hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của thiết ngưng - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Hòa

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Hòa

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. Đinh Phan Cẩm Vân

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


LỜI TRI ÂN
Khóa luận này là thành quả của những năm tháng gắn bó với văn chương của
tôi tại trường ĐHSP –ĐHQG TPHCM. Để hoàn thành khóa luận, ngoài nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của những người thân yêu.

1.2.2. Sự nghiệp sáng tác ....................................................................................23
1.2.3. Quan niệm của Thiết Ngưng về tiểu thuyết .............................................26
1.3. Người phụ nữ - Đề tài lớn trong sáng tác của Thiết Ngưng ...........................30
1.3.1. Người phụ nữ thôn quê .............................................................................31
1.3.2. Người phụ nữ thành thị ............................................................................37
TIỂU KẾT................................................................................................................43
Chương 2. VẺ ĐẸP TÂM HỒN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT
THIẾT NGƯNG ..................................................................................44
2.1. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân ........................................................45
2.1.1. Ý thức cá nhân của người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc ....................45
2.1.2. Người phụ nữ giàu cá tính ........................................................................49
2.2. Khát vọng vươn tới những giá trị chân chính .................................................74
2.2.1. Khát vọng dung hòa giữa bản năng và lí trí .............................................74
2.2.2. Niềm tin vào con người và hy vọng ở cuộc sống phía trước ...................86
2.2.3. Khát vọng yêu đẹp, sống đẹp ...................................................................88
TIỂU KẾT................................................................................................................94


Chương 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ ..96
3.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình ........................................................................97
3.1.1. Ngoại hình qua điểm nhìn trần thuật ........................................................98
3.1.2. Ngoại hình qua điểm nhìn của nhân vật đối diện .....................................99
3.2. Nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật ...........................................................106
3.2.1. Nghệ thuật miêu tả xung đột nội tâm .....................................................108
3.2.2. Ngôn ngữ nhân vật .................................................................................130
KẾT LUẬN ............................................................................................................160
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................164
PHỤ LỤC ...................................................................................................................1



Có thể nhận xét thẳng thắn rằng, nền văn học Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng
của các luồng văn học ngoại lai, đặc biệt là từ Pháp, Mỹ. Điều này rất dễ hiểu bởi
Trung Quốc đã có thời gian dài trở thành “miếng bánh ngọt” khá ngon dưới sự đô
hộ của các nước này. Từ tháng 12/1984 đến tháng 1/1985 đã diễn ra Đại hội đại


2

biểu hội nhà văn Trung Quốc, đồng chí Đặng Tiểu Bình, Tổng bí thư Ban chấp
hành Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ tuyên bố khẩu hiệu “Tự
do sáng tác”. “Nhà văn có đầy đủ tự do lựa chọn đề tài, chủ đề và phương pháp
biểu hiện nghệ thuật” [15]
Sau Cách Mạng Văn Hóa, xã hội Trung Quốc từ trong đau thương bước ra,
nhìn nhận lại chính mình, người phụ nữ cũng bước chân vào một xã hội mới với
tâm thế mới. Họ có điều kiện bộc lộ khát vọng thầm kín của mình, họ sống chân
thực hơn, mạnh mẽ hơn, và tất nhiên khát vọng của họ cũng không đi quá xa với
những giá trị nhân bản của con người. Các nhà văn đã sớm nhận thức được điều
này, hình tượng người phụ nữ đến với họ như một nguồn cảm hứng dạt dào, bất tận.
Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của Thiết Ngưng là một sự tiếp nối
nguồn cảm hứng ấy. Tuy nhiên trong sự khai thác của mình về hình tượng người
phụ nữ, nhà văn Thiết Ngưng đã có nhiều thành tựu mới đáng ghi nhận. Người phụ
nữ trong sáng tác của Thiết Ngưng là những con người rất bản năng nhưng cũng rất
lí trí. Họ không tuân theo sự sắp đặt trước của số phận mà luôn muốn vươn lên tìm
cho mình một cuộc sống mới trong khả năng có thể. Trong quá trình vươn lên đó,
họ phải trải qua biết bao đau thương, mất mát nhưng cũng nhờ đó mà họ trưởng
thành hơn, chín chắn hơn. Sự “lột xác” của người phụ nữ phản ánh một xu thế mới
trong xã hội – xu thế người phụ nữ dần làm chủ chính bản thân và cuộc sống của
mình. Hơn nữa “đi sâu vào thế giới tác phẩm của Thiết Ngưng như đi vào một
vườn hoa tâm linh rộng mở vô bờ, ở đó có hoa thơm và rộn tiếng chim, với những
nhân vật có xương có thịt và cả tầng tầng chúng sinh không được con người chú ý.

trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng cũng là một động thái góp tiếng nói ủng hộ của
chúng tôi đối với người phụ nữ trong phong trào tự giải phóng mình – “phong trào
bình định giới”. Người phụ nữ hoàn toàn có quyền làm chủ bản thân, làm chủ số
phận và tự tin vào tài năng (trong cái nhìn ngang bằng với nam giới) để đóng góp
công sức của mình vào sự nghiệp chung của đất nước, của nhân loại. Chúng tôi
đồng tình với cái nhìn của nhà văn Thiết Ngưng về người phụ nữ - người phụ
nữ hiện đại năng động, thông minh, bản lĩnh luôn đấu tranh để được sống
đúng với bản chất, khát vọng chân chính của mình. Họ đã đứng vững và luôn
khẳng định mình trước nam giới, tiếng nói mạnh mẽ của họ là tiếng nói khẳng


4

định “nữ quyền” trong xu thế mới của thời đại. Họ xứng đáng được tôn vinh,
ca ngợi và đáng được tin yêu, trân trọng.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước hết, chúng tôi điểm qua về tình hình tác phẩm của Thiết Ngưng đã
được dịch ra tiếng Việt :
• Tiểu thuyết Cửa Hoa Hồng được ra đời vào năm 1988 là cuốn tiểu thuyết đầu
tiên, đã làm thay đổi hẳn phong cách và chủ đề trong sáng tác của nhà văn Thiết
Ngưng. Thông qua mô tả sự cạnh tranh, tàn sát lẫn nhau của mấy thế hệ phụ nữ,
Thiết Ngưng muốn phơi bày những mặt tha hóa, xấu xa và đau thương trong cuộc
sống ở thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa. Tác phẩm được dịch giả Sơn Lê dịch ra Tiếng
Việt và được xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng quyền xuất bản giữa Nhà xuất
bản Phụ Nữ và nhà văn Thiết Ngưng vào tháng 9 năm 2003.
• Tiểu thuyết Những Người Đàn Bà Tắm ra đời vào năm 2000 miêu tả số phận và
sự trưởng thành về thế giới tinh thần của một phụ nữ, tác phẩm được độc giả hoan
nghênh nhiệt liệt khiến tên tuổi Thiết Ngưng đã vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc.
Tác phẩm cũng được dịch giả Sơn Lê dịch ra tiếng Việt và xuất bản lần đầu tiên tại

những tìm tòi trên trở nên tự nhiên và toàn bộ vẫn toát lên một cốt cách cổ điển.”
Với Vương Trí Nhàn thì đây quả là một sự đối thoại giữa cũ và mới, giữa cổ điển và
hiện đại. Điều này cho thấy nhà phê bình Vương Trí Nhàn đánh giá rất cao những
đổi mới trong sáng tác của Thiết Ngưng.
Cũng trong lời bạt này, tác giả viết: “Dù chỉ viết về những chi tiết có vẻ đời
thường khi đọc lại tiểu thuyết như “Những Người Đàn Bà Tắm” người ta vẫn thấy
không khí gọi là Cách mạng ở Trung Quốc hai chục năm, chúng cắt nghĩa tính cách
con người Trung Hoa hiện đại”. Vương Trí Nhàn mong muốn: “… trong hoàn
cảnh của một người viết phê bình văn học loanh quanh ở Hà Nội và không đọc
được bao nhiêu, sao tôi vẫn muốn tin rồi tác phẩm này của Thiết Ngưng sẽ không bị
phôi pha rất nhanh như nhiều cuốn sách “nổi loạn” đương thời. Mà, không biết
chừng, sẽ gia nhập vào kho tàng cổ điển của nền văn học Trung Hoa vốn giàu
truyền thống lịch sử”.
Báo Công An Nhân Dân số ra thứ Tư, ngày 9/4/2008 đăng bài Nữ Văn sĩ
Thiết Ngưng thiên vị người cùng giới của tác giả Lê Huy Tiêu có viết: “Nhiều tác


6

phẩm của Thiết Ngưng thành công trong việc miêu tả vẻ đẹp của phụ nữ. Đó không
phải là vẻ đẹp yếu đuối của những người con gái kiểu xưa mà là vẻ đẹp khỏe
khoắn.” […] “Trong "Đại Dục Nữ", ngoài việc ca ngợi vẻ đẹp thuần phác thanh tú
và miêu tả dục vọng sinh tồn của những người con gái ra, tác giả tiếp tục phê phán
thái độ vô trách nhiệm của những người đàn ông”.
Nhân dịp tái bản lần thứ nhất tác phẩm Những Người Đàn Bà Tắm, báo Sài
Gòn Tiếp Thị và báo Tuổi Trẻ cũng cho đăng hai bài viết giới thiệu về cuốn sách
này. Hai bài viết đó có tên Những Người Đàn Bà Tắm – thách thức khuôn mẫu của
tác giả Nguyễn Hữu Trâm Anh và Những Người Đàn Bà Tắm – cuộc chiến giữa lý
trí và bản năng của tác giả Đỗ Phước Tiến. Như tên hai bài báo, hai tác giả này đã
đề cập đến hình ảnh người phụ nữ hiện đại trong Những Người Đàn Bà Tắm luôn

đem đến cho độc giả Việt Nam cái nhìn mới mẻ, táo bạo và đầy cá tính nhưng cũng
không kém phần nữ tính của các nhân vật nữ. Từ đây, những bài cảm nhận, những
nhận xét và phê bình cũng tập trung nhiều vào tác phẩm này. Đối với tiểu thuyết
Cửa Hoa Hồng (Dịch –xuất bản tháng 9 năm 2003), Thành Phố Không Mưa (Dịch
– xuất bản tháng 3 năm 2004) và tập truyện ngắn Chơi Vơi Trời Chiều (Dịch - Xuất
bản quý I năm 2006) chỉ được giới thiệu hoặc điểm thoáng qua về nội dung của tác
phẩm. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rất ít bài viết đi sâu vào nghiên cứu một
cách toàn diện về hình tượng những người phụ nữ trong các tác phẩm này.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Thiết Ngưng là nhà văn có tên tuổi trên văn đàn Trung Quốc, theo sự hiểu
biết của chúng tôi thì hiện nay các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của bà đã
được giới thiệu một cách khái quát trong giáo trình văn học đương đại Trung Quốc,
dạy học ở các trường Đại Học trong nước như “Giáo trình lịch sử văn học đương
đại”, cuốn hai, do Trần Tư Hòa chủ biên được dạy ở trường Đại Học Phúc Đán. Mặt
khác, các tác phẩm của bà còn được thể hiện ở một số bài cảm nhận, phê bình hoặc
một số bài giới thiệu ở mục điểm sách, xuất hiện trên các tạp chí, nhà xuất bản tại
Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, … Đặc biệt là sau khi bà được bầu vào chức vụ Chủ
Tịch Hội Nhà Văn Trung Quốc (2005) – vị nữ chủ tịch đầu tiên và trẻ nhất từ trước
đến nay của tổ chức này, sự kiện đó đã gây sự chú ý lớn trong giới báo chí và giới
phê bình văn học Trung Quốc lúc bấy giờ. Báo mạng cũng có những bài giới thiệu,


8

những nhận định về sáng tác của nhà văn, đồng thời điểm lại những thành công
cũng như những dấu ấn mang phong cách trong các tác phẩm của bà. Do quá trình
thu thập tài liệu còn nhiều hạn chế, nguồn tham khảo chính của chúng tôi khi tìm
hiểu về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Thiết Ngưng (tại Việt Nam cũng như
trên Thế giới) giới hạn ở giáo trình văn học đương đại Trung Quốc (bản tiếng Hoa)
của Đại Học Phúc Đán, Phê bình văn học đương đại Trung Quốc do Trần Minh Sơn

yêu thương con người bằng cả trái tim yêu thương của mình, phanh phui đến tận
cùng thế giới tâm linh và trạng thái sinh tồn của nhân vật … […] Trong nhiều năm
qua bà như một thầy phù thủy có sức cảm thụ nhạy bén và trí tưởng tượng phong
phú, khả năng khám phá sâu sắc … Hiếm thấy trên văn đàn một nhà văn cuốn hút
người đọc lâu bền đến thế ”.
[Trích Nhân Dân Nhật Báo - Trung Quốc, ngày 07/03/2001]
Cùng trên tờ Nhân Dân Nhật Báo Trung Quốc, số ra ngày 07/03/2001 có
đoạn viết về cách sáng tác của Thiết Ngưng:
“… Bất cứ một kỳ tích nào cũng có thể thấy ở Thiết Ngưng, bởi trong nhiều
năm qua, bà như một thầy phù thủy có sức cảm thụ nhạy bén, đầu óc tưởng tượng
phong phú, khả năng khám phá sâu sắc, trình độ hiểu biết và phân tích hiếm có,
cùng kỹ xảo tinh tế đã liên tiếp cho người đọc những tác phẩm ưu tú với những sắc
màu và vẻ đẹp khác nhau, có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Từ những tác phẩm thời kỳ đầu
như “Ôi! Hương Tuyết”; “Tấm Áo Đỏ Không Cúc”; tiếp theo là “Cửa Hoa Hồng”;
“Thành Phố Không Mưa”; “Đụn Bông”; “Người Đàn Bà Chửa Và Con Bò”; “Đối
Diện” và gần đây là “Vĩnh Viễn Không Xa”; “Những Người Đàn Bà Tắm” … của
bà luôn luôn được người đọc trân trọng đón nhận”
Ngoài ra, rải rác ở các công trình nghiên cứu về văn chương của Thiết
Ngưng cũng đề cập đến tiểu sử, cuộc đời cũng như những đặc trưng, phong cách
nghệ thuật và những cách tân trong kỹ thuật viết văn của bà mà chúng tôi sưu tầm
từ các website trên Internet (có giá trị tin cậy) sẽ được chúng tôi sử dụng vào luận
văn và được liệt kê trong phần thư mục tham khảo.
Tất nhiên, đây là những cố gắng bước đầu của chúng tôi trong tiếp cận với
tài liệu tiếng Trung Quốc để tìm hiểu về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Thiết
Ngưng. Bởi vì những năm gần đây, chắc chắn sẽ còn nhiều bài viết, bài tiểu luận,
phê bình hay luận văn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ … nghiên cứu về Thiết Ngưng mà


10



Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính
sau đây:
4.1. Phương pháp tiểu sử
Văn học phản ánh đời sống hiện thực, đời sống tâm hồn, tính cách và tư
tưởng tình cảm của con người. Trong đó, phần trải nghiệm từ đời sống của chính tác
giả ít nhiều có liên quan đến nội dung tác phẩm. Do đó, khi nghiên cứu tác phẩm
của Thiết Ngưng, chúng tôi cũng nhận thấy có nhiều chi tiết liên quan đến đời sống
thật của bà. Bối cảnh xã hội, gia đình và đời sống nội tâm của tác giả là những yếu
tố có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và cảm hứng sáng tác của nhà văn. Vì thế, khi tiếp
cận tìm hiểu đời sống thực của nhà văn Thiết Ngưng đã giúp chúng tôi hiểu và lý
giải được ý nghĩa và diễn biến tâm lý nhân vật trong tác phẩm của bà.
4.2. Phương pháp so sánh
Chúng tôi so sánh hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của Thiết Ngưng
với tác phẩm viết về người phụ nữ của các tác giả đương thời khác để thấy được sự
tương đồng và dị biệt. Bên cạnh đó, chúng tôi có sử dụng phương pháp liên ngành
giữa văn học và điện ảnh để thấy được quá trình tiếp nhận tác phẩm của Thiết
Ngưng trong những lĩnh vực nghệ thuật khác.
4.3. Phương pháp tổng hợp
Từ những phân tích so sánh trên, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp
để tổng kết vấn đề. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thao tác thống kê, đối chiếu,
phân loại, loại hình, phân tích, tổng hợp…
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần: Dẫn nhập - Nội dung - Kết luận, trong đó phần nội
dung là phần chính của luận văn.
DẪN NHẬP: Giới thiệu những vấn đề khái quát về lí do chọn đề tài, những công
trình nghiên cứu trước đó đối với nhà văn Thiết Ngưng và các tác phẩm của bà, giới
hạn phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn.
NỘI DUNG: gồm 3 chương.


đề tài lớn trong các sáng tác của Thiết Ngưng. Chúng tôi sẽ khái quát cả hai đối
tượng: Người phụ nữ thôn quê và Người phụ nữ thành thị.
Chương hai: VẺ ĐẸP TÂM HỒN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT
THIẾT NGƯNG
Để làm rõ vẻ đẹp tâm hồn Người phụ nữ trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng,
chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề về ý thức cá nhân của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến qua một số tác phẩm văn học truyền thống và nhân vật nữ trong các
sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn v.v…, để từ đó thấy được sự kế thừa, sự phát triển, sự
thức tỉnh của ý thức cá nhân người phụ nữ hiện đại trong sáng tác của nhà văn Thiết
Ngưng. Từ đây chúng tôi sẽ tập trung phân tích vẻ đẹp đầy cá tính, vẻ đẹp bản năng
và lí trí của người phụ nữ với khát vọng vươn tới những giá trị chân chính: Khát
vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc, khát vọng làm chủ bản thân, hòa với xu thế đổi
mới của xã hội hiện đại.
Chương ba:

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ
NỮ

Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày những thủ pháp nghệ thuật
đặc sắc được nhà văn Thiết Ngưng sử dụng hiệu quả trong xây dựng hình tượng
nhân vật nữ. Chúng tôi sẽ chú ý đến nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật:
Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật như xung đột nội


13

tâm, ngôn ngữ nhân vật (ngôn ngữ độc thoại, ngôn ngữ đối thoại), thủ pháp dòng ý
thức v.v…
KẾT LUẬN: Phần kết luận khái quát lại những vấn đề tác giả, tác phẩm, khẳng
định sự đóng góp của tác giả và tác phẩm với nền văn học đương đại Trung Quốc,

nghệ, nhận định rằng trên mặt trận văn nghệ, giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội chỉ
chiếm được một vị trí rất nhỏ, phần lớn trận địa văn nghệ do chủ nghĩa phong kiến,
chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xét lại chiếm giữ. Nhận định đó đã gây chấn động lớn
trong giới văn nghệ sĩ. Tiếp theo đó là cuộc “chỉnh phong” nhằm phê phán các văn
nghệ sĩ tiêu biểu. Nhà soạn kịch nổi tiếng Điền Hán trong kịch bản Kinh kịch Tạ


15

Giao Hoàn có nhắc lời của Võ Tắc Thiên: “Nước nâng thuyền mà cũng lật thuyền”
đã bị quy tội là “kêu gọi quần chúng lật đổ chuyên chính vô sản”. Điền Hán bị quy
là “nhà văn chống Đảng”. Nhiều văn nghệ sĩ tiêu biểu lúc bấy giờ như Hạ Diễn,
Dương Hán Sênh, Mao Thuẫn, Mạnh Siêu … đều bị phê phán. Từ đầu năm 1964,
phong trào phê phán lan ra các lãnh vực triết học, kinh tế học, sử học, giáo dục
học,…
Ngày 10/11/1965, Văn Hối Báo (Thượng Hải) đăng bài của Diêu Văn
Nguyên 1 phê phán vở kịch Hải Thụy Bãi Quan của tác giả Ngô Hàm Ứng (Phó chủ
tịch hội sử học Trung Quốc, chủ tịch hội sử học Bắc Kinh) gây chấn động lớn trong
các giới học thuật, văn nghệ. Cuộc phê phán, quy kết đối với giới học thuật và văn
nghệ sĩ những năm đầu thập kỷ 60 là nhằm tạo dư luận để chuẩn bị Cách Mạng Văn
Hóa. Bài báo của Diêu Văn Nguyên phê phán vở kịch Hải Thụy Bãi Quan của tác
giả Ngô Hàm Ứng là phát súng hiệu mở màn cho cuộc “Đại Cách Mạng Văn Hóa
Vô Sản” sau đó.
Sở dĩ Ngô Hàm Ứng viết Hải Thụy Bãi Quan là do hưởng ứng sự phát động
của Mao Trạch Đông vào năm 1959 – Tuyên truyền học tập theo chủ trương của
Hải Thụy, nhưng vì Bàng Đức vẫn hoài bão trên hội nghị Lư Sơn với chính sách
“Đại Nhảy Vọt” nên đã bày tỏ một số ý kiến phê bình quyết liệt với Mao Trạch
Đông để tranh chức Bộ trưởng quốc phòng. Khang Sinh và Giang Thanh đã mượn
nội dung của vở kịch Hải Thụy Bãi Quan và ý kiến của Bàng Đức tác động đến
Mao Trạch Đông, thúc đẩy Mao Trạch Đông nhận định vở kịch này có ý nghĩa “ám

hợp từ đường lối văn nghệ và tổ chức văn nghệ, hai phương diện này đã phủ định
hoàn toàn lịch sử và hiện trạng của văn nghệ mới. Điều này đã làm nên cuộc thanh
trừng thảm hại trong giới văn nghệ sĩ và ảnh hưởng cực hại cho sự phát triển của
văn nghệ sau này.
Tháng 4 năm 1966, để thực hiện được hội nghị kỷ yếu này, Lâm Bưu đã ủy
quyền cho Giang Thanh triệu tập mở cuộc họp công tác văn nghệ quân đội bàn bạc
về việc ra kỷ yếu, lấy hình thức văn kiện của Trung Ương Cộng Sản Đảng phát
động đến toàn Đảng.
Trong hội nghị thảo luận kỷ yếu này, cái gọi là “Đề cương tháng 2” được
hình thành, nó hoàn toàn đối lập và phủ định những đóng góp của các tác giả sau
này. Nội dung “Đề cương tháng 2” đã cường điệu vấn đề học thuật của tác giả Ngô
Hàm Ứng trong Hải Thụy Bãi Quan. Đồng thời khẳng định vai trò tuyệt đối của
Giang Thanh trong việc lãnh đạo hoạt động của giới văn nghệ .


17

Từ đầu những năm 1960 cho đến sau này, Giang Thanh chiếm một vị trí
quan trọng trong giới văn nghệ, được đề cao và được coi như là một hiện tượng nổi
bật của giới, điều này bộc lộ rõ những biến động mới. Nhưng thực chất nó là một sự
tiếp nối của phong trào “chống phái hữu” 2 ở thời kỳ “ngũ tứ” vào những năm 1957
trở đi.
Tháng 5 năm 1966, tại hội nghị Cục chính trị Trung ương mở rộng, Hồ Trần,
Lục Định, La Thoại Khanh, Dương Thưởng Côn bị coi là “tập đoàn phản Đảng”,
“Đề cương tháng 2” cũng bị xoá bỏ, nguyên “văn cách ngũ nhân tiểu hổ” cũng bị
giải tán và thống nhất thông qua. Khang Sinh, Trần Bá Đạt tiến hành soạn thảo và
Mao Trạch Đông tiến hành thẩm duyệt, chỉnh sửa thành “Trung Ương Cộng Sản
Trung Quốc Ủy Viên Thông Tri” tức “Thông Tri 516” [44; 164]. Đây cũng là lần
đầu tiên biểu đạt một cách hoàn chỉnh lý luận cách mạng dưới chế độ chuyên chính
giai cấp vô sản của Mao Trạch Đông. Ba tháng từ sau Thông Tri 516 “Đại Cách

Phong Anh, Thái Sợ Sinh, Trịnh Quang Lý; Các nhà văn Triệu Thụ Lý, Điền Hán,
Ngô Hàm Ứng, Dương Tường, Giang Kiệt, Ngụy Kim Chi, Trần Tường Hạc, Tiêu
Đế Mộc, Hại Mạc, …Tùy theo “văn cách” được triển khai mà các nhà văn, nhà
nghệ thuật bị phê đấu, ép hại, … Sự nghiệp văn nghệ Trung Quốc đương thời đứng
trước những khó khăn, thử thách rất lớn, thậm chí nó còn phải đối đầu với những tai
họa, thảm họa .
Thấy rõ được sức mạnh của lực lượng văn hóa tư tưởng truyền thống (sau
khi “thanh trừng” xong), Giang Thanh tuyên bố “vô sản hóa giai cấp văn nghệ tân
kỷ nguyên” được bắt đầu, đồng thời dùng quyền lực ép các lực lượng trí thức, lực
lượng sáng tác phải “đấu tranh phục vụ cao độ cho chính trị hóa”. Khái niệm hóa về
sáng tác văn nghệ, mọi sáng tác trong “văn cách” đều phải xuất bản công khai. Nhìn
tổng thể văn học thời kỳ này phát triển một cách cô lập, “hoang vu”, tuy nhiên cũng
có những giai đoạn ngắn văn nghệ cũng có sự biến hóa nhưng chủ yếu vẫn là gắn bó
mật thiết với sự kiện chính trị đương thời.
“Văn cách” từ lúc bắt đầu cho đến những năm 1970, chính phủ đề xướng
“cách mạng như bản kịch”, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm văn
nghệ. Giang Thanh là người đích thân đào tạo những “văn nhân đích thực” để tạo ra
cái gọi là “tác phẩm cách mạng hiện đại”. Đến năm 1975 số lượng “văn nhân” đã
lên đến 18 người, trong đó có kinh kịch chiếm 11 người. Hoạt động sáng tác các tác
phẩm văn nghệ cách mạng do Giang Thanh chỉ đạo, chủ yếu đả đảo tất cả những tác
phẩm ngoại văn, văn hóa truyền thống trong thời đại lúc bấy giờ. Tuy số lượng
những tác phẩm ấy không nhiều nhưng những tác phẩm ấy được công khai lưu hành


19

thông qua các hoạt động sân khấu biểu diễn, đài phát thanh, điện ảnh và văn học
ngôn ngữ, … Nhà nước đã thống chế, tuyên truyền, cưỡng hành trong toàn dân và
hình thành khẩu hiệu “ba đột xuất”, “ba kết hợp” đối với quan niệm hình thức hóa
trong sáng tác văn học [44; 165]. Đây đều là lý luận cưỡng hành cho “văn cách kỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status