1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Khoa sau đại học
&
trần thị cẩm vân
Hình tợng tác giả
trong thơ Nguyễn Công Trứ
Chuyên ngành: lý thuyết & Lịch sử văn học
Mã số: 5.04.01.
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh, 2002
*****
2
Lời nói đầu
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi
Văn, còn có tiểu huý là Củng. Ngời đơng thời kính trọng gọi ông là Uy Viễn tớng
công.
Cũng nh Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ là sự kết tinh tinh hoa của xứ địa
linh núi Hồng sông Lam, là ngời đã góp phần làm nên cả một truyền thống văn
hoá xứ Nghệ. Bản thân cuộc đời ông đã mang rất nhiều chất truyện, chất thơ.
Tôi ngỡng vọng ông ngay từ lần đầu tiên đợc hiểu về chí nam nhi, nợ tang
bồng, hiểu đợc khát vọng lập nên danh nghiệp trong đời của ông. Mục đích sống,
1.3. Nguyễn Công Trứ là một tác giả có vị trí quan trọng trong chơng trình
văn học ở học đờng. Nghiên cứu vấn đề này đề tài còn hy vọng thiết thực góp
phần phục vụ giảng dạy thơ văn Nguyễn Công Trứ ở trờng phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
2.1. Trớc hết, với một cái nhìn tổng quan về Nguyễn Công Trứ trên lịch trình
nghiên cứu ở thế kỉ qua, có thể thấy cho đến nay có khoảng 30 công trình và bài
viết về con ngời và thơ văn Nguyễn Công Trứ. Quả là thành tựu nghiên cứu về
Nguyễn Công Trứ cha tơng xứng với tầm vóc của ông ( dẫu rằng công sức và
đóng góp của các nhà nghiên cứu là vô cùng quý giá, đáng trân trọng)
2.2. Trong tầm bao quát t liệu của bản thân, chúng tôi nhận thấy vấn đề hình
tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ là một vấn đề cha đợc đi sâu nghiên cứu.
Trong số các công trình đã đợc công bố, chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến các
công trình sau: 1. Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Trơng Chính, (1958), Thơ văn
Nguyễn Công Trứ, Nxb. Văn hoá, Hà nội. 2.Nguyễn Lộc, (1978), Văn học Việt
Nam (nửa cuối thể kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb. Đại học và trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội.
3. Nhiều tác giả, (1996), Nguyễn Công Trứ - con ngời, cuộc đời và thơ, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội. 4. Lại Nguyên Ân (1997), Từ điển
văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX), Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 5.
Trần Ngọc Vơng, (1999), Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Nxb Đại học
Quốc gia, Hà Nội.
Có thể thấy, trong số những công trình khảo cứu, tìm hiểu về Nguyễn Công
Trứ trên đây, trớc hết công trình của nhóm tác giả Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách,
Trơng Chính là công trình khảo cứu khá đầy đủ và có giá trị khoa học. Tuy nhiên
các tác giả chủ yếu xem xét thơ văn Nguyễn Công Trứ từ nội dung t tởng của tác
phẩm. ý niệm về hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ cha hề định hình.
Rất đáng chú ý là bài giới thiệu đã phát hiện đợc ở Nguyễn Công Trứ có con ngời hữu chí và con ngời hành lạc. Ngoài ra bài giới thiệu còn chỉ ra tính chất hiện
thực ẩn chứa trong những bài thơ về nhân tình thế thái, "cái không khí phóng
khoáng" "không chịu gò mình vào khuôn sáo", giọng điệu "chân thành, say
đắm" trong các bài ca trù hoặc thơ tình của Nguyễn Công Trứ. Theo các tác giả
Nguyễn Công Trứ sáng tác "nhiều nhất và hay nhất là các bài ca trù", bên cạnh
ngời nghệ sĩ: " Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam một nhà thơ tự nói về mình
bằng một đại từ ở ngôi thứ 3 (ông). Nghĩa là tác giả nhìn mình nh một kẻ khác,
"Có vẻ Nguyễn Công Trứ đã đi rất gần với một quan niệm về sự phân thân, trong
con ngời có thể có hai, ba con ngời khác nhau". Phạm Vĩnh C chỉ xét riêng về thơ
hành lạc của Nguyễn Công Trứ, nhận thấy Nguyễn Công Trứ đã "khẳng định nhu
cầu hởng thụ của con ngời, nâng nó lên thành cả một triết lý có sức thu phục
nhân tâm", ở Nguyễn Công Trứ, hành đạo, hành lạc luôn song song tồn tại và tất
cả đều là Sự chơi, cuộc chơi. Phạm Vĩnh C cũng phát hiện sự khách thể hoá
bản thân của nhà thơ: "Nguyễn Công Trứ vừa giễu cợt ngời đời vừa giễu cợt bản
thân mình. Tiếng nói tự trào xuyên suốt qua sáng tác của Nguyễn Công Trứ từ
buổi thiếu thời đến tuổi già nua.
Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ
XIX) nhận thấy trong văn thơ của Nguyễn Công Trứ có "những chí khí khát vọng
của kiểu anh hùng thời loạn", "cái cốt cách tài tử phong lu", "nét nổi bật ở thơ
văn Nguyễn Công Trứ là sự khẳng định mạnh mẽ cá nhân nh một thực thể xã hội
và riêng t với ít nhiều giá trị tự tại và khát vọng tự do. () sự khẳng định và tự
khẳng định "chí nam nhi" ở Nguyễn Công Trứ mạnh mẽ khác thờng nh là dự báo
sự xuất hiện con ngời cá nhân ở văn học thế kỷ XX".
4
5
Trần Ngọc Vơng xét riêng một loại hình tác giả văn học: nhà nho tài tử và
xếp Nguyễn Công Trứ là một trong 13 nhà nho tài tử của văn học Việt Nam. Xét
về thể loại, ngôn ngữ văn học, Trần Ngọc Vơng đánh giá rất cao thể thơ ca trù
của Nguyễn Công Trứ, xem đó là đỉnh cao, "đạt tới giá trị cổ điển trong toàn bộ
lịch sử văn học dân tộc Việt Nam".
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết đã điểm qua trên đây
cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của tác giả trong thơ.
4.3. Khảo sát đặc trng Hình tợng tác giả Nguyễn Công Trứ trên phơng diện
hình thức thể hiện- giọng điệu và ngôn ngữ của tác giả.
6
Cuối cùng rút ra một số kết luận về sự hình thành và đặc sắc độc đáo của
Hình tợng tác giả trong sáng tác Nguyễn Công Trứ, khẳng định những đóng góp
của ông cho lịch sử văn học dân tộc qua đặc sắc của Hình tợng tác giả.
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Hình tợng tác giả là vấn đề thể hiện cái độc đáo cá nhân, thể hiện cái Tôi
trong ý thức nghệ thuật và ý thức xã hội của tác giả, luận văn xuất phát từ quan
điểm phong cách học nghệ thuật, loại hình học tác giả văn học, vận dụng nhiều
phơng pháp khác nhau nh thống kê, phân tích, so sánh, loại hình, hệ thống để
tìm hiểu nghiên cứu vấn đề.
6. Đóng góp và Cấu trúc của luận văn:
6.1. Đóng góp:
6.1.1. Luận văn là công trình đầu tiên khảo sát một cách công phu Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ với một cái nhìn hệ thống toàn diện,
khẳng định đây là một yếu tố cơ bản quan trọng hàng đầu hình thành nên phong
cách nhà thơ.
6.1.2. Ngoài ra đề tài với phơng pháp nghiên cứu nh đã nêu có thể gợi mở
hoặc làm sáng tỏ ít nhiều một hớng tiếp cận mang tính hữu hiệu về hiện tợng tác
giả văn học Nguyễn Công Trứ.
6.1.3. Kết quả nghiên cứu cũng có thể đợc vận dụng vào công tác giảng
dạy Nguyễn Công Trứ cũng nh thơ văn ông ở học đờng nhất là ở trờng phổ thông.
6.2. Cấu trúc
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong
3 chơng:
Chơng 1: Nhận diện đặc điểm loại hình tác giả và khái niệm về hình tợng
phát triển cao hơn (TBCN). Khái niệm thời trung đại có thể đợc vận dụng vào
lịch sử và văn học phơng Đông, tuy nhiên cần tính tới các yếu tố đặc thù của từng
khu vực và quốc gia. Thời trung đại ở Việt Nam đợc xác định từ thế kỉ X cho đến
hết thế kỉ XIX.
Văn học Trung đại Việt nam hình thành và phát triển trong bối cảnh xã hội
phong kiến Việt nam thời trung đại (từ thế kỉ X cho đến hết thế kỉ XIX). Nó vừa
mang những đặc điểm chung của loại hình văn học trung đại ( khái niệm văn
học đợc hiểu rất rộng, bao gồm tất cả những thể văn có vị trí trong các quan hệ
xã hội; văn học chịu sự chi phối sâu sắc của t tởng kinh điển và tôn giáo; có mối
quan hệ chặt chẽ với văn hoá- văn học dân gian; tính ớc lệ tợng trng cao và thành
hệ thống bền vững; tính chất song ngữ ( Theo khảo sát và tổng hợp của nhiều
nhà nghiên cứu nh D.X.Likhatrôp, B.L.Riptin, R.Wellek và A.Warren,Trần Đình
Sử [35] )vừa mang những đặc điểm riêng in đậm bản sắc Việt Nam.
Chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, mỹ học phong kiến, và truyền
thống t tởng văn hoá dân tộc, văn học trung đại Việt nam có một hệ thống thi pháp
chặt chẽ từ cách cảm nhận về thế giới, về con ngời và ý thức về cái Đẹp trong cuộc
sống đến hình thức ngôn ngữ thể hiện. Lực lợng sáng tác và công chúng của văn
học cũng khác hẳn với lực lợng sáng tác và công chúng văn học thời hiện đại. Hệ
thống thi pháp của văn học trung đại mang tính quy phạm hết sức chặt chẽ, sáng
tác theo những thể loại, những khuôn thớc, mô hình định sẵn
Văn học trung đại Việt nam là loại hình văn học chủ yếu do nhà s và nhà
nho viết trong đó nhà nho vẫn là lực lợng cơ bản (loại hình tác giả nhà s xuất
hiện chủ yếu ở giai đoạn Lí-Trần), đợc viết bằng một thứ chữ khối vuông (chữ
Hán và chữ Nôm). Xét về mối quan hệ giao lu ta dễ nhận thấy văn học trung đại
Việt nam chịu mối giao lu ảnh hởng trong khu vực với trung tâm ảnh hởng là văn
hoá văn học Trung Hoa.
Quá trình vận động và phát triển của văn học trung đại Việt nam trải dài từ
thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Việc phân kì văn học trung đại Việt nam cho đến
tác các thể loại khác nhau sẽ tuân theo các hình tợng tác giả khác nhau. Họ đặc
biệt coi trọng sự trau chuốt hình thức tới mức điêu luyện, thành thạo nh một nghệ
nhân.
Trong quá trình nghiên cứu văn học trung đại, các nhà nghiên cứu có đa ra
nhiều cách phân loại loại hình tác giả khác nhau nhng chung quy có hai cách cơ
bản.
Cách thứ nhất : nhìn tác giả từ góc độ loại hình-loại thể văn học. ở cách nhìn
này này ta có kiểu tác giả thơ và kiểu tác giả văn. Một điều dễ nhận thấy là kiểu
tác giả thơ có trớc và phổ biến hơn kiểu tác giả văn bởi giai đoạn văn học trung
đại thơ ca phát triển rầm rộ và là đóng góp chính cho thành tựu văn học dân tộc
trong lúc sự đóng góp của văn có phần khiêm tốn hơn. Tuy vậy cách phân chia
này vẫn cha phản ánh hết đợc đặc trng nghệ thuật của từng kiểu tác giả cũng nh
t tởng, quan điểm sáng tạo của họ.
9
Cách phân loại thứ hai : xuất phát từ ý thức hệ t tởng, văn hoá. Ta có các
kiểu tác giả : Thiền gia, Đạo gia và Nho gia. Kiểu tác giả Thiền gia xuất hiện trên
văn đàn trong giai đoạn văn thơ Lý-Trần và có nhiều thành tựu nổi bật, về sau vai
trò của kiểu tác giả này phai mờ dần. Việc kiểu tác giả Thiền gia chỉ giữ đợc vai
trò nổi bật trong văn thơ giai đoạn Lý-Trần cũng có nguyên do từ điều kiện văn
hoá, t tởng, chính trị của thời đại. Trong giai đoạn đó dù vẫn tồn tại thế Tam giáo
đồng nguyên song Phật giáo lại đóng vai trò quốc giáo. Các nhà s đợc tham gia
vào triều chính và trở thành rờng cột quốc gia. Sự thăng hoa của Phật giáo ảnh hởng mạnh mẽ đến văn học. Có rất nhiều bài kệ ở chốn tu hành giàu rung cảm với
tạo vật, với con ngời, với nhân dân và cuộc sống nơi trần thế. Nhà thơ thiền nhìn
ra không trong thế giới vạn pháp, tìm thấy thế giới siêu nghiệm trong thế giới
kinh nghiệm nhng không hề phủ nhận sự sống[35,122]. Thiền biểu hiện trong
thơ là sự phát hiện thế giới linh không bằng trực giác. Mà đã bằng vào trực giác
thì phải dựa vào quá trình cảm nhận tự nhiên, không thể cố tình, phải tự tại, yên
Có thể thấy trong văn học trung đại Việt Nam, vai trò ảnh hởng, chi phối
của Nho giáo là rất lớn. Theo Trần Đình Hợu Nho giáo ảnh hởng trực tiếp đến
văn học qua thế giới quan của ngời viết. Cách Nho giáo hiểu quan hệ giữa thiên
đạo và nhân sự, sự tồn tại của trời, sự chi phối của Đạo, Lý, của Mệnh; cách Nho
giáo hình dung thực tế, vạn sự, vạn vật và lẽ biến dịch; cách Nho giáo hiểu cổ
kim (lịch sử); cách Nho giáo hình dung xã hội, sự quan trọng đặc biệt của cơng
thờng, đòi hỏi con ngời có trách nhiệm, có tình nghĩa, chi phối cảm xúc, cách
suy nghĩ, làm cho con ngời quan tâm hàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế đạo,
nhân tâm, băn khoăn nhiều về lẽ xuất xử () ở nhà nho Tâm hết sức quan
trọng. [12, 51-52].
Cũng theo Trần Đình Hợu và một số nhà nghiên cứu khác nh Trần Ngọc Vơng [42], Lại Nguyên Ân [2] thì trong quá trình vơn lên làm một hệ t tởng chính
thống của một thể chế chính trị, Nho giáo đã triển khai trong thực tế hai định hớng ứng xử rõ rệt: hành đạo và ẩn dật, tạo ra hai mẫu ngời cơ bản của nhà Nho ngời hành đạo và ngời ẩn dật. Nhà nho hành đạo về cơ bản đợc thể chế hoá thành
bộ máy quan liêu của triều đình chuyên chế. Họ nắm giữ những vị trí chủ chốt
trong bộ máy quan lại và nỗ lực triển khai việc ứng dụng lí luận Nho giáo vào
quản lí xã hội. Nhà Nho ẩn dật không vớng bận với thân phận thần tử. Họ tự tách
mình ra khỏi những sinh hoạt chính trị, thậm chí nhiều lúc tự coi là đứng trên
mọi đổi thay của xã hội. Nếu nhà Nho hành đạo trong thực tế công việc phải sử
dụng học thuyết Pháp gia và càng về sau yếu tố Pháp gia hay yếu tố phi Nho
nói chung càng không ngớt gia tăng thì ở ngời ẩn dật cũng diễn ra một quá trình
từng bớc đi ra ngoài khuôn khổ của học thuyết Nho giáo. Khuynh hớng chung
của các nhà nho ẩn dật là đi từ Nho sang Trang. Tuy phân chia thành hai loại nhà
Nho nhng không có sự ngăn cách tuyệt đối giữa chúng mà ngợc lại thờng có sự
chu chuyển, sự đổi chỗ. Trong tâm hồn nhà Nho có hai nửa: hành và tàng; trong
xử sự của họ có hai khả năng: xuất và xử. Họ không nhất định gắn bó cuộc đời
của mình vào chỉ một trong hai khả năng nói trên.
Từ giữa thế kỉ XVIII xuất hiện hàng loạt những tên tuổi của một loại hình
nhà nho mới đợc đặc trng bởi những hoạt động không chính thờng trong mối
quan hệ với những tiêu chí của cái chính thống mà những đóng góp của họ là
không thể phủ nhận, không chỉ ở đời sống tinh thần ý thức mà cả ở những biến
dân, một môi trờng kinh tế- văn hoá phi cổ truyền. Có thể nhận thấy nh Trần
Ngọc Vơng rằng: Các nhà nho trong môi trờng phi cổ truyền nh thế sẽ thể hiện
những sắc thái t tởng, tình cảm cũng phi cổ truyền, tạo nên trong đời sống tinh
thần một luồng sinh khí mới, vừa thể hiện tính tất yếu của sự vận động của bản
thân cuộc sống, nhng cũng mâu thuẫn với những xác tín, những nguyên lý ứng
xử chính thống [35,69]
Nh vậy xết về lịch sử, xã hội Việt nam thế kỉ XVIII vừa vận động trong
khuôn khổ thể chế xã hội truyền thống, mặt khác vừa nảy sinh những định hớng
nhằm phá vỡ các khuôn khổ đó. Sự xuất hiện và phát triển của đội ngũ nhà nho
tài tử chịu sự quy định của các định hớng đối lập nhau nh đã trình bày ở trên.
Nhà nho tài tử trớc hết vẫn là nhà nho kể từ nguồn gốc xuất thân, học vấn và
quy trình đào tạo, lẫn hệ thống cơ bản trong nhân sinh quan và vũ trụ quan
[35,70]
Điểm khác biệt cơ bản giữa ngời tài tử với ngời hành đạo và ngời ẩn dật là ở
chỗ ngời tài tử coi tài và tình chứ không phải đạo đức làm nên giá trị con ngời. Chính thời đại đã làm mọi ngời cảm thấy các giá trị của nó bị đứt tung không
tài nào cứu vãn nổi. T tởng thị dân đô thị đã thức dậy ý thức cá nhân của con ngời. Nhng con ngời càng ý thức về mình lại càng cảm thấy nh tất cả chới với, sụp
đổ. nh ta không còn có thể dựa vào bất kì giá trị nào có sẵn. Chỗ dựa duy nhất
của anh ta chỉ có thể là cái tài của mình. Chữ Tài từ chỗ là một từ kiêng kị của
thời đại trớc trở thành một ý niệm động lực của thời đại mới. [26,62]. Ngời tài tử
quan niệm tài nhiều cách. Có thể là tài học vấn, kinh luân, trị nớc nhng nhất thiết
phải có tài văn chơng nhả ngọc phun châu, tài cầm kì thi hoạ, những thứ nghệ
thuật tài hoa, gắn bó với tình nữa mới trở thành ngời tài tử.
12
Ngời tài tử cậy tài, mơ ớc không chỉ công danh phú quý mà còn lập nên
những sự nghiệp phi thờng: Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc (Nguyễn Công
Trứ) và Thay con Tạo xoay cơn khí số (Cao Bá Quát). Họ không trăn trở băn
khoăn nhiều về lẽ xuất xử, không chủ trơng lánh đờinh các nhà nho hành đạo,
của họ. Văn chơng của Nho giáo chính thống là một thứ văn chí thiện, phải
hoàn toàn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức, đợc đo bằng những thớc đo đạo
đức, Vì là để bộc lộ tâm, chí, thơ trở thành bộ phận lớn nhất, trữ tình trở thành
nét chủ đạo trong văn học. Nhng trữ tình không phải là bộc bạch cái Tôi cảm xúc
mà bộc bạch cái ta đạo lí (ngôn chí). Vì nhằm mục đích giáo hoá, văn học có
chức năng truyền đạt chứ không có chức năng phát hiện,phản ánh, nhận thức. Nó
13
hớng về bắt chớc, thể hiện Đạo chứ không cố gắng về mặt tìm tòi, sáng tạo hình
thức để mô tả, tái hiện thực tế. Đối với thực tế nó thiên về phẩm bình, tìm ý nghĩa
đạo lí hơn là băn khoăn tìm hiểu. [13]. Nhà nho hành đạo, một cách tự nhiên
gắn bó mật thiết với quan niệm văn học đó. Thứ văn chơng cử tử đợc trau dồi khi
còn là hàn nho đã trở thành công cụ chính trị, phơng tiện để thực thi giáo hoá cho
các nhà nho hành đạo. Những tác phẩm còn tồn tại đến sau này chỉ là con số
khiêm tốn trong toàn bộ sáng tác của họ.
Khác với sáng tác của nhà nho hành đạo, sáng tác của nhà nho ẩn dật không
bị ràng buộc vào yêu cầu giáo hoá trực tiếp. ở ngời ẩn dật chí thờng đồng
nghĩa với bất đắc chí nên chúng ta thờng tìm thấy ở họ những tâm sự, những xúc
cảm thành thực hơn, mang sắc thái chiêm nghiệm của con ngời cá nhân một cách
rõ ràng hơn. Tự nhận mình là ngời vụng về, bất tài, họ cho mình cái quyền chỉ
sống với thiên nhiên, hoa lá, cỏ cây. Ngời ẩn dật tự cho phép mình phóng túng
hơn trong sinh hoạt, có thể ung dung thởng thức cái đẹp của tạo vật, cái lạc thú
bình dị của cuộc sống: an nhàn, bình ổn, không vớng bận bổn phận, trách nhiệm.
Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Hàng đã vẽ nên cả một bầu
không khí thanh nhàn vui sớng khi bầu bạn cùng với thiên nhiên, thoả mãn với
những cuộc sống đạm bạc nơi thôn dã. Sáng tác của họ đi xa hơn sáng tác của
những nhà nho hành đạo, đa lại những phơng diện bổ sung không thể thiếu đợc
cho sự phát triển văn học.
loại hình tác giả Nguyễn Công Trứ.
1.1.2 Đến đặc trng loại hình tác giả Nguyễn Công Trứ.
Nguyễn Công Trứ là một kiểu nhà nho khá đặc biệt. ở ông, ta tìm thấy sự
đan xen pha trộn của các mẫu hình nhà nho. Nguyễn Công Trứ thể hiện cái chí
của nhà nho hành đạo đồng thời cũng thể hiện cả chất tài-tình của nhà nho tài tử.
1.1.2.1 Nguyễn Công Trứ nhà nho hành đạo, nhà thơ ngôn chí:
Nh đã trình bày ở phần trớc, nhà nho hành đạo là ngời xuất chính nắm giữ
trọng trách trong guồng máy xã hội. Thuở hàn nho họ đã nuôi chí giúp đời, giúp
nớc, coi đó là cách để lu danh muôn đời. Văn chơng của họ tất yếu sẽ thể hiện
cái chí lớn lao của họ. Trong kiểu tác giả này, việc ngôn chí đợc nêu lên hàng
đầu nh một yêu cầu tu dỡng, khẳng định lí tởng, lẽ sống. Nhà thơ coi trọng tính
độc lập của nhân cách,đặc biệt đề cao khí tiết thanh cao mạnh mẽ. Họ lấy việc tỏ
lòng làm chính, mà tỏ lòng thì cũng phải tỏ những gì lớn lao, những hoài bão,
khát vọng lớn lao chứ không phải những nỗi niềm riêng t, thầm kín.
Nguyễn Công Trứ là một đại quan của triều Nguyễn, là rờng cột của quốc gia
trong một thời gian dài. Sự nghiệp lớn lao này chính là hiện thực của một hoài
bão ông đã ôm ấp từ thuở hàn nho. Cái chí của ông đã đợc ông thể hiện trong thơ
nhng khác với nhiều ngời, ông hoạt động thực sự để thực hiện cái chí đó. Con ngời nhập thế, sôi nổi hoạt động ăn sâu trong tiềm thức của ông cho nên ông đã
từng có những hành động khác thờng. Khi còn là một th sinh 26 tuổi ông đã dâng
một bài điều trần gọi là Thái bình thập sách cho vua Gia Long khi vua tuần thú
qua Nghệ An năm 1803. Ông học văn chơng thơ phú nhng đồng thời cũng nghiên
cứu binh pháp và những kế sách cai trị. Một con ngời văn võ kiêm toàn, luôn
nghĩ đến việc phú quốc an dân nh vậy nhất định không thể ngồi yên. Khi đã đỗ
đạt làm quan ông đem hết sức mình ra để phụng sự cho lí tởng, hoài bão của
mình (cũng chính là lí tởng của các bậc nhà nho hành đạo phụng sự cho triều
đình phong kiến). Ông đã ghi dấu ấn trong lịch sử với hai công tích lớn: dẹp loạn
và khẩn hoang. Ông không quan tâm nhiều đến những bớc thăng trầm của hoạn
lộ bởi đối với ông đỗ thủ khoa, làm Tham tán, làm tổng đốc Đông chẳng qua
cũng là những phơng tiện để ông thực hiện hoài bão trí quân trạch dân của đạo
Nho mà ông mang sẵn từ khi còn là bạch diện th sinh.
mà giúp đời:
Trong lăng miếu ra tài lơng đống
Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tơng
Những điều ôm ấp trong lòng kẻ sĩ này thật to lớn. Phải là rờng cột nớc nhà, có
nh thế kẻ sĩ mới lu danh muôn đời và khẳng định đợc mình:
Trớc là sĩ, sau là khanh tớng
Có thể thấy rõ chân dung của một con ngời cầu tiến, cầu danh. Nhng danh ở đây
không phải là danh hão mà là cái danh đợc làm nên từ sự xông pha, gánh vác
trách nhiệm giữa thế gian. Ông đã từng khẳng định rằng: ngời ở đời không thể
không có sự nghiệp, lọt lòng mẹ đã có gánh quân thân rồi:
Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp
Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân
Lập công danh là điều kiện tất yếu của kẻ sĩ. Làm trai là phải thế: biết tu d ỡng,
biết cống hiến, biết cách biến những hoài bão lớn lao thành hiện thực. Có phỉ chí
tang bồng, đem đến sự yên bình cho nớc nhà rồi thì lúc đó mới đợc phép tìm đến
thú tiêu dao :
Tiêu dao nơi bàn cốc thâm sơn
Nào thơ, nào rợu, nào địch, nào đờn
16
Đồ thích chí đựng đầy trong một túi
Bài hát nói này đã thể hiện quan niệm về đờng đời của một kẻ sĩ. Một quan niệm
đầy tính hành động đầy sự hăm hở xông pha. Có thể xem Nguyễn Công Trứ là
mẫu nhà nho hành đạo điển hình nhất, luôn vơn tới một phong thái mạnh mẽ,
tráng niên nên thơ ngôn chí của ông cũng đợc thể hiện một cách rõ ràng, rành rẽ,
thẳng thắn. Thơ cũng nh ngời, luôn ào ào sôi nổi cho ta hình dung nói và làm
luôn song tiến.Tâm hồn ông luôn phơi phới, lạc quan:
Hữu chí công danh tài bất luỵ
phu. Ông dám tự tin so mình với nhân gian, so để khẳng định:
Trong cuộc trần ai ai dễ biết
Rồi ra mới biết mặt anh hùng.
(Đi thi tự vịnh)
17
Và đặc biệt trong bài Công khai thác nói về việc khẩn hoang của bản thân,
Nguyễn Công Trứ đã khen mình một cách không dấu diếm:
Phơng tri ngã quốc hữu nhân
(ấy mới biết nớc ta có ngời giỏi)
Để tự khen mình xứng đáng với ý nghĩa một con ngời nh thế không phải là dễ.
Phải có một sự đổi mới trong t tởng thì vấn đề mới có thể nảy sinh.
Một cái tài nữa là tài ăn chơi, hay nói cách khác là thú hành lạc của ông.
Các nhà nghiên cứu trớc đây đã nhận định một cách đúng đắn rằng trong các tác
phẩm, Nguyễn Công Trứ đã công khai nói về hành lạc, nói về những thú vui có
sức hấp dẫn vô cùng lớn: rợu chè, cờ bạc, ái tình. Giai thoại vẫn kể về một anh đồ
Trứ thờng làm kép hát theo hầu các cô đào trong các hội hát ca trù. Vẫn phong lu
và tình tứ khi bày mu trêu ghẹo ngời ta giữa đồng không:
Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự
Những đam mê đó đã đợc ông nâng lên thành cả một triết lí hành lạc:
Thú gì hơn nữa thú ăn chơi
Thú ăn chơi đó có thể gói gọn trong mấy việc đàn một cung, cờ một cuộc, thơ
một túi, rợu một bầu. Đọc thơ hành lạc, thơ nói về thú uống rợu, thú hát ả đào,
thú đánh tổ tôm của Nguyễn Công Trứ ta không thể không ngạc nhiên trớc cái
khẩu khí hào mại,một cảm hứng sảng khoái mạnh mẽ không hề giả tạo mà tác
giả đã đa vào những chủ đề tởng chừng rất bình thờng, vặt vãnh ấy.
Cầm kì thi tửu, đờng ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay.
một định luật nổi tiếng:
Minh quân lơng tớng tao phùng dị
Tài tử giai nhân tế ngộ nan
Trong thơ, ông đã tự xem mình là quân tử đa tình, đã xem lối phong tình là
cách sống của kẻ phong lu: mợn phong tình mà trả nợ phong lu. Nhng cái sự
đa tình của ông không dừng lại ở những rung cảm, ở những sự xót thơng kiếp
hoa nghiêm nặng nợ, ở mối đồng cảm dẫu có sâu xa song vẫn ở mức khách khí
trừu tợng của những kẻ tri âm, tri kỉ. Cái tình của ông là ái tình thực sự. Yêu đơng, tơng t, nhớ thơng da diết cồn cào đến mứckhổ sở:
Đa tình là dở, đã mắc vào đố gỡ cho ra
Khéo quấy ngời một cái tinh ma
(Vịnh chữ tình)
Trong cái cốt cách đa tình của Nguyễn Công Trứ có cái tình của làng chơi với
yến yến, hờng hờng, có cái quá đà của tuổi già cới vợ hầu mà thi nhân đã
ngạo nghễ khoe khoang:
Xa nay mấy kẻ đa tình
Lão Trần là một với mình là hai
nhng cũng có những rung cảm hết sức chân thành, nồng nàn, nghĩa và tình hoà
quyện. Con ngời này thật không đơn giản một chiều.
Chữ tài, chữ tình đã làm nên bức chân dung đặc sắc của nhà nho tài tử
Nguyễn Công Trứ. Có ai tự nhận mình tài, có ai tự thể hiện sự đa tình của mình
một cách khá ồn ào, mạnh mẽ và thẳng thắn đến nh vậy ? Nhng đến đây lại phát
sinh một vấn đề khiến ta phải suy nghĩ. Nguyễn Công Trứ là nhà nho hành đạo
vào loại bậc nhất, đồng thời cũng là một con ngời tài tử vô song. Tại sao lại có sự
hoà hợp giữa hai luồng t tởng có vẻ trái ngợc nhau trong con ngời Nguyễn Công
Trứ ?
1.1.2.3. Tính phức tạp và thống nhất trong mẫu hình tác giả Nguyễn Công Trứ
Hầu nh trong suốt cuộc đời, trong cuộc sống cũng nh trong sáng tác, Nguyễn
Công Trứ vừa hành đạo, vừa hành lạc, vừa làm, vừa chơi. Giữa hành đạo
và hành lạc, giữa cái làm và cái chơi ở Nguyễn Công Trứ có sự gần gũi
thống nhất khá kì thú. Ta sẽ hiểu rõ hơn triết thuyết hành lạc trong thơ Nguyễn
đông. Nho giáo xây dựng một xã hội luân thờng. Trong xã hội đó con ngời không
phải là những cá nhân có thân thể, có dục vọng, có quyền lợi, có cá tínhmà là
những con ngời chức năng. Con ngời chức năng luôn phải giữ gìn khiêm tốn, cẩn
thận; từ nhìn ngó, ăn nói, hành động nhất nhất phải theo đúng phận, đúng vị,
đúng lễ, ra sức khắc chế dục vọng cho hợp đạo nghĩa. Con ngời chỉ cần học lễ
nghĩa, hiểu đạo lí, không cần tài mà cũng không cần trí. Đối với những ngời nh
Nguyễn Công Trứ nh thế có mỏi mệt quá không, có chật hẹp quá không? Hơn thế
nữa, vào vòng danh lợi bao nhiêu đố kị ghen ghét, dèm pha, xúc xiểm ,con ngời có yên ổn để khắc kỉ phục lễ đợc không?
Lão Trang lại xem cuộc đời này là phù du, là cảnh phù sinh chẳng phải nỗ
lực làm gì, cố gắng làm gì. Hãy cứ vô vi mà giao du với vạn vật hòa mình vào tự
nhiên, giữ lấy cái chất phác tự nhiên trong bản tính mà vui sống. Theo cách đó con
ngời sẽ đợc tự do, thoải mái, ung dung, tự tại theo kiểu vô sự tiểu thần tiên.
Quan niệm của đạo Nho vừa vạch ra cho Nguyễn Công Trứ con đờng danh vị
tiến thân lại vừa kìm hãm khí chất tự nhiên trong bản lĩnh con ngời. Quan niệm
của Lão Trang lại giúp ông trở lại với con ngời thật của mình. Nh vậy là hai
cách sống có vẻ đối lập nhau ấy đã tìm thấy sự thống nhất nh hai mặt của một
vấn đề. Sự thống nhất giữa chúng đem đến cho con ngời một sự cân bằng trong
20
đời sống tâm lí, tinh thần. Sự cân bằng đó chính là cội nguồn của sức mạnh, của
bản lĩnh để Nguyễn Công Trứ chống chọi với mọi thăng trầm của cuộc đời, để
vừa cống hiến, vừa hởng thụ, để đợc sống đúng với cái nghĩa đầy đủ, trọn vẹn
nhất. Không thể tách bạch đợc ở Nguyễn Công Trứ đâu là Nho, đâu là Trang bởi
sự thống nhất đã lên đến mức cao độ. Trở lại với bài Luận kẻ sĩ ta thấy ông xác
định rõ con đờng của kẻ sĩ: khi còn chờ thời thì nh thế nào, gặp thời thì nh thế
nào, sau khi hoàn thành phận sự rồi thì nh thế nào. Ngay nh trong vấn đề Nho
nhất là luận về cái chí của kẻ sĩ thì ông cũng đã nghĩ đến cái thú tiêu dao rồi:
Nhà nớc yên mà sĩ cũng thung dung
21
nghệ thuật qua tác phẩm. Vì vậy Tác giả nói chung, và Hình tợng tác giả nói
riêng là những vấn đề đang đợc dặt ra nghiên cứu.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Hình tợng tác giả là phạm trù thể hiện
cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác
phẩm () Cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái Tôi trong nhân cách
mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp. Cơ sở nghệ thuật của hình tợng tác giả trong
văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao
giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình. Nhà
văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tợng ngời phát
ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định[8]
Định nghĩa đã bám sát vấn đề cái Tôi, cái Tôi trong nhân cách cũng nh cái
Tôi trong nghệ thuật. Trớc hết chúng ta thấy rằng cái Tôi trong nhân cách góp
phần lớn vào khả năng, năng lực tự ý thức, tự đánh giá vai trò của cá nhân trong
cuộc sống. Cái Tôi do đó là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức của nhân cách, có thể
coi đó là trung tâm tinh thần, là cơ sở hình thành những tình cảm xã hội của con
ngời và xác định mặt cá tính của nhân cách. Cái Tôi với sự tự ý thức về chủ thể,
về các vấn đề đời sống cá nhân với t cách là một cá tính là điều không thể thiếu
đợc trong tác phẩm trữ tình. Nói cách khác, sẽ không có tác phẩm trữ tình nếu
thiếu đi sự ý thức về chủ thể của cái Tôi cá nhân. Từ cái Tôi nhân cách hình
thành nên cái Tôi nghệ thuật. Nh vậy sự tự ý thức của tác giả trong tác phẩm
chính là hạt nhân của hình tợng tác giả.
Điểm thứ hai đáng lu ý ở đây là việc Xây dựng ra hình tợng ngời phát
ngôn văn bản với một giọng điệu nhất định. Đây cũng chính là hệ quả của sự tự
ý thức của bản thân cái tôi nghệ thuật. Nhng ta cũng có thể thấy rằng hình tợng
ngời phát ngôn văn bản có thể chỉ là hình tợng khách quan nằm ngoài tác giả
mặc dù trong một chừng mực nhất định nó chính là nhân vật mang t tởng của tác
giả. Nói một cách khác hình tợng ngời phát ngôn văn bản cho ta một nhân vật
cái tôi nhà thơ trong cuộc sống.
Qua sự phân tích trên, có thể thấy rõ một số nội dung cơ bản. Thứ nhất là vai
trò của sự tự ý thức của cái tôi tác giả trong tác phẩm. Thứ hai là trong quá trình
xây dựng văn bản nhà văn đồng thời xây dựng ra hình tợng ngời phát ngôn văn
bản ấy với một giọng điệu nhất định. Nghĩa là đã có cái hạt nhân kết cấu của
hình tợng, đã có phơng tiện biểu hiện, hình thức biểu hiện của hình tợng. Nhng
vấn đề là ở chỗ cái tôi nghệ thuật là trung tâm của tất cả các vấn đề thuộc về tác
phẩm cũng nh loại hình tác phẩm và loại hình tác giả. Cho nên sự tự ý thức của
tác giả trong tác phẩm nghệ thuật về vai trò xã hội và vai trò văn học là một điểm
quan trọng nhng cha đặc trng. Cái đặc trng của hình tợng tác giả thiết nghĩ chính
là ở chỗ tác giả tự biến mình thành một hình tợng nghệ thuật, nghĩa là tác giả
hiện hình trong tác phẩm nh một nhân vật có đủ t tởng, quan điểm nghệ thuật, có
giá trị thẩm mỹ riêng.
Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng đã xét mục từ Hình tợng
tác giả, thừa nhận sự tồn tại của khái niệm Hình tợng tác giả gắn liền với sự phát
triển của nhân tố sáng tạo cá nhân, các phơng tiện nội dung của nhân cách tác giả
nhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm, xem xét hình tợng tác giả với t
cách là chủ thể tổ chức ngôn ngữ, ngời trần thuật hiện diện trong tác phẩm. Để
kết nối lời tự sự, lời trần thuật với hình tợng tác giả, trong ý thức nghệ thuật phải
xác lập đợc t tởng về quyền h cấu nghệ thuật là cái sẽ hợp thức hoá hình ảnh tác
giả. Cũng từ cách đặt vấn đề nh thế, Lại Nguyên Ân đa ra những nhận định về
dặc trng của Hình tợng tác giả qua từng thời kì văn học: giai đoạn đầu của văn
học cận đại, hình tợng tác giả phải nhuốm giọng phi cá nhân, chủ nghĩa lãng
mạn giải phóng giọng điệu cá nhân của tiếng nói tác giả, sau đó, ngôn từ trần
thuật của các nhà văn hiện thực lớn thế kỉ XIX đã đa vào văn học chiều sâu thầm
kín của thếgiới tâm hồn nghệ sĩ, đã đa vào văn học hình tợng tác giả thật sự.
Vinôgrađốp hiểu hình tợng tác giả trong hình tợng chủ thể của ngôn từ. Song
dẫu có xuất phát từ ngôn từ nghệ thuật ông cũng không thể bỏ qua đợc chiều
sâu thầm kín của tâm hồn nghệ sĩ. Có vẻ nh sự trình bày bám vào giọng điệu cá
Viện sĩ Nga V.Vinôgrađốp trong rất nhiều công trình đã khẳng định: Hình tợng tác giả là cơ sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ. Chichêrin cũng cho
rằng hình tợng tác giả đợc sáng tạo ra nh hình tợng nhân vật. Đây là sự chân thật
nghệ thuật, không phải là chân lí của sự kiện mà là chân lý của ý nghĩa, của t duy
nh chân lý của thi ca.
Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định vấn đề hình tợng tác giả không chỉ là sự
phản ánh tác giả vào tác phẩm, thể hiện tơng quan giữa con ngời sáng tạo ra văn học
và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể.
Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang đợc
nghiên cứu. Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp
độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, các quan niệm trong lập trờng đời
sống, đến giọng điệu lời văn. Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu ngời trần
thuật mà cả giọng điệu nhân vật. Có ngời tập trung thể hiện tác giả vào mấy điểm
: cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc cốt
24
truyện, nhân vật và giọng điệu. Theo một cách nhìn hợp lí thì Hình tợng tác giả
biểu hiện chủ yếu ở: cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán, có ý nghĩa t tởng, đạo
đức, thị hiếu; giọng điệu nhà văn gồm cả giọng điệu nhân vật; và ở sự miêu tả,
hình dung của tác giả về chính mình. [35,109]
Qua ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu có thể thống nhất đợc rằng Hình tợng
tác giả là một phạm trù quan trọng của nghiên cứ văn học. Nó đợc thể hiện trên
ba phơng diện cơ bản: T tởng, Cái nhìn; Giọng điệu và Sự tự thể hiện của chính
nhà văn trong tác phẩm
1.2.2. Khái niệm về hình tợng tác giả trong sáng tác NguyễnCông Trứ
1.2.2.1. Trong quá trình xét lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng ta đã có đợc
cái nhìn tổng quan về hớng nghiên cứu của các tác giả về Nguyễn Công Trứ và
sáng tác của ông. Có thể nói từ những năm 80 (thế kỉ XX) trở về trớc, quan điểm
nội dung xã hội học còn chi phối, ảnh hởng khá nặng nề trong nghiên cứu văn
25
vừa tạm lắng, Nguyễn Công Trứ và những nho sĩ nh ông nhìn vào triều đình nhà
Nguyễn nh một thể chế vững vàng, nuôi dỡng những giấc mộng công danh. Nhng
cái chí nam nhi truyền thống ấy lại phải đối đầu với t tởng thị dân của thời kì
manh nha hình thành các đô thị. Chịu ảnh hởng của hai luồng t tởng đó, cái nhìn
của Nguyễn Công Trứ về cuộc sống đã có sự biến đổi, cách quan niệm về cuộc
đời, về lẽ sống và về lí tởng đã khác trớc rất nhiều. Bởi thế sáng tác của ông cũng
mang những nét riêng. Bức chân dung về bản thân thông qua việc tự thể hiện
trong sáng tác cũng không còn nguyên mẫu, chuẩn mực của nhà nho lớp trớc.
Cũng vẫn chí khí ấy, Cũng vẫn gánh quân thân, gánh trung hiếu, phận sự
nam tử trong cuộc đời nh các cụ xa, nhng cách quan niệm thì đã khác. Ngời ta
không phải sống chết, toàn tâm, toàn lực với công việc ấy một cách mù quáng
nữa. Tất cả những sự nỗ lực ấy là nhằm để khẳng định mình chứ không phải vì
công danh phú quý. Thiết nghĩ đó cũng là điểm đặc biệt quan trọng, rất đáng chú
ý ở con ngời Nguyễn Công Trứ. Quan niệm đó tất yếu sẽ dẫn đến những cách
thức thể hiện riêng, tạo cho Nguyễn Công Trứ hệ thống ngôn ngữ và giọng điệu
riêng. Ngời ta sẽ đặt dấu hỏi là vì sao đến giai đoạn này thể loại hát nói lại phát
triển rầm rộ tạo thành thời kì hoàng kim của nó gắn với những tên tuổi nh Cao Bá
Quát, Nguyễn Công Trứ, và muộn chút nữa là Tản ĐàNếu lí giải từ góc độ thời
đại thì cha thể giải quyết trọn vẹn đợc vấn đề. Phải là điều kiện xã hội nh thế nào
để phản ánh vào t tởng con ngời, hoà hợp với thế giới quan của ngời nghệ sĩ
khiến ngời nghệ sĩ chọn cách biểu hiện đó. ở đây hình thức và t tởng đã tìm đợc
sự tơng hợp.
Nh vậy vấn đề hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ là một vấn đề
đang đợc đặt ra nghiên cứu, giải quyết theo một cách nhìn khoa học. Từ trớc tới
nay ai cũng cảm thấy thích thú văn chơng Nguyễn Công Trứ nhng để nói về
Nguyễn Công Trứ thì ở tầm nhận thức chung ngời ta cũng chỉ mới nắm bắt đợc