Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục Chính trị
========***========
Khóa luận tốt nghiệp
Tên đề tài:
Giải pháp phát triển kinh tế du lịch ở huyện Nghi
xuân tỉnh hà tĩnh
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Thu Hà
Ngời hớng dẫn khoa học: ThS .Nguyễn Thị Mỹ Hơng
Lớp
: 46A - Giáo dục chính trị
Vinh, tháng 5 năm 2009
Mục lục
Trang
Mở đầu.................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.............................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận...........................................3
4. Phạm vi và đối tợng nghiên cứu khoá luận.....................................................4
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của khoá luận.................................4
6. Những kết quả dự kiến đạt đợc của khoá luận................................................4
7. Kết cấu của khoá luận.....................................................................................5
trí ngày càng quan trọng. Du lịch không chỉ mang tính chất văn hoá - xã hội
mà còn đối với sự phát triển kinh tế. Do đó, Đảng ta rất coi trọng vai trò của
du lịch. Đại hội IX khẳng định: Phát triển du lịch thật sự trở thành một
nghành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lợng và hiệu qủa hoạt động trên cơ sở
khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên; sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử,
đáp ứng nhu cầu du lịch trong nớc và phát triển nhân du lịch quốc tế, sớm đạt
trình độ phát triển của khu vực [6, 178].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: Tiếp tục mở rộng và
nâng cao chất lợng các ngành dịch vụ truyền thống, nh vận tải, thơng mại, du
lịch, ngân hàng, bu chính viễn thôngkhuyến khích đầu t phát triển và nâng
cao chất lợng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại
hình du lịch [7, 202].
Hà Tĩnh là một Tỉnh giàu truyền thống cách mạng, nhiều di tích lịch sử
văn hoá, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú về tài nguyên du lịch
thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích lịch sử văn hoá
nổi tiếng. Hà Tĩnh cũng đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, Tỉnh cũng tập trung trong
công tác chỉ đạo điều hành hoạt động du lịch, xây dựng quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 1998 2010 với quan điểm: Phát triển
du lịch gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; quan điểm
phát triển du lịch bền vững; phát triển du lịch phải dựa trên sự phối kết hợp
chặt chẽ giữa các ngành.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của huyện nhà Huyện Nghi Xuân đã từng bớc chú trọng phát triển,
đẩy mạnh hoạt động du lịch dựa trên các tiềm năng sẵn có của vùng với các
loại hình du lịch: tắm biển, thăm quan các di tích lịch sử văn hoá, thởng
thức các loại hình văn hoá phi vật thể cùng với đó là các loại hình kinh
doanh du lịch cũng ngày càng tăng. Song hoạt động kinh tế du lịch của huyện
Nghi Xuân đang trong tình trạng sơ khai, mang tính tự phát, theo mùa vụ, kinh
doanh du lịch còn lẻ tẻ, cha có sự phối kết hợp chặt chẽ tạo thành các tour du
- Đổng Ngọc Minh Vơng Lôi Đình (2000), Kinh tế du lịch và du lịch
học, Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Hồng Giáp (2000), Kinh tế du kịch, Nhà xuất bản Trẻ.
- Nguyễn Văn Lu (1998), Thị trờng du lịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội.
- Phan Đăng Nhật (2000), Du lịch và lễ hội, Tạp chí cộng sản (10).
- Hoàng Sỹ Vinh (2007), Một số giải pháp chủ yếu tăng cờng công tác
quản lý hành chính nhà nớc về du lịch tại khu du lịch Xuân Thành, huyện
5
Nghi Xuân, Tiểu luận tốt nghiệp Trờng Chính trị Trần Phú Hà Tĩnh - K39,
Nghi Xuân.
Nhìn chung, các công trình nói trên đã tập trung phân tích các vấn đề:
- Lý luận chung về du lịch.
- Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế.
- Các quan điểm, phơng hớng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch.
Tuy nhiên, cho đến nay cha có đề tài nào đi sâu tìm hiểu các giải pháp
phát triển kinh tế du lịch ở huyện Nghi Xuân dới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận
3.1. Mục đích:
Khoá luận vận dụng lý luận về kinh tế du lịch vào việc phân tích, đánh
giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch của huyện Nghi Xuân. Trên cơ sở đó
đề xuất những phơng hớng và giải pháp phù hợp nhằm phát triển kinh tế du
lịch của huyện Nghi Xuân trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ:
Để đạt mục đích trên, khoá luận phải thực hiện đợc những nhiệm vụ sau
đây:
nhằm phát triển kinh tế du lịch ở huyện Nghi Xuân trong thời gian tới.
- Khoá luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên
cứu, giảng dạy liên quan đến lĩnh vực du lịch. Đồng thời, góp phần cung cấp
thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan ban, ngành trong tỉnh, huyện
tham khảo để hoạch định các chính sách nhằm phát triển kinh tế du lịch
một ngành kinh tế mũi nhọn của huyện nhà.
7. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khoá luận còn gồm 2 chơng, 4 tiết:
Chơng 1: Kinh tế du lịch và tình hình phát triển kinh tế du lịch ở huyện
Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh.
Chơng 2: Phơng hớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế du
lịch ở huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
7
Chơng 1:
Kinh tế du lịch và tình hình phát triển kinh tế du
lịch ở huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh
1.1. Một số vấn đề lý luận về kinh tế du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch, kinh tế du lịch và những đặc điểm chủ yếu trong
hoạt động kinh tế du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch và kinh tế du lịch
* Khái niệm du lịch
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã xuất hiện từ lâu, đợc ghi nhận nh là
một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngời. Ngay từ buổi
đầu, do điều kiện kinh tế kỹ thuật còn ở trình độ thấp kém, lạc hậu nên hoạt
hành để thoả mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn
hoá nhng lu động chứ không định c mà tạm thời c trú của mọi ngời dẫn tới
[8, 15]
Vào năm 1980, Tổ chức du lịch Quốc tế đã đa ra định nghĩa: Việc lữ
hành của mỗi ngời bắt đầu từ mục đích không phải di c mà một cách hoà bình,
hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về phơng diện kinh
tế, xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp
tác giữa mọi ngời [9, 12]. Định nghĩa này nhấn mạnh mục đích hoà bình của
việc du lịch, đồng thời nó cũng bao quát cả việc du lịch để vui chơi, tiêu
khiển, cũng nh bao quát cả việc du lịch vì công việc nhng chỗ khiếm khuyết
của nó là cha nhấn mạnh tới tính chất của du lịch, cũng cha thể phản ánh đầy
đủ tổng hợp khách quan hoạt động du lịch của ngời du lịch.
Đến năm 1985, I.Pirôginic lại đa ra định nghĩa: Du lịch là một dạng
hoạt động của các dân c trong thời gian nhàn rỗi liên quan tới di chuyển và lu
lại tạm thời bên ngoài nơi c trú thờng xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát
triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hoá hoặc thể thao
kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tài nguyên, kinh tế và văn hoá [10,
15].
Đối với nớc ta, du lịch đợc xem nh một ngành khá mới nên việc đa ra
một định nghĩa về nó cũng cần có sự nghiên cứu bởi có nhiều hiện tợng, hoạt
động núp dới bóng dáng du lịch ảnh hởng đến kinh tế, văn hoá, chính trị và
trật tự an toàn xã hội.
Chính vì vậy, Pháp lệnh Du lịch của Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội nớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vịêt Nam thông qua ngày 08/02/1999 đã khẳng
định: Du lịch là hoạt động của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của
mình nhằm thoả mãn nhu cầu khách quan, giải trí, nghỉ dỡng trong một thời
gian nhất định [23, 8]. Định nghĩa này trong Điều 4 của Luật Du lịch Việt
Nam (2005) đã khẳng định lại: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của mình nhằm đáp ứng
Trong Giáo trình Thống kê Du lịch, Nguyễn Cao Thờng và Tô Đăng Hải
chỉ cho rằng: Du lịch là một ngành kinh tế, xã hội, dịch vụ có nhiệm vụ phục
vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc không kết hợp với các hoạt
động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Bản chất kinh tế của du lịch là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hoá
phục vụ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của du khách và để
đáp ứng nhu cầu đó, ngành du lịch ra đời và dần dần trở thành một ngành kinh
10
tế độc lập chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nớc, cụ thể: Du lịch là một nhân tố của sự tăng trởng và phát triển kinh tế. Du
lịch là một ngành kinh tế Công nghiệp không ống khói quan trọng trong sự
phát triển kinh tế - xã hội. Du lịch đạt đợc hiệu quả kinh tế cao, đợc coi là
Ngành xuất khẩu tại chỗ đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn.
Trong cuốn Góp phần vào thống kê du lịch của Guyer Frenbr xuất
bản ở Thuỵ Sĩ 1986 cho rằng: Du lịch là một ngành công nghiệp, là một hoạt
động kinh tế...và theo Thời báo Thế giới 03/1999 thì Năm 1999 du lịch
một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới.
Đối với nớc ta: Trong thời gian qua do chính sách mở cửa đổi mới của
Đảng và Nhà nớc trong nhiều lĩnh vực trong đó có kinh tế đối ngoại nên kinh
tế du lịch Việt Nam đã có bớc tiến nhất định và ngày càng có tác động tích
cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội của đất nớc. Số lợng khách
du lịch ngày càng tăng. Về thu nhập xã hội từ du lịch hơn 14.000 tỷ đồng
trong đó có ngành du lịch thu 6.400 tỷ, nộp ngân sách nhà nớc 580 tỷ [18, 3].
Kinh tế du lịch là hoạt động kinh doanh du lịch. Tức là Việc thực hiện
một, một số hoặc tất cả các quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ
du lịch trên thị trờng nhằm mục đích sinh lợi [25, 2].
Nh vậy, thông qua hoạt động du lịch con ngời có điều kiện mở rộng tầm
nhìn, hiểu biết thêm nhiều những giá trị văn hoá của thế giới, quê hơng, địa
hình mùa thịnh thì cung không đủ cầu, mùa suy thì thiết bị và nhân viên nhàn
rỗi. Những khó khăn đó để lại những hậu quả về kinh tế, xã hội, tổ chức kỹ
thuật và tâm lý.
Do vậy, khi kinh doanh du lịch, ngời kinh doanh cần chú ý đầy đủ tới
đặc điểm này của ngành du lịch, cần tìm mọi cách áp dụng biện pháp hạn chế
cố gắng giảm thiểu sự cách biệt mùa thịnh mùa suy, hạn chế những giao động
thời vụ trong hoạt động kinh doanh của các cơ quan du lịch để thông qua đó
tranh thủ những lợi ích mà du lịch mang lại, nhất là hiệu quả và lợi ích kinh tế
nhiều hơn.
Thứ hai, tính tổng hợp: Theo quan điểm của Đổng Ngọc Minh và Vơng
Lôi Đình cho rằng: Hoạt động du lịch là hoạt động có tính tổng hợp, trong quá
trình hoạt động du lịch du khách có nhu cầu về đi lại, ăn ở, du ngoạn, vui chơi
giải trí, mua sắm để đáp ứng các nhu cầu khác nhau nh cung cấp t vấn tin tức,
cung cấp tuyến du lịch, các phơng tiện giao thông, nhà nghỉ cho du khách
sản phẩm và dịch vụ của ngành du lịch là sản vật tác dụng chung của nhiều bộ
phận, là sản phẩm tổng hợp đợc biểu hiện ra bằng nhiều loại dịch vụ [8, 47].
Ngành du lịch vừa bao gồm hàng loạt ngành nghề du lịch nh: Công ty du lịch,
khách sạn du lịch, giao thông du lịch, đơn vị bán hàng lu niệm du lịch đồng
thời bao gồm bộ phận sản xuất t liệu vất chất nh: Công nghiệp dệt, ngành xây
dựngcòn bao gồm một số bộ phận sản xuất t liệu phi vật chất nh: văn hoá,
giáo dục, tôn giáo, khoa học kỹ thuật, y tế, tài chính, hải quan, bu điện.
12
Do đó, khi kinh doanh du lịch những nhà quản lý kinh doanh cần nắm
vững đặc điểm này bởi các ngành nghề trong du lịch có ý nghĩa thực tế vô
cùng to lớn, nếu có hành vi chậm trễ hay bỏ lỡ dịp của bất cứ ngành nghề nào
cũng đều ảnh hởng tới sự đánh giá không tốt của du khách đối với sản phẩm
du lịch, từ đó dẫn tới giảm lợng khách của các ngành nghề khác. Do đó, cần
13
phần làm cho ngành du lịch địa phơng thu đợc hiệu quả và lợi ích kinh tế cao.
Đồng thời, tính phụ thuộc ở quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, ở
trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia hay khu vực có ảnh hởng đến chất
lợng phục vụ du khách. Mặt khác kinh tế du lịch còn phụ thuộc vào sự hợp
tác, nhịp nhàng với các ngành nghề liên quan.
Từ những đặc điểm trên, có thể nói du lịch là một ngành kinh tế tác
động mạnh mẽ lên nhiều lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất xã hội, cụ thể về
lĩnh vực kinh tế: Thị trờng du lịch là một thị trờng rộng lớn vơi nhiều loại sản
phẩm, hàng hoá dịch vụ vừa có khả năng thanh toán cao, lại vừa mang tính
đặc thù. Nó hoạt động trong không gian lãnh thổ nh thị trờng nội địa nhng lại
hoàn toàn có khả năng xuất khẩu tại chỗ nhiều hàng hoá mang tính chất đặc
thù của ngành, nó có khả năng thoả mãn nhu cầu thị hiếu của du khách khi
đến tham quan. Do đó, nếu loại thị trờng này đợc đầu t, quan tâm khai thác tốt
thì kinh tế du lịch sẽ đem lại lợi ích rất lớn cho vùng có địa điểm du lịch, nhất
là làm thay đổi diện mạo của vùng. Du khách đến tham quan lu trú cả trong và
ngoài nớc sẽ tạo ra nguồn thu nhập và nhu cầu cần thiết để cải thiện về kết cấu
hạ tầng, mở rộng các ngành nghề có liên quan và ngợc lại nó sẽ tạo điều kiện
và thúc đẩy kinh tế du lịch phát triển thêm một bớc.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành và phát triển kinh tế du lịch
1.1.2.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con ngời có thể đợc
sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch [23, 2]. Tài nguyên
du lịch chính là cơ sở, tiền đề để thu hút khách du lịch, nó bao gồm:
Một là, tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình,
địa mạo, khoa học, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể đợc sử
lịch. Yếu tố con ngời trong giai đoạn hiện nay càng đóng một vai trò hết sức
to lớn, là tài nguyên vô tận. Thông qua mọi hoạt động của con ngời, các yếu tố
về tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, vốn mới đợc sử dụng có hiệu
quả.
Đối với nớc ta, dân số hiện nay hơn 85 triệu ngời và có hơn 42 triệu lao
động. Đây là tiềm năng to lớn đối với sự phát triển kinh tế trong đó có ngành
kinh tế du lịch. Cùng với trình độ của ngời dân đợc nâng cao, đời sống vật
chất đợc đáp ứng thì sẽ có sự tham gia ngày càng nhiều dân c và lao động vào
hoạt động du lịch nói chung cũng nh kinh doanh du lịch nói riêng.
Dân số và lao động có ảnh hởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển
hoạt động kinh tế du lịch bởi cùng với sự phát triển của ngành du lịch là cơ sở
để giải quyết lực lợng lao động từ các ngành nghề khác nhau. Tuỳ theo mật độ
dân số hay trình độ tay nghề của lao động mà có thể đào tạo, bố trí phù hợp
15
với nhu cầu của từng loại hình du lịch khác nhau góp phần chuyển dịch cơ cấu
lao động theo hớng hiện đại.
Ngoài giải quyết việc làm ngành kinh tế du lịch còn tạo ra thu nhập và
đem lại lợi ích cho dân chúng địa phơng bằng cách gia tăng hoạt động kinh tế.
Ngời tham gia kinh doanh du lịch phải thấy đợc chiến lợc chung của ngành là
thoả mãn ngày càng nhiều nhu cầu của khách để thu hút du khách và gia tăng
doanh thu. Các khoản thuế thu đợc nơi du khách và các hoạt động do các
ngành du lịch mang lại sẽ giúp cho chính quyền địa phơng đa vào hỗ trợ cùng
với ngân sách nhà nớc. ở nớc ta cho đến nay, thu nhập của ngời làm du lịch
còn thấp so với giá trị đích thực mà sản phẩm của họ cung ứng nên ảnh hởng
không nhỏ tới chất lợng phục vụ và tài nguyên thiên nhiên khai thác không
hiệu quả.
1.1.2.3. Trình độ phát triển kinh tế xã hội
trong xu hớng phát triển toàn diện kinh tế xã hội.
1.1.2.4. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát
triển của ngành du lịch nói chung và hoạt độg kinh tế du lịch nói riêng.Pháp
lệnh du lịch đã đề cập: Nhà nớc có chính sách và biện pháp thực hiện quy
hoạch phát triển du lịch và xúc tiến du lịch; đầu t thoả đáng để xây dựng kết
cấu hạ tầng, cơ sở cật chất kỹ thuật cho khu du lịch và điểm du lịch trọng
điểm. Nhà nớc có biện pháp bảo vệ, tôn tạo, khai thác và sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch bền vững [23, 7].
Trong kết cấu hạ tầng thì mạng lới và phơng tiện giao thông là nhân tố
quan trọng hàng đầu. Việc phát triển giao thông, nhất là phat triển nhanh phơng tiện vận chuyển cho phép mau chóng khai thác tài nguyên du lịch. Ngoài
mạng lới và phơng tiện giao thông thì yếu tố không kém phần quan trọng là
thông tin liên lạc và các hệ thông cấp nớc, điện đảm bảo yêu cầu của khách du
lịch. Do đó kinh tế du lịch là tiền đề, đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong
đó có hoạt động kinh tế du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng đóng một vai trò hết sức to lớn trong việc
tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch. Có hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
mới sử dụng hiệu quả tài nguyên du lịch. Cơ sở vật chất của du lịch bao gồm
cơ sở vật chất của ngành du lịch và một số ngành kinh tế tham gia phục vụ du
lịch nh tài nguyên dịch vụ. Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở
vật chất kỹ thuật giúp cho các hoạt động kinh tế du lịch có hiệu quả, kéo dài
thời gian và công suất sử dụng.
Khoa học kỹ thuật góp phần phát triển du lịch bởi giữa chúng có mối
quan hệ qua lại với nhau, khoa học - kỹ thuật càng phát triển thì những ứng
dụng công nghệ vào hoạt động du lịch cũng nh hoạt động kinh doanh du lịch
sẽ ngày càng tiện lợi, hiệu quả hơn và một khi du lịch phát triển thì lại đa ra
những yêu cầu đòi hỏi đối với khoa học - kỹ thuật, nhất là những phơng tiện
17
du lịch bởi ở bất kỳ quốc gia, khu vực nào tình hình an ninh trật tự an toàn xã
hội đợc đảm bảo thì hoạt động du lịch cũng nh kinh doanh du lịch sẽ đợc ổn
định và ngày càng phát triển, nhanh, bền vững hơn.
18
1.1.3. Vị trí của du lịch huyện Nghi Xuân
1.1.3.1. Vị trí du lịch Nghi Xuân trong chiến lợc du lịch của cả tỉnh Hà Tĩnh
Đối với Hà Tĩnh, là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng, nhiều di tích
lịch sử văn hoá, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, có điều kiện
cho việc phát triển du lịch. Xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của Tỉnh nhà nhanh chóng, Tỉnh cũng tập trung cao
trong công tác chỉ đạo điều hành hoạt động du lịch. Chính vì vậy, Văn kiện
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVI xác định: Tiếp tục đầu t hoàn
thiện kết cấu hạ tầng các bãi tắm, nh: Xuân Thành, Thiên Cầm, Thạch Hải,
Thịnh Lộc, Đèo Con, Nớc Sốt...và các di tích lịch sử, văn hoá nh Khu l niệm
Bác Hồ, Khu lu niệm Trần Phú, Hà Huy Tập, Khu du lịch văn hoá Nguyễn
Du, Nguyễn Công Trứ, Ngã Ba Đồng Lộc, Chùa Hơng Tích...có cơ chế đầu t
theo hớng đa dạng hoá các thành phần kinh tế, hình thức tổ chức và loại hình
du lịch, xây dựng các tuor du lịch, tuyến du lịch liên vùng, trong nớc và nớc
ngoài, phấn đấu tăng nhanh tổng lợt khách du lịch hàng năm, góp phần tăng
thu ngân sách [ 28] .
Nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ vai trò, tác động của du lịch đối
với sự phát triển của tỉnh nhà. Ngay từ những năm 1990 tỉnh đã xây dựng quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 1998 2010, nêu rõ
những quan điểm, mục tiêu và chiến lợc phát triển du lịch.
Về quan điểm: Phát triển du lịch gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội; quan điểm phát triển du lịch bền vững; phát triển du lịch
phải dựa trên sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành.
Sông Lam; Đền Củi (Linh Từ Thánh Mẫu); Đình Hội Thống (xã Xuân
Hội).Một số điểm tham quan khác, bao gồm: Nhà thờ Nguyễn Công Trứ, làng
nghề dệt thảm ở Xuân Hội.
Có thể nói, huyện Nghi Xuân có ý nghĩa vùng và địa phơng trong định
hớng phát triển du lịch của tỉnh Hà Tĩnh với những điểm du lịch, tài nguyên
du lịch tự nhiên, nhân văn có ý nghĩa văn hoá, tâm linh sâu sắc. Do vậy, với
nhiều điểm du lịch Nghi Xuân đã trở thành điểm du lịch quan trọng trong
chiến lợc du lịch của tỉnh Hà Tĩnh với các huyện khác.
Trong các cụm du lịch của tỉnh Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân có vị trí
quan trọng giúp cụm du lịch Thị xã Hồng Lĩnh và phụ cận hoạt động hiệu quả,
góp phần nâng cao chất lợng hoạt động du lịch trong toàn bộ cụm du lịch của
tỉnh
Vì tầm quan trọng của các điểm du lịch của huyện Nghi Xuân đối với
sự phát triển kinh tế du lịch của tỉnh nhà nên huyện đã có các dự án đầu t của
tỉnh nh: đợc đầu t 2 dự án với 2 công trình: Tôn tạo Lăng mộ Nguyễn Du và
đầu t cơ sở hạ tầng khu văn hoá du lịch Xuân Thành với diện và khá vốn khá
20
cao nhằm nâng cao giá trị của những điểm du lịch này và cũng nh nâng cao
chất lợng dịch vụ của cả Tỉnh Hà Tĩnh (xem biểu 1)
Biểu 1: Dự án 2: Cụm du lịch Thị xã Hồng Lĩnh và phụ cận
Các hạng mục công trình chính:
Dự kiến vốn đầu t
Diện tích Giai đoạn tr- Giai đoạn sau
TT
Tên công trình
(ha)
ớc 2010
Tổng cộng
Nh vậy, du lịch Huyện Nghi Xuân có vị trí quan trọng, không thể thiếu
trong toàn bộ chiến lợc phát triển du lịch của tỉnh Hà Tĩnh bởi Huyện chính là
cửa ngõ của Tỉnh nhà với nhiều điểm du lịch nổi tiếng, với nhiều tài nguyên
du lịch thiên nhiên cũng nh tài nguyên du lịch nhân văn mang tính chất lịch
sử, văn hoá làm phong phú đa dạng ngành du lịch của Tỉnh nhà, góp phần thu
hút du khách ngày càng nhiều của Tỉnh mang lại lợi ích và hiệu quả kinh tế
cao cho hoạt động kinh tế du lịch của Tỉnh nhà.
1.1.3.2. Vị trí du lịch trong chiến lợc phát triển kinh tế- xã hội của huyện
Nghi Xuân
Là một huyện có tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch với nhiều
loại hình, có thể đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của huyện, nên
Đảng bộ, chính quyền huyện đã tập trung chỉ đạo phát triển các loại hình du
lịch trên địa bàn. Đại hội Đảng bộ lần thứ 19 đă quan tâm thảo luận và đề ra
Nghị Quyết về việc phát triển ngành thơng mại du lịch, tập trung phát huy
các nguồn lực để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao tỷ trọng các ngành
tiểu thủ công nghiệp, thơng mại, du lịch trong nền kinh tế. Đặc biệt Ban chấp
hành Đảng bộ Huyện đã Nghị quyết chuyên đề số 05 NQ/HU năm 2005 về
21
phát triển công nghiệp, thơng mại, du lịch. Đây là những định hớng rất quan
trọng cho công tác du lịch của Huyện nhà.
Trong các Đại hội đại biểu Đảng bộ Huyện Nghi Xuân qua các lần 17,
18, 19 đã nêu ra những mục tiêu cụ thể cho việc phát triển du lịch thơng
mại của Huyện nhà:
Nghị quyết lần thứ 17 (1996 2000) của Đại hội đại biểu Đảng bộ
Huyện đã xác định trong tỷ trọng cơ cấu thu nhập: Du lịch thơng mại đạt 30%
[25].
kết chặt chẽ giữa các huyện, tỉnh khác trong việc hình thành các tour du lịch
để thu hút du khách không chỉ trong tỉnh, ngoài tỉnh mà còn thu hút du khách
quốc tế đến với Huyện Nghi Xuân.
1.2. Tình hình phát triển du lịch ở Huyện Nghi Xuân - Tỉnh Hà Tĩnh
1.2.1. Tiềm năng phát triển kinh tế du lịch ở huyện Nghi Xuân
* Về điều kiện tự nhiên
Huyện Nghi Xuân nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, có 19 đơn vị hành
chính, 17 xã, 2 thị trấn, giáp với Thành phố Vinh và các huyện của tỉnh Hà
Tĩnh: Thị xã Hồng Lĩnh, Can Lộc, Đức Thọ, bao bọc phía Đông của huyện là
Biển Đông. Nơi có dòng Sông Lam và dãy Núi Hồng thơ mộng.
Diện tích tự nhiên: 21.800 ha, dân số: 99.458 ngời, đây là quê hơng của
Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Du, Danh nhân
Nguyễn Công Trứ và là quê hơng của làn điệu ca trù xã Cổ Đạm.
* Về điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm quan đời sống nhân dân không ngừng đợc cải thiện
cả về vật chất lẫn tinh thần. Tốc độ phát triển GDP đạt 12,8%, thu nhập bình
quân đầu ngời 6,2 triệu đồng ngời/năm (2008), từng bớc đa huyện trở thành
một huyện giàu mạnh.
Sự phát triển kinh tế tạo điều kiện cơ sở hạ tầng để đẩy mạnh ngành
du lịch của huyện. Trong thời gian qua, nhiều công trình kinh tế xã hội
quan trọng đã đợc đầu t xây dựng đạt hơn 500 tỷ đồng. Điện lới quốc gia đã
phủ kín 100% các xã, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Hệ
thống thông tin liên lạc đáp ứng nhu cầu liên lạc trong nớc và quốc tế với các
hình thức dịch vụ nh: điện thoại, fax, internet. Bình quân 10 máy điện
thoại/100 ngời dân tăng gấp đôi so với năm 2005 (năm 2005 là 5 máy điện
thoại/100 ngời dân).
Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng nhìn chung vẫn còn cha đáp ứng đợc nhu
cầu của địa phơng trong thời kỳ CNH, HĐH. Một số công trình có nguy cơ
xuống cấp đang đòi hỏi phải xây dựng lại, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng
nhiều thôn xóm, có nhiều di tích. Tiếc rằng, trải qua dâu bể của lịch sử và thời
gian, không ít di tích cũng đã bị mai một. Song với trên 100 di tích còn lại
cũng còn đủ để minh chứng cho một vùng đất có bề dày truyền thống văn hoá.
Đình Hội Thống, một ngôi đình không chỉ có quy mô vào loại nhất cả xứ, mà
còn có nghệ thuật chạm trổ, trang trí vô cùng tinh xảo.
Nhiều đình, đền, nhà thờ còn giữ đơc nhiều bộ sắc phong phú. Toàn
huyện có 6 di tích công nhận ở cấp quốc gia: Khu lu niệm Nguyễn Du,
Nguyễn Công Trứ, Đình Hội Thống, Đền Xuân Hồng, bãi tắm Xuân Thành,
Cổ Đạm, Nghi Xuân bát cảnh; Có 19 di tích cấp Tỉnh và có thể kết hợp nhiều
tuor du lịch: Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ Xuân Thành Xuân Yên,
Đình Hội Thống - Đền Xuân Hồng, Đền Đức Thánh Mẫu ở Xuân Lam.
24
Ngoài ra Nghi Xuân còn có các làng nghề truyền thống nh: Làng mộc
ở Xuân Phổ, Nồi đất ở Cổ Đạmtạo điều kiện cho phát triển kinh tế du lịch
của huyện nhà.
Huyện Nghi Xuân có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch cả tài
nguyên du lịch thiên nhiên cũng nh tài nguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch thiên nhiên:
Huyện Nghi Xuân có bãi biển Xuân Thành trở thành một điểm du
lịch không chỉ nổi tiếng ở huyện mà còn nổi tiếng là một trong những bãi biển
đẹp của tỉnh Hà Tĩnh. Bãi biển Xuân Thành đợc đánh giá là bãi biển thoải,
không dốc, cát trắng, nớc biển trong rất thuận lợi cho việc du lịch tắm biển.
Xuân Thành có cảnh vật rất nên thơ; môi trờng sinh thái ở đây đợc đánh giá là
một trong những điểm du lịch đẹp và trong lành nhất của tỉnh với những hàng
dừa nghiêng soi bóng nớc và một hệ thống cây xanh phủ kín toàn bộ khu vực
bãi tắm.
Bên cạnh bãi biển khu du lịch Xuân Thành nổi tiếng, ở huyện