Nhất Linh nhƣ tiểu thuyết: Gánh hàng hoa
(viết cùng Khái Hƣng, 1934); Đời mưa gió (viết cùng Khái Hƣng, 1934);
Nắng thu (1934); Đoạn tuyệt (1934 - 1935); Lạnh lùng (1935 - 1936); Đôi
bạn (1936 - 1937); Bướm trắng (1938 - 1939); Xóm cầu mới (1949 - 1957);
Giòng sông Thanh Thủy (1960 - 1961) tác phẩm cuối cùng, gồm ba tập: Ba
người bộ hành, Chi bộ hai người,Vọng quốc.
Tập truyện: Nho phong (1924), Người quay tơ (1926), Anh phải sống
thuyền văn chƣơng trƣớc tiên là để chở đạo. Văn học trƣớc hết có chức năng
truyền đạt, rồi mới đến việc phát hiện, khám phá. Đối tƣợng văn học không
phải là cuộc sống thực mà là khuôn vàng thƣớc ngọc của lễ giáo phong kiến
và đạo đức truyền thống, đạo nho. Đó là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của ngƣời
quân tử; là công, dung, ngôn, hạnh của ngƣời phụ nữ.
Ông quan niệm cái đẹp là hoàn hảo, toàn diện, tuyệt đối, thống nhất với
cái có ích, đề cao cái đẹp nội dung hơn hình thức. Cuộc sống đƣợc đánh giá
qua con mắt đạo lý, nhân vật đƣợc xây dựng theo chuẩn mực đạo đức của lễ
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
15
giáo phong kiến, phân chia thành hai tuyến nhân vật độc lập nhƣng rõ ràng
nhƣ: tốt - xấu; thiện - ác; trung hiếu, tiết nghĩa - bất trung, bất nghĩa…
1.1.3.2. Sau năm 1932
Năm 1927, khi tìm đƣợc cơ hội ông đã có chuyến du học ở các nƣớc
phƣơng Tây và có những thay đổi trong quan niệm xã hội và văn chƣơng của
mình. Lúc này, Nhất Linh có khát vọng về một sự nghiệp văn chƣơng hơn
ngƣời, ông không muốn sống cuộc đời của một công chức nhà nƣớc bảo hộ
“Sáng vác ô đi, tối vác về”. Ông đã từng tâm sự với Hồ Trọng Hiếu: “Tôi
không có ý trở thành ông tham, ông đốc… nhƣ ai. Nguyện vọng tha thiết của
tôi là đƣợc viết văn, làm báo, sống bằng ngòi bút của mình, sống bằng nghề tự
do ngoài vòng kiềm tỏa” [16, tr 522].
Trong những tháng ngày du học, ngoài việc học ở nhà trƣờng, ông còn
để ý đến đời sống xã hội Pháp, những nét mới của văn chƣơng nghệ thuật,
nhất là vai trò của tiền phong báo chí. Những kiến thức đƣợc trực tiếp thâu
nhận từ nền văn hóa phƣơng Tây nói chung và văn học Pháp nói riêng đã giúp
Nhất Linh có những thay đổi trong quan niệm về xã hội và văn chƣơng. Ông
đã sớm nhận ra những trì trệ của xã hội Việt Nam đƣơng thời và mong muốn
xây dựng một nền văn học mới. Ông không còn ca ngợi tƣ tƣởng đạo nghĩa
phu – phụ theo quan niệm của lễ giáo phong kiến nhƣ trong các tác phẩm:
chất liệu cụ thể mà chúng ta có thể ngắm nghía, thƣởng ngoạn, tƣởng tƣợng;
qua đó thấy đƣợc tƣ tƣởng, tình cảm của tác giả.
“Hình tƣợng nghệ thuật” có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên
nhiên hay một sự kiện xã hội đƣợc cảm nhận. Nhƣng nói đến hình tƣợng nghệ
thuật, ngƣời ta thƣờng nghĩ tới hình tƣợng con ngƣời với những chi tiết biểu
hiện cảm tính phong phú. Đến với thế giới văn học, ta đƣợc gặp gỡ rất nhiều
hình tƣợng: hình tƣợng ngƣời nông dân, hình tƣợng ngƣời phụ nữ, hình tƣợng
ngƣời anh hùng… Có khi đó là hình tƣợng nghệ thuật cụ thể nhƣ hình tƣợng
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
17
nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, hình tƣợng
Thúy Kiều trong kiệt tác “Truyện Kiều” bất hủ….
“Hình tƣợng nghệ thuật” chính là yếu tố kết tinh giá trị tƣ tƣởng, tình
cảm của tác giả, là nhân vật trung tâm của tác phẩm văn học với những đặc
điểm cơ bản nhƣ:
Trƣớc hết, “hình tƣợng nghệ thuật” là một khách thể tinh thần đặc thù
bởi nó tồn tại độc lập với ý thức chủ quan của nhà văn, độc lập với ý muốn
của ngƣời đọc, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con ngƣời. “Hình tƣợng
nghệ thuật” gợi ra một thực thể toàn vẹn, sống động nhƣ thật, có diện mạo
riêng, cá biệt, đặc thù, không giống nhau. Nó còn là một loại kí hiệu đặc biệt
để nhà văn thể hiện quan điểm, gửi gắm tƣ tƣởng của mình vào đời sống. Hơn
thế, hình tƣợng nghệ thuật là một quan hệ xã hội thẩm mĩ với tính tạo hình và
biểu hiện, tính nghệ thuật.
Xuất hiện nhƣ một yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học, hình tƣợng
nghệ thuật với tƣ cách là phƣơng thức tồn tại của nghệ thuật sẽ xác định đặc
trƣng trọn vẹn của nghệ thuật, chính là qua những hình tƣợng nghệ thuật sống
động các mặt đối tƣợng và nội dung chính của tác phẩm văn học sẽ đƣợc bộc
lộ một cách trọn vẹn trong sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Bởi lẽ, hình
tƣợng nghệ thuật chính là phƣơng tiện thể hiện tập trung ý đồ tác giả, các giá
“Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Lời bến hỏi thuyền phải chăng là lời tự nhủ, lời thổ lộ tình yêu bền
vững trƣờng tồn của ngƣời con gái với ngƣời mình thƣơng. Đó còn là ngƣời
phụ nữ thủy chung, luôn một lòng một dạ thƣơng chồng, hƣớng về chồng:
“Chồng em áo rách em thƣơng
Chồng ngƣời áo gấm xông hƣơng mặc ngƣời”
Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Lạnh lùng của Nhất Linh
Đỗ Thị Ngọc K36C – SP Ngữ văn
19
Trong truyện cổ dân gian ta lại đƣợc chiêm ngƣỡng hình ảnh cô Tấm
xinh đẹp, hiền thảo, nết na. Cô chính là minh chứng, là hiện thân cho ƣớc mơ
về lẽ sống của ngƣời xƣa: “Ở hiền gặp lành / Ác giả ác báo”.
Xã hội phong kiến với những lễ giáo hà khắc đã vùi dập bao số phận,
kiềm tỏa bao ƣớc mơ, hạnh phúc của con ngƣời đặc biệt là ngƣời phụ nữ. Họ
trở thành đối tƣợng đƣợc các nhà văn tập trung khắc họa và dành nhiều tình
cảm nhất, là hình tƣợng tiêu biểu cho những số kiếp bi đát, bế tắc trong xã
hội. Đó là những ngƣời phụ nữ “hồng nhan”, “tài hoa” nhƣng “đa truân” và
“bạc mệnh”.
Các nhà thơ của trào lƣu nhân văn chủ nghĩa trong văn học Việt Nam
nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX đã dành những trang viết xúc động nhất,
đẹp nhất cho ngƣời phụ nữ. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trở thành nữ hoàng của
văn học với vẻ đẹp toàn thiện, toàn mĩ. Vẻ đẹp của họ đƣợc phản ánh rõ nét
trong các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu cho nền văn học trung đại:
Nguyễn Du, Nguyễn Dữ, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hƣơng Qua những
trang văn, trang thơ họ hiện lên không phải là vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp
truyền thống của ngƣời phụ nữ Việt Nam mà còn là những số phận chịu nhiều
bất hạnh, thua thiệt. Họ là những thiếu nữ với vẻ đẹp hoàn mĩ nhƣ Thúy Vân,
Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Những đức tính truyền thống của
ngƣời phụ nữ nhƣ nết na, thùy mị, thuỷ chung son sắt của đƣợc thể hiện rõ
1.2.2.2. Hình tượng người phụ nữ hiện đại
Trƣớc đây trong quan niệm truyền thống, cái đẹp của ngƣời phụ nữ
thƣờng đƣợc chú ý, coi trọng và đề cao ở vẻ đẹp bên trong còn vẻ đẹp bên
ngoài không đƣợc chú trọng nhiều, thậm chí còn có tƣ tƣởng coi thƣờng: “Cái
nết đánh chết cái đẹp” hay “Tốt gỗ hơn tốt nƣớc sơn”. Nhƣng trong thời kì
hiện đại, thƣớc đo đánh giá nét đẹp của ngƣời phụ nữ có nhiều sự thay đổi
quan trọng. Một ngƣời phụ nữ đẹp phải là ngƣời vừa có cái đẹp về tâm hồn,
phẩm chất, đức hạnh lại vừa có cái đẹp về thể chất, hình thức bên ngoài.