Hình tượng thiên nhiên liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao nam bộ về tình yêu đôi lứa - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

PHÙNG NGỌC LAM

HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC
HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN, VẬT THỂ VŨ TRỤ TRONG
CA DAO NAM BỘ VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

LÊ THỊ DIỆU HÀ

Cần Thơ, 4 - 2011

1


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích, yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu


2.3. Biểu hiện của các hình tượng thiên nhiên liên quan đến hiện

tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ qua sự so sánh với ca dao cổ truyền.

Chương 3: HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN LIÊN QUAN
ĐẾN HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN, VẬT THỂ VŨ TRỤ VỚI CÁC
YẾU TỐ NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO NAM BỘ VỀ TÌNH
YÊU ĐÔI LỨA
3.1. Hình tượng so sánh
3.2. Hình tượng ẩn dụ, biểu tượng
3.3. Kết cấu, cấu tứ
3.3.1. Trong việc xây dựng các kiểu câu mở đầu
3.3.1.1. Hệ thống câu mở đầu có một hình tượng
3.3.1.2. Hệ thống câu mở đầu có hai hay nhiều hình tượng
3.3.2. Trong việc xây dựng các công thức từ ngữ

PHẦN KẾT LUẬN

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.
Ai sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất Nam Bộ thân thương và trìu mến chắc
hẳn đã hơn một lần đã được nghe những câu hát ngọt ngào, chan chứa tình quê như
thế. Và tôi cũng dậy, là đứa con của miền quê Nam Bộ tôi tự hào và yêu quý mảnh đất
này biết bao. Nơi đây đã nuôi lớn tôi, cho tôi bao điều tốt đẹp, từ những con đường
quê rợp bóng dừa, những dòng sông đỏ nặng phù sa uốn quanh thôn xóm, những cánh

Nói đến vấn đề hình tượng trong ca dao thì rất phong phú và đa dạng, xoay
quanh vấn đề này thì từ trước đến nay cũng đã có nhiếu công trình của các nhà nghiên
cứu văn học quan tâm, và chúng tôi nhận thấy chúng được nghiên cứu ở nhiều góc độ
và khía cạnh khác nhau, ở đây do sự giới hạn của đề tài là “Hình tượng thiên nhiên
liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao Nam Bộ về tình yêu
đôi lứa” nên chúng tôi xin liệt kê một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây có
liên quan đến đề tài:
Quyển Ca dao dân ca Nam Bộ [5] của nhóm tác giả Bảo Định Giang,
Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị. Đây là công trình không chỉ sưu
tầm, tập hợp những bài ca dao của Nam Bộ mà bên cạnh đó còn có nhiều bài tiểu luận
về vùng đất, con người nơi đây qua đó, những đặc điểm về tự nhiên, thiên nhiên của
vùng cũng được thể hiện rõ phần nào nói lên được sự tác động của nó đến văn học nói
chung và ca dao Nam Bộ nói riêng.
Hay quyển Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ [8] của Nguyễn Văn Hầu,
lại giúp ta hình dung được diện mạo của văn học dân gian ở Nam Bộ trong suốt 300
năm. Qua đó, ta có thể thấy được những đặc điểm về lịch sử, văn hóa, xã hội của Nam
Bộ được văn học dân gian nơi đây phản ánh trong đó có ca dao.
Tập thể cán bộ Khoa Ngữ Văn trường Đại học Cần Thơ với quyển Văn học
đồng bằng sông Cửu Long [14] tập hợp đáng kể một số lượng những câu ca dao của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời, cũng đã nêu lên khái quát đặc điểm của
vùng đất Nam Bộ với sự giới thiệu về văn hóa, văn minh sông nước, miệt vườn của
vùng, qua đó, ta có thể thấy được sự ảnh hưởng của nó đến văn học dân gian ở đây nói
chung và ca dao nói riêng.
Quyển Văn học dân gian Nam Bộ - những phác thảo [25] của Nguyễn
Phương Thảo được đã tập hợp nhiều bài tiểu luận đề cập đến một số vấn đề về văn hóa
dân gian Nam Bộ trong đó thiên nhiên với sự tác động của nó đến ca dao nơi đây cũng
được đề cập đến.
Trên đây là những công trình giúp ta có cái nhìn khái quát về những đặc điểm
tự nhiên của Nam Bộ qua đó phần nào hiểu hơn sự tác động của chúng đến ca dao nơi
5

Việt và phân tích ý nghĩa biểu tượng của các loài hoa.
Trương Thị Nhàn với bài Giá trị biểu trưng nghệ thuật của các vật thể nhân
tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam [18], Tạp chí văn hóa dân gian số 3, 1991 đã đề
cập và phân tích ý nghĩa biểu trưng của các vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền.
6


Tác giả Hà Công Tài với bài Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian [29] đã
phân tích ý nghĩa của biểu tượng trăng gắn với nhiều trạng thái cảm xúc, tình cảm của
đôi lứa trong ca dao về tình yêu.
Tác giả Trần Văn Nam với công trình Cảm nhận ca dao Nam Bộ [22] đã có
nhiều bài viết về ca dao Nam Bộ. Đồng thời tác giả còn đề cập đến một số biểu tượng
trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long như: bần, mù u…và đi tìm hiểu nghĩa biểu
trưng trong ca dao Nam Bộ.
Trần Thị Diễm Thúy với Thiên nhiên trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ
[26], đã đưa ra những hình tượng thiên nhiên liên quan đến ca dao Nam Bộ và phân
tích chúng khá rõ ràng.
Ngoài ra, còn có một số công trình sưu tầm, tập hợp một số lượng đáng kể
những bài ca dao của Nam Bộ trong đó có một phần lớn là ca dao về tình yêu đôi lứa
như: Ca dao dân ca Nam Bộ, Ca dao Đồng Tháp Mười, Ca dao dân ca Nam kì lục
tỉnh, Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Văn học dân gian Tiền Giang, Văn
học dân gian Sóc Trăng, Văn học dân gian An Giang…
Nhìn chung, ta có thể thấy hình tượng trong ca dao nói chung và ca dao Nam
Bộ nói riêng đều được nghiên cứu ở những khía cạnh và mức độ khác nhau. Có người
nghiên cứu ở các hiện tượng tự nhiên, thiên nhiên có người dừng lại ở các vật thể nhân
tạo…tuy nhiên chưa có công trình chuyên biệt nào đi sâu vào tìm hiểu vấn đề “Hình
tượng thiên nhiên liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao
Nam Bộ về tình yêu đôi lứa”. Đến với đề tài trên chúng tôi hi vọng được góp một vài ý
kiến trong việc tìm hiểu, khám phá những nét riêng biệt, đặc sắc của ca dao Nam Bộ
về tình yêu đôi lứa, đặc biệt ở khía cạnh hình tượng thiên nhiên liên quan đến các hiện

4. Phạm vi nghiên cứu
Như đã nói hình tượng thiên nhiên trong ca dao là rất phong phú và đa dạng,
vì giới han nhỏ hẹp của đề tài nên chúng tôi chỉ tiến hành thực hiện đề tài ở phạm vi ca
dao của Nam Bộ và chỉ nghiên cứu các hình tượng thiên nhiên liên quan đến hiện
tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa để có thể làm
rõ hơn nội dung, ý nghĩa biểu trưng của các hình tượng này trong đời sống tình cảm
của con người Nam Bộ. Để tiến hành khảo sát thực hiện đề tài chúng tôi chọn hai tài
liệu chính đó là:
− Quyển Ca dao dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn
Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,
1984. Tài liệu 1 (TL1).
− Quyển Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long của tập thể Khoa Ngữ
Văn trường Đại học Cần Thơ, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999. Tài liệu 2 (TL2).
Bên cạnh đó, để làm nổi bật nét đặc thù của các hình tượng thiên nhiên liên
quan đến hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa
chúng tôi sẽ đối chiếu, so sánh với ca dao cổ truyền và ca dao Nam Trung Bộ để làm
8


phong phú thêm nội dung của đề tài. Tài liệu khảo sát ở phần này mà chúng tôi chọn
đó là:
− Quyển Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Nhà xuất bản
Văn học- 2003. Ký hiệu (CT).
− Quyển Ca dao Nam Trung Bộ của Thạch Phương, Ngô Quang Hiển, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999. Ký hiệu (NTB).
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm một vài tài liệu về ca dao dân ca
của Nam Bộ như: Ca dao Đồng Tháp Mười, Văn học dân gian An Giang, Văn học dân
gian Tiền Giang… để nội dung phân tích của đề tài được bao quát hơn.

5. Phương pháp nghiên cứu



PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CA DAO NAM BỘ VÀ HÌNH
TƯỢNG THIÊN NHIÊN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC HIỆN TƯỢNG
TỰ NHIÊN, VẬT THỂ VŨ TRỤ TRONG CA DAO NAM BỘ VỀ
TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
1.1. Khái quát về ca dao Nam Bộ
1.1.1. Khái niệm ca dao
Ca dao vốn là một loại hình văn chương bình dân được nhiều thế hệ yêu thích.
Từ lâu nó đã đi vào lòng người dân Việt Nam như một món ăn tinh thần quý giá và độc
đáo, trải qua bao thế kỉ cho dù có nhiều thể loại văn học mới ra đời nhưng ca dao vẫn giữ
được chỗ đứng vững chắc trong nền văn học và trong lòng người đọc của Việt Nam, vì
đâu mà nó có sức sống mạnh mẽ đến vậy? Thiết nghĩ ai yêu thích ca dao cũng sẽ dễ dàng
trả lời được câu hỏi này đó là vì ca dao xuất phát từ đời sống lao động của con người, rất
gần gũi với con người, nó dễ thuộc, dễ nhớ chính vì vậy mà nó được lưu truyền rộng rãi
và lâu bền với thời gian, một điều cơ bản nữa đó là nó phản ánh thật chân thật, sinh động
đời sống của con người ở nhiều khía cạnh qua ngôn ngữ thật bình dị, mộc mạc nhưng
cũng không kém phần tinh tế và độc đáo. Vì lẽ đó mà ca dao luôn là đối tượng được nhiều
nhà nghiên cứu văn học quan tâm và đã đem đến nhiều công trình nghiên cứu có giá trị
cao, ca dao luôn là một đề tài bất tận cho những ai yêu thích và muồn tìm hiểu về nó. Vậy
thì ca dao là gì? Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về ca dao được các nhà nghiên cứu
đưa ra chẳng hạn như:
Chu Xuân Diên cho rằng: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách
hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm,
tiếng láy…hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca”.[1;
354].
Theo Dương Quảng Hàm thì: “Ca dao (ca: hát, dao: bài hát không có chương
khúc) là những bài hát ngắn được lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục
của người bình dân”.[6; 9]

học dân gian mà cụ thể hơn đó là ca dao, ca dao của Nam Bộ đã hòa hợp thống nhất với
ca dao cả nước tạo nên một bộ phận văn học thật đặc sắc và phong phú. Bên cạnh những
điểm chung thống nhất với ca dao cả nước ca dao của Nam Bộ còn có những đặc thù
riêng, những sắc thái, biểu hiện mà ta thấy chỉ thể hiện ở Nam Bộ. Nhưng trước khi tìm
hiểu về ca dao Nam Bộ chúng ta hãy điểm qua vài nét về vùng đất cũng như con người
12


nơi đây vì chính những yếu tố này đã có những tác động rất lớn, rất sâu sắc đến việc hình
thành ca dao Nam Bộ.
Trước tiên có thể khẳng định Nam Bộ là vùng đất mới của Tổ quốc, được khai
phá cách đây khoảng 300 năm. Từ thế kỉ XVII những người Việt đầu tiên đã đến đây và
đã tiến hành “cuộc khẩn hoang vĩ đại nhất của dân tộc ta về chiều rộng cũng như chiều
sâu ” [5; 9]. Buổi ban đầu đến vùng đất này phần lớn là những người dân di cư từ miền
Bắc, miền Trung và một bộ phận là người Hoa, số dân bản địa ít ỏi và thưa thớt (chủ yếu
là người Chăm và người Khơme), những người dân di cư này xuất thân từ nhiều thành
phần khác nhau theo Huỳnh Lứa trong Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ
XVII, XVIII, XIX có nói: “ Trong đám người dân di cư vào vùng đất Nam Bộ trong các thế
kỉ XVII, XVIII có nhiều thành phần phức tạp: những tù nhân bị lưu đày, những người trốn
tránh binh dịch, những người giàu có muốn tìm nơi mở rộng công việc làm ăn, những
binh lính đào ngũ hoặc bị bệnh phải giải ngũ, những người nông dân nghèo không sống
nổi ở quê hương vì bị áp bức, bóc lột nặng nề” [17; 21]. Trong đó, những người nông dân
nghèo khổ phải tiêu tán, trôi nổi được gọi là “lưu dân” là chiếm đa số nhất. Buổi ban đầu
đến vùng đất này con người đã nhận ra được vẻ hoang sơ của nó có thể nhận thấy điều
này qua những câu ca dao như:
Tới đây xứ sở lạ lùng,
Chim kêu phải sợ cá vùng phải kinh.
Hay:
Muỗi kêu như sáo thổi,
Đĩa lội như bánh canh.

Miễn là nhân nghĩa vuông tròn thì thôi.
Tóm lại, qua một vài nét về vùng đất cũng như con người Nam Bộ nêu trên
chúng ta phần nào hiểu được hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội vùng đất nơi đây. Chúng
ta cũng có thể thấy chính những điều đó đã có tác động rất lớn vào tiến trình văn hóa của
người Việt trên đất Nam Bộ trong đó văn học dân gian mà cụ thể là ca dao cũng sẽ không
nằm ngoài.
Trở lại với vấn đề ca dao Nam Bộ, như trên đã nói ca dao của Nam Bộ vừa có
điểm thống nhất vừa có điểm khu biệt với ca dao cả nước. Trước hết có thể thấy ca dao
Nam Bộ cũng giống với ca dao cả nước về nguồn cội, xuất phát từ truyền thống văn hóa,
nền văn hiến lâu đời của dân tộc từ thời các vua Hùng dựng nước trải qua bao thế kỉ bao
thời đại nó đã trụ lại nơi vùng đất mới phát triển và hòa theo dòng chảy chung của ca dao
14


cả nước. Ngoài ra, ca dao Nam Bộ còn thống nhất với ca dao cả nước về chủ đề của thể
loại như: chủ đề tình yêu quê hương đất nước, quan hệ yêu đương và suy tư của nam nữ
thanh niên, tiếng ca tình nghĩa của người lao động trong quan hệ gia đình hay những khúc
ca vui buồn của nhân dân trong các mối quan hệ xã hội khác. Sự giống nhau ở các mảng
chủ đề này của ca dao Nam Bộ đã góp phần làm cho kho tàng ca dao của cả nước thêm
phong phú, đa dạng và nhiều hương sắc. Đi sâu vào ca dao Nam Bộ ta sẽ bắt gặp những
nét riêng, đặc thù so với ca dao cả nước và điều đó đã làm nên tính địa phương trong ca
dao Nam Bộ.
Trước tiên có thể khẳng định ca dao Nam Bộ là ca dao của vùng sông nước.
Nam Bộ nổi tiếng là nơi có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt từ những ngày đầu
khẩn hoang người dân nơi đây đã tiến hành khai phá thủy lợi, đào kênh mương để có thể
sản xuất và sinh hoạt được thuận tiện hơn. Do đó, hình ảnh sông nước đã đi vào ca dao
Nam Bộ rất đậm nét với một loạt hệ thống hình ảnh về ghe, xuồng, thuyền, đò như:
- Ghe anh nhỏ mũi trảng lườn,
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.
- Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,

Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên.
Tóm lại, qua trên ta thấy môi trường sông nước đã đi vào ca dao Nam Bộ một
cách thật tự nhiên và gần gũi nhưng cũng thật độc đáo phần nào phản ánh được cuộc sống
của con người nơi đây.
Ngoài ra, ca dao Nam Bộ còn độc đáo ở cách sử dụng ngôn ngữ thể hiện ở
cách nói như nhỏ nhẹ, dễ thương qua những từ ngữ như: chút xíu, nhỏ xíu, líu ríu, liu
riu…
Nước chảy liu riu,
Lục bình trôi líu ríu,
Anh thấy em nhỏ xíu anh thương.
hay phóng túng, tự do, táo bạo.
- Anh về em nắm vạt áo em la làng,
Anh phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.
- Anh thương em,
Thương lún thương lụn,
Thương lột da cóc,
16


Thương tróc da đầu,
Ngủ quên thì nhớ,
Thức dậy thì thương.
Qua đó, ta thấy cách nói thể hiện qua ngôn ngữ Nam Bộ thật độc đáo nó vừa
hiền lành, dễ mến, tâm tình ngọt ngào, duyên dáng lại vừa bộc trực, thẳng thắn, chân thật
và mãnh liệt thể hiện được mọi khía cạnh tình cảm của con người và phù hợp với tính
cách của con người nơi đây.
Nói tóm lại, ta có thể thấy ca dao Nam Bộ được thể hiện thật phong phú và
đặc sắc mang nhiều điểm chung cũng như điểm riêng so với ca dao cả nước. Chắc chắn
trong phần trình bày của chúng tôi không thể bao quát hết các khía cạnh, chúng tôi chỉ lựa
chọn những điểm tiêu biểu, nổi trội nhất về nội dung cũng như nghệ thuật để trình bày hi

- Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá về đồng ăn cua.
Thấy ai đi sớm về trưa,
Qua muốn lên chùa xem nhạc nghe kinh.
- Ghe anh vừa tới cắm sào,
Nghe em có chốn anh muốn nhào xuống sông.
- Nước chảy liu riu lục bình trôi líu ríu,.
Anh thấy em nhỏ xíu anh thương.
- Nước bưng không uống bậu uống nước bàu,
Chê đây lấy đó ai giàu hơn ai.
Có thể thấy thông qua ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa một môi trường sông
nước, đặc điểm địa lý nổi bật của Nam Bộ, được hiện lên rõ nét với nhiều hình ảnh và
biểu hiện độc đáo đủ thấy cái nhìn đầy tinh tế, ý nhị về thế giới tự nhiên, môi trường sống
của con người nơi đây.
Trong tình yêu thì có muôn vàn cách thể hiện tình cảm và do khác nhau về môi
trường sống cũng như đặc điểm tâm lý, tính cách nên người dân ở từng địa phương cũng
có cách thể hiện tình yêu khác nhau. Riêng trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa thì
cách thể hiện tình cảm thật độc đáo đó là sự bộc trực, cởi mở, thẳng thắn bộc lộ tình cảm
một cách trực tiếp chứ không bóng gió xa xôi mà chân thật và tự nhiên. Nếu trong ca dao
Bắc Bộ khi tỏ tình thường dùng cách nói bóng gió:
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa.
Mận hỏi thì đào xin thưa,
18


Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
hay trong ca dao Trung Bộ:
Hỡi người gánh nước Truông Mây,
Cho xin một gáo tưới dây tơ hồng.

Thương lột da cóc,
Thương tróc da đầu,
Ngủ quên thì nhớ,
Thức dậy thì thương.
- Phải chi cắt ruột đừng đau,
Để tui cắt ruột tui trao anh mang về.
- Tui xa mình không chết cũng đau,
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền.
- Thương anh cốt rã xương mòn,
Thương anh đến thác cũng còn thương anh.
Và không phải lúc nào trong tình yêu cũng hạnh phúc đắm say, cũng đầy hoa
thơm trái ngọt mà nó cũng có nhiều nỗi buồn và nhiều trái đắng. Đó là nỗi buồn khi tình
yêu không trọn vẹn vì nhiều lý do đó có thể là do yêu đơn phương, do không môn đăng hộ
đối hoặc vì một lý do nào đó cũng có thể dẫn tới sự tan vỡ, chia tay để lại những lời than
thở, trách móc những cảm xúc đó cũng được diễn tả rất mạnh mẽ đậm chất Nam Bộ.
Công anh làm rể, làm con,
Áo rách, quần mòn vợ lại về ai.
Hay:
Trống điểm ba nhịp sầu ình ình,
Em bầm gan tím ruột để cho mình có đôi.
Tóm lại, tình yêu thường mang lại nhiều ngọt ngào và hạnh phúc nhưng đôi
lúc nó cũng đem đến cho con người những mật đắng, đau đớn. Ca dao Nam Bộ bên cạnh
việc thể hiện tình cảm đó một cách ý nhị, duyên dáng thì còn bộc trực, táo bạo, chân chất.
Tất cả những cách thể hiện tình cảm nêu trên là một trong những sắc thái độc đáo trong ca
dao nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng về tình yêu đôi lứa và một lần nữa ta lại thấy
được những cái hay, những bản sắc riêng biệt trong ca dao Nam Bộ.

1.2. Khái quát hình tượng thiên nhiên liên quan đến các hiện tượng tự
nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa
1.2.1. Khái niệm hình tượng

trước mắt và giúp ta liên tưởng đến một nét nghĩa nào đó. Những hình ảnh đó ta có thể
cảm nhận trực tiếp cũng có khi nó tạo nên những liên tưởng nghệ thuật độc đáo, và muốn
vậy những sự vật, hiện tượng ấy phải được trải qua một quá trình tưởng tượng, liên tưởng
21


trừu tượng rồi đến khái quát hóa tạo ra những nét nghĩa ẩn đằng sau đó, tác giả dân gian
tập trung vào điểm nào bản chất nhất trong những hình ảnh sống ấy rồi nhào nặn, tái hiện
cho chúng một sức sống mới, sắc nét hơn để có thể nói hộ điều mình muốn nói. Nói đến
thơ ca là nói đến sự hàm súc, ẩn ý, lời ít mà ý nhiều vì thế sử dụng hình tượng là điều vô
cùng quan trọng giúp ta thực hiện điều đó và tất nhiên với ca dao cũng không nằm ngoài
quy luật chung đó. “Với hình tượng, câu ca dao có thể nói hộ cho mình bao điều “rất khó
nói” hoặc “không thể nói ra” bằng lời nói thông thường được; không những nói ra được
mà còn đi vào lòng người nữa. Và điều hết sức quan trọng là nói qua hình tượng điều đó
còn tạo ra một ấn tượng có tính khắc họa khó quên, đồng thời tạo nên một cảm giác thẩm
mĩ thú vị cho mình và cho người nghe”. [10; 51]. Từ lâu tác giả dân gian đã có ý thức khá
rõ về hình tượng văn học ứng dụng quy luật ấy vào sáng tác tạo nên nhiều bài ca dao mẫu
mực, tiêu biểu trong kho tàng ca dao truyền thống của dân tộc. Chẳng hạn câu ca dao sau
đây:
Trăng rằm vừa tỏ vừa cao,
Cho nên ai cũng ước ao trăng rằm.
Ở đây, ta thấy có sự xuất hiện của hình ảnh trăng, trong cuộc sống thì hình ảnh
ánh trăng chẳng xa lạ vì với chúng ta cả thế nhưng đi vào thơ ca nói chung và ca dao nói
riêng thì nó không còn đơn thuần là ánh trăng của tự nhiên hay chiếu sáng vào những đêm
rằm nữa. Ánh trăng trong câu ca dao trên lúc này đã mang ý nghĩa hình tượng nó ngụ ý
muốn nói tới người con gái. Và ở đây trăng lại là “trăng rằm”, hình ảnh trăng vào những
đêm rằm sáng tỏ soi chiếu cả vũ trụ, đó là lúc ánh trăng đẹp nhất, nhìn rõ nhất và qua đó
chúng ta có thể liên tưởng tới hình ảnh của một cô gái đến độ tuổi xuân thì xinh tươi và
tràn đầy sức sống, cái độ tuổi rực rỡ nhất của người con gái cũng giống như trăng rằm
“vừa tỏ vừa cao” vậy vì thế trước vẻ đẹp đó thì không ít chàng trai phải xiêu lòng, tương

tượng thiên nhiên và phân loại cụ thể hơn là các hình tượng thiên nhiên liên quan đến hiện
tượng tự nhiên như: bão, dông, gió, mây, mưa, nắng, sương…và hình tượng thiên nhiên
liên quan đến vật thể vũ trụ như: đất, trăng, trời, sao…với mong muốn làm rõ hơn sự
xuất hiện các hình tượng này trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa.

1.2.3 Hệ thống các hình tượng thiên nhiên liên quan đến các hiện
tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa
1.2.3.1 Phân loại, thống kê
Như đã nói thế giới hình tượng trong ca dao là vô cùng phong phú và rộng lớn,
với phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các hình tượng thiên nhiên liên
quan đến các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ trong ca dao Nam Bộ về tình yêu đôi lứa.
23


Qua khảo sát 2 tài liệu nghiên cứu chính là quyển Ca dao dân ca Nam Bộ (TL1) và quyển
Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long (TL2) chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện
của những hình tượng trên với tần số khác nhau.
Với (TL1), bao gồm 2548 bài ca dao trong đó có 2017 bài là về chủ đề tình yêu
đôi lứa chiếm 79,2 %, còn ở (TL 2), thì với 1018 câu ca dao trong đó có 892 câu về đời
sống tình cảm, tình yêu đôi lứa, chiếm 87,6 %. Trong hệ thống hình tượng thiên nhiên
liên quan đến hiện tượng tự nhiên các hình tượng như mây, mưa, nắng, gió, sương xuất
hiện nhiều trong các bài ca, đặc biệt là hình tượng gió xuất hiện 137 lần trong 2 tài liệu
sưu tầm.

STT

Hình tượng

Tần số xuất hiện



1

92

45

137

30

10

40

41

27

86

6

Nắng

16

14

30


1

Đất

27

17

44

2

Sao

19

7

26

3

Trăng

64

31

95

TL2

1

Chớp

3

2

2

Dông

1

3

Gió

34

59

92

45

4


16

14

7

Sấm

1

3

1

8

Sương

7

10

21

1

Kế đến là các hình tượng thiên nhiên liên quan đến vật thể vũ trụ:

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status