Vấn đề gia đình qua tiểu thuyết hồ biểu chánh - Pdf 33

Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

HUỲNH NGỌC MINH

VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH
QUA TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG

Cần Thơ, 4 - 2011

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Luận văn tốt nghiệp

3. 2. 1 Thế nào là một gia đình hạnh phúc
3. 2. 2 Những trăn trở của Hồ Biểu Chánh về giải pháp cho việc xây dựng một gia
đình hạnh phúc
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình văn học Việt Nam, bên cạnh bộ phận văn học Hán - Nôm với
những thành tựu đặc sắc thì văn chương quốc ngữ Nam bộ cũng đã có những đóng góp
quan trọng đối với nền văn học nước nhà. Tuy văn chương quốc ngữ Nam bộ ra đời
muộn hơn nhưng đã đem lại cho nền văn học một khuôn mặt mới với những đóng góp
có giá trị về nội dung và những đổi mới về nghệ thuật. Trong đó, tiểu thuyết quốc ngữ
Nam bộ là một bộ phận văn học có nhiều đóng góp đưa nền văn học Việt Nam bước
vào con đường hiện đại. Đó là những viên gạch đầu tiên xây nền tạo móng cho nền
văn học hiện đại.
Những năm đầu của thế kỷ XX, tiểu thuyết là một thể loại văn học được nhiều
người ưa chuộng. Và đối với nhân dân Nam bộ tiểu thuyết đã trở nên quá quen thuộc
và gần gũi. Nó đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của họ.
Đặc biệt đối với những ai sống trên mảnh đất này chắc không xa lạ đối với tiểu thuyết


Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên các công trình nói trên chủ
yếu nghiên cứu về nội dung phản ánh hiện thực xã hội và yếu tố đạo lí, còn vấn đề gia
đình Nam bộ trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ chỉ được nghiên cứu một cách chung
chung và khái quát. Vì vậy, lựa chọn đề tài này, người viết hy vọng sẽ góp phần nhỏ
để có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh. Cũng như qua đề tài, người viết mong sẽ góp phần nhỏ vào việc nhìn
nhận lại những đóng góp của nhà văn trong việc gìn giữ những giá trị tốt đẹp trong
mối quan hệ gia đình và sự đổi mới trong cách nghĩ của nhà văn về vấn đề hôn nhân
gia đình.

2. Lịch sử vấn đề
Trước 1945
- Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, NXB Nam kì thư quán, Hà Nội, 1933. Đây
là công trình đầu tiên có nhìn nhận và đánh giá về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh.
- Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, NXB Thăng Long, 1942. Trong công trình
nghiên cứu này, tác giả giới thiệu sơ lược về cuộc đời và một số tác phẩm của Hồ Biểu
Chánh như Cha con nghĩa nặng, Vì nghĩa vì tình, Khóc thầm, … Trên cơ sở phân tích
một số tiểu thuyết, tác giả đã khẳng định giá trị của tiểu thuyết gia Nam bộ Hồ Biểu
Chánh đối với quá trình phát triển của văn học nước nhà: “Dù sao, nếu đã đọc những
tiểu thuyết của các nhà văn đi tiên phong từ Nguyễn Bá Học trở lại, ai cũng phải nhận
rằng từ Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh tiểu thuyết nước ta mới bắt đầu đếm
bước vững vàng để dần dần đi tới ngày nay là lúc có thể chia ra nhiều ngả, phân ra
nhiều loại” [12; tr. 5].
Ngoài ra còn có Ba mươi năm văn học của Mộc Khuê, Việt Nam văn học sử yếu
của Dương Quảng Hàm. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên mới chú trọng
tới vai trò và những đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong nền văn học Việt Nam. Nhưng
những vấn đề về nội dung trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vẫn chưa được khai thác
sâu và cần phải tiếp tục nghiên cứu.

đời, trái lại, nếu xem nhẹ chữ hiếu thì bị cha mẹ từ bỏ rồi phải lấn thân vào cuộc sống
vất vả linh đinh. Cả hai trường hợp đều tai hại” [6; tr. 209]; hạnh phúc gia đình:
“Hạnh phúc lứa đôi không thể xây dựng trên sự giàu sang bất nghĩa mà phải tìm trong
tình yêu chân thật” [6; tr. 180], “Song nói chung, những gì tác giả muốn đề cao không
ngoài sự trung hậu nhân nghĩa, thẳng ngay trong sạch. Ông thành thật tin rằng chỉ
những điều này mới đem lại cho người ta một hạnh phúc bền vững, còn sự giàu sang
bất nghĩa thì chỉ nhất thời, không thể tạo được hạnh phúc chân thật và lâu dài”
[6; tr. 263] trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.
- Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập I của Phan Cự Đệ, NXB Đại học và Trung
học chuyên nghiệp, 1978. Trong công trình này, tác giả tập trung nghiên cứu nội dung
của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, những ưu điểm nổi bật trong việc phản ánh hiện thực
xã hội Nam bộ vào những năm đầu của thế kỷ XX của nhà văn.
- Địa Chí Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập II của Trần Văn Giàu, Trần
Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988. Bên
cạnh việc giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh, các tác giả
còn tập trung nghiên cứu, phân tích những nội dung được phản ánh trong sáng tác của
Hồ Biểu Chánh. Đặc biệt trong công trình này, các tác giả có phân tích sơ lược về bức
tranh gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: “Về bức tranh gia đình, Hồ Biểu
Chánh mô tả hầu hết phong tục gia đình Việt Nam thời Pháp thuộc, sự xung đột giữa
lớp người cũ và lớp người mới, về nhiều vấn đề mà gay gắt hơn cả là hôn nhân (quyền
tuyệt đối của cha mẹ trong việc dựng vợ gã chồng cho con)” [16; tr. 4].

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

mục đích và yêu cầu sau:
- Nhận rõ bức tranh hiện thực về gia đình Nam bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX được Hồ Biểu Chánh phản ánh trong các tiểu thuyết của ông.
- Nắm được quan điểm của nhà văn về một gia đình hạnh phúc.
- Khẳng định những đóng góp có giá trị trong việc truyền bá tư tưởng đạo lí và những
đổi mới trong tư tưởng của nhà văn.
GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

- Khẳng định vai trò và vị trí của Hồ Biểu Chánh đối với nền văn học dân tộc.

4. Phạm vi nghiên cứu
Những năm đầu của thế kỷ XX xã hội Nam bộ đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ.
Gia đình, yếu tố để hình thành nên xã hội rộng lớn không thể nằm ngoài sự tác động
của lối sống phương Tây và phương Đông. Vì vậy, gia đình Nam bộ đã chịu sự ảnh
hưởng của xã hội trở nên đa dạng, phức tạp hơn rất nhiều. Với trách nhiệm của một
người cầm bút, yêu nước thương dân và luôn quý trọng những luân lí đạo đức của gia
đình Việt Nam nên Hồ Biểu Chánh đã thông qua những đứa con tinh thần của mình để
phản ánh gia đình Nam bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đề tài nghiên
cứu là “Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” nên trước tiên người viết sẽ
đi sâu vào tìm hiểu một số vấn đề chung về nhà văn Hồ Biểu Chánh và gia đình trong
quan niệm của người Việt bao gồm khái niệm, các loại gia đình, các kiểu giáo dục và
vai trò của gia đình. Sau đó, người viết sẽ nghiên cứu để làm rõ những nội dung: hiện
thực về gia đình của người Nam bộ qua tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh bao gồm gia đình


mới, giữa những phong tục theo chế độ phong kiến và những cái mới của phương Tây.
Ngoài ra, sự nghiệp sáng tác của ông khá đồ sộ. Riêng tiểu thuyết ông đã để lại 64, 5
quyển. Vì vậy để đảm bảo cho việc thực hiện đề tài “Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh” được toàn diện, sâu sắc, trong bài nghiên cứu này người viết sẽ sử
dụng một số phương pháp. Phương pháp nghiên cứu hệ thống để người viết trình bày,
lý giải, khái quát tổng hợp vấn đề nghiên cứu được thấu đáo, trọn vẹn hơn. Phương
pháp phân tích đối chiếu, đây là phương pháp nhằm tìm hiểu, phát hiện những vấn đề
về gia đình mà nhà văn phản ánh thông qua một số tiểu thuyết để qua đó người viết sẽ
hiểu rõ quan niệm của nhà văn về một gia đình hạnh phúc và vấn đề xây dựng gia đình
hạnh phúc. Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng phương pháp thống kê - so sánh nhằm
khảo sát những yếu tố mà Hồ Biểu Chánh kế thừa trong quan niệm truyền thống của
người Việt về gia đình hạnh phúc cũng như những yếu tố khác biệt để nhìn nhận, đánh
giá đúng hơn về cái nhìn của nhà văn. Ngoài ra, người viết sẽ kết hợp phương pháp
văn học sử cùng với những phương pháp trên nhằm khẳng định, đánh giá về vị trí, vai
trò của Hồ Biểu Chánh đối với văn học hiện đại Việt Nam. Trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài, người viết sẽ luôn tham khảo, lắng nghe ý kiến đóng góp của giáo
viên hướng dẫn, các thầy cô, bạn học, … để điều chỉnh và hoàn thành tốt đề tài nghiên
cứu.

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

CHƯƠNG 1

Hồ Biểu Chánh là người rất say mê với sự nghiệp sáng tác văn chương. Từ năm
1922 trở đi ông viết rất liên tục đều đặn.

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, cải lương, hát bội, văn
tế, tác phẩm dịch. Đặc biệt ông rất thành công ở thể loại tiểu thuyết.
Năm 1909, ông sáng tác truyện thơ đầu tay U tình lục. Tiểu thuyết đầu tiên Ai
làm được sáng tác năm 1912, xuất bản 1922.
Trong nửa thế kỷ sáng tác, Hồ Biểu Chánh đã để lại một sự nghiệp văn chương
khá đồ sộ: 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và
truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu, phê bình. Ngoài ra còn các bài diễn thuyết và
2 tác phẩm dịch. Đặc biệt ông sáng tác được 64, 5 tiểu thuyết. Trong đó 18 tác phẩm
được sáng tác trong thời gian 1912 - 1932 được đánh giá là có nhiều đóng góp quan
trọng trong việc hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Trong số đó phải kể đến các
tác phẩm tiêu biểu sau: Ai làm được (1912 - 1922), Chúa tàu Kim Quy (phỏng theo Bá
tước Monte Cristo của Alexandre Duma, 1922), Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không
gia đình của Hector Malot, 1923), Nhân tình ấm lạnh (1925), Thầy thông ngôn (1926),
Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ của Victor Hugo, 1926), Chút
phận linh đinh (1928), Vì nghĩa vì tình (1929), Con nhà nghèo (1930), Con nhà giàu
(1931), Cha con nghĩa nặng (1929), Khóc thầm (1929), Tỉnh mộng (1923).

1. 2 Khái niệm về gia đình

Đặc trưng cơ bản của gia đình truyền thống là nông nghiệp, nông thôn và nho
giáo. Và theo cách hiểu thông thường thì gia đình là một tập hợp những người cùng
chung sống với nhau dựa trên quan hệ hôn nhân được pháp luật, luật tục hay huyết
thống chính thức thừa nhận. Trong gia đình bao gồm các mối quan hệ vợ - chồng, cha
mẹ - con cái, anh chị em ruột. Dưới góc độ của pháp luật thì Luật hôn nhân và gia
đình, định nghĩa gia đình như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau
do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các
nghĩa vụ và quyền giữa các họ với nhau theo quy định của luật này” [19; tr. 13]. Ngày
nay, xã hội nước ta xuất hiện kiểu gia đình hạt nhân. Đó chính là gia đình chỉ gồm hai
thế hệ cha mẹ và con cái. Do sự tác động của hoàn cảnh xã hội và để thích nghi với
cuộc sống tốt hơn nên gia đình hạt nhân chiếm số lượng khá lớn trong xã hội hiện nay.

1. 2. 2 Các loại gia đình của người Việt
Khi xã hội loài người được hình thành thì gia đình đồng thời cũng xuất hiện. Và
trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội, người Việt tồn tại hai loại hình gia đình.
Khi xã hội chưa khai hóa, tri thức của con người còn thấp kém trong buổi đầu hình
thành. Lúc đó con sinh ra chỉ biết có mẹ mà không biết cha nên xuất hiện kiểu gia đình
mẫu hệ. Cùng với quá trình lao động của con người càng phát triển, văn hóa dần được
mở mang và tầm hiểu biết của con người về cuộc sống cũng đầy đủ hơn. Do đó, người
ta đã có nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ cha con cùng với những nguyên nhân
khác như kinh tế, tôn giáo, chính trị nên gia đình mẫu hệ đã chuyển sang gia đình phụ
hệ. Trong gia đình phụ hệ mọi quyền lực đều thuộc về người đàn ông. Trong gia đình,
người đàn ông có thế lực hơn cả là người cha. Bên cạnh các loại gia đình nói trên, xã
hội nước ta còn có loại gia đình một thế hệ bao gồm vợ chồng và gia đình nhiều thế hệ
bao gồm nhiều mối quan hệ như vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em, ông cháu.
Gia tộc Việt Nam xưa nay bao gồm hai bậc. Một là nhà hay còn gọi là tiểu gia
đình bao gồm cha mẹ, vợ chồng và con cái. Hai là họ hay còn gọi là đại gia đình bao
gồm những người có cùng dòng họ.

1. 2. 3 Các kiểu giáo dục trong gia đình của người Việt

Cha mẹ giáo dục con cái ngay từ lúc nhỏ. Đối với con trai thì được cha mẹ dạy về
những nghĩa vụ đối với gia đình, làng nước. Đối với con gái thì được cha mẹ dạy về tứ
đức bao gồm công, dung, ngôn, hạnh. Nghĩa là dạy về dáng dấp đứng ngồi, cử chỉ, nói
năng thưa gởi, công việc thêu dệt nấu nướng, nết na phải nhường nhịn, nhu mì và đạo
tam tòng “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nghĩa là nhỏ phải
nghe theo cha, lớn phải nghe lời chồng và chồng chết phải theo con như thế nào.

1. 2. 4 Vai trò của gia đình trong quan niệm của người Việt
Mỗi cá nhân trong xã hội đều được sinh ra trong một gia đình. Đó là nơi mỗi
người được hình thành, tồn tại và phát triển. Trong quan niệm của người Việt, gia đình
có giá trị rất cao. Vai trò và địa vị của gia đình đối với xã hội là tối trọng. Bởi vì gia
đình chính là cơ sở, là nền tảng của xã hội. Gia đình còn là tế bào để kiến tạo nên xã
hội rộng lớn. Vì vậy, sự trường tồn và phát triển của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào
sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình.
Gia đình là môi trường quen thuộc đối với mỗi cá nhân trong xã hội. Ở đó chứa
đựng nhiều mối quan hệ thân thiết và cũng đầy phức tạp như vợ chồng, cha mẹ - con
cái, anh em. Gia đình là nơi gắn bó mật thiết đối với cuộc sống của mỗi người. Đó là
trung tâm đời sống của mỗi thành viên, là nơi cá nhân nương tựa để phát triển.

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Mỗi cá nhân trong xã hội không thể tồn tại và phát triển toàn diện nếu không có
sự giúp đỡ và ủng hộ của gia đình. Bởi vì gia đình giữ vai trò rất quan trọng trong việc

thấy rằng những giá trị, những nét đẹp truyền thống trong những mối quan hệ gia đình
vẫn tồn tại và được gìn giữ ở xã hội Nam bộ. Thông qua một số tác phẩm của mình,
Hồ Biểu Chánh đã cho người đọc nhận thấy rằng, gia đình chính là nơi hình thành,
chứa đựng và hội tụ những tình cảm cao quý nhất của con người, những mối quan hệ
tốt đẹp bao gồm tất cả những tình cảm thân thiết, gắn bó như tình cảm vợ chồng, cha
mẹ - con cái, anh em, ông cháu với những cung bậc đa dạng và sắc thái khác nhau.
Nhưng tất cả đều thể hiện những mối quan hệ tốt đẹp, cao quý và chân thành trong gia
đình.
Trước tiên, đó là sự sâu sắc, gắn bó và cao đẹp trong tình cảm vợ chồng. Nhà văn
đã xây dựng những gia đình với cuộc sống vợ chồng thật đầm ấm, thuận hòa và hạnh
phúc. Đó không phải là những hiện tượng hiếm hoi trong xã hội Nam bộ. Mà đó là
những hiện tượng khá phổ biến. Dù lối sống tư sản đang dần thâm nhập vào cuộc sống
xã hội Nam bộ nhưng gia đình với mối quan hệ vợ chồng tốt đẹp vẫn đứng vững trước
thế lực của kim tiền. Cuộc sống vợ chồng của cô Tư Lựu - Hương sư Cu, Bạch Tuyết Chí Đại, Như Thạch - Nhung thật đáng ngưỡng mộ và khâm phục. Tình cảm vợ chồng
của họ luôn sâu sắc, mặn nồng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Tuy cô Tư Lựu đã thất tiết với cậu Hai Nghĩa và đã có con nhưng Hương sư Cu
vẫn chấp nhận cưới cô Tư Lựu. Cuộc đời của cô Tư Lựu phải chịu bất hạnh, cay đắng.
Vì thân phận nghèo hèn nên bị cậu Hai Nghĩa ức hiếp làm cho phận con gái phải chịu
tiếng nhuốc nhơ. Nhưng khi trở thành vợ chồng với Hương sư Cu thì gia đình của họ
luôn đầm ấm, vui vẻ, thuận hòa. Dù khi khó khăn, nghèo khổ hay lúc giàu sang, có địa
vị thì Hương sư Cu vẫn một lòng yêu thương và xem trọng cô Tư Lựu. Dù rằng cô
không giữ được sự trong trắng của người phụ nữ nhưng Hương sư Cu không chút xem
thường, mỉa mai, châm biếm mà ngược lại Hương sư Cu luôn thông cảm, chia sẻ với
hoàn cảnh khó khăn, gian khổ của cô Tư Lựu. Hương sư Cu đối với cô Tư Lựu luôn có
tình và cô Tư Lựu luôn sống có nghĩa với người đã giúp cô thoát ra khỏi vũng bùn đen
tối, cứu vớt danh giá và cưu mang hai mẹ con cô. Cuộc sống vợ chồng của họ luôn

GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh

em qua đau lòng xót dạ hết sức” [20; tr. 34], “Qua đã suy xét kỹ rồi, nên qua tính như
vầy: em để qua đưa em về dưới ông ngoại em ở cho an thân. Còn phần qua thì ráng
làm ăn chừng nào khá rồi vợ chồng sẽ tái hiệp với nhau, chớ qua nghèo khổ mà em
theo qua hoài, thì tội nghiệp thân em lắm, qua chịu không được” [20; tr. 34]. Sự nghèo
khổ làm cho cuộc sống của Bạch Tuyết và Chí Đại phải gặp nhiều khó khăn, vất vả
nhưng tình cảm vợ chồng càng mặn nồng, tha thiết. Chồng muốn cho vợ được sung
sướng còn vợ lại không muốn chồng chịu khổ cực vì mình: “Nay cháu muốn về mà hủ
hỉ với ông nhưng mà có về thì về cho đủ vợ đủ chồng, chớ đạo vợ chồng phú tắc cộng
lạc, bần tắc cộng ưu, lẽ nào cháu về vui hưởng thanh nhàn, còn để chồng cháu dày
bừa gió bụi cho đành” [20; tr. 42]. Đó chính là biểu hiện của sự chia sớt ngọt bùi,
thuận vợ thuận chồng trong gia đình. Tình yêu thương thắm thiết, sâu sắc với vợ đã trở
thành động lực giúp cho Chí Đại bôn ba nơi xứ người với một mục đích duy nhất là
GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

đem lại cuộc sống đầy đủ, sung sướng cho Bạch Tuyết bằng sức lực của mình. Cũng vì
hiểu được tình cảm sâu nặng của chồng nên Bạch Tuyết luôn nhớ thương Chí Đại cùng
với sự lo lắng, cuối cùng phải lâm bệnh nặng. Chính tình cảm vợ chồng luôn sâu sắc
và bền vững theo năm tháng nên sau bao vất vả, thử thách Bạch Tuyết và Chí Đại đã
có được hạnh phúc trọn vẹn.
Như Thạch và Nhung trong tiểu thuyết Tại tôi cũng là một cặp vợ chồng làm cho
người đọc xúc động sâu sắc trước tình cảm của họ. Hôn nhân của Như Thạch và
Nhung đã hoàn toàn không nhận được sự chấp thuận của gia đình cho đến phút cuối
cùng. Tình yêu của họ trong sáng, mãnh liệt và sâu nặng biết bao. Đứng trước hoàn



Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

chân thành, thắm thiết nên họ luôn mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc và chia sẻ
những nỗi lo toan, cực khổ với nhau. Dù sống trong hoàn cảnh đói nghèo, cực khổ
phải vất vả cho từng bữa cơm manh áo nhưng Như Thạch luôn hết lòng quan tâm, đùm
bọc cho mẹ con Nhung, những người mà Như Thạch xem như máu thịt của mình. Và
một người vợ như Nhung cũng thật đáng quý biết bao. Như Thạch yêu thương vợ với
tất cả tình cảm của mình và Nhung cũng vậy, đối với cô được ở bên cạnh chồng là
hạnh phúc lớn nhất: “Anh dạy thế nào em cũng vâng hết, dầu anh biểu em chết em
cũng vâng nữa. Miễn được gần anh, dầu em phải nhục nhã khổ cực đến thế nào em
cũng chẳng nề hà” [38; tr. 17]. Nhung vì yêu thương chồng mình không muốn để cho
chồng phải bận tâm, lo lắng nên đã cố tình che dấu bệnh tình của mình. Và Như Thạch
cũng vậy, dù biết sức khỏe của mình không được tốt nhưng vẫn tỏ ra khỏe mạnh cũng
vì không muốn đem lại sự lo lắng, buồn rầu cho vợ. Những việc làm của họ tuy có
chút không thành thật nhưng điều đó lại đáng quý vì nó đều xuất phát từ tình yêu
thương chân thành và sâu nặng. Và cũng vì tình cảm vợ chồng quá tha thiết, gắn bó
nên Như Thạch không thể chịu đựng nổi cái chết của Nhung dẫn đến lâm bệnh nặng,
không cứu chữa được.
Qua tình cảm vợ chồng của Hương sư Cu - cô Tư Lựu, Bạch Tuyết - Chí Đại,
Như Thạch - Nhung càng làm cho con người trong xã hội lúc bấy giờ tin tưởng vào sự
bền vững trong tình nghĩa vợ chồng. Cuộc sống gia đình của họ có được sự thuận hòa,
hạnh phúc chính là nhờ vợ chồng sống với nhau luôn biết giữ trọn đạo tào khang.
Thông qua những tình cảm vợ chồng tốt đẹp đó, Hồ Biểu Chánh đã thể hiện quan niệm
của cha ông ta từ ngàn xưa như một chân lí. Đó chính là sự “Thuận vợ thuận chồng tát
bể Đông cũng cạn”. Qua đó chúng ta nhận thấy rằng, tình cảm của con người thật cao
đẹp biết mấy nhất là tình cảm vợ chồng. Chính sự sâu sắc, mặn nồng đã tạo cho tình

Dân gian ta có câu “Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi má lót lá mà nằm”. Tình cảm
sâu nặng của người mẹ đối với con cái mà dân gian thường ca tụng được thể hiện sâu
sắc trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Trong tiểu thuyết Cay đắng mùi đời, một
tiểu thuyết phóng tác theo tiểu thuyết Không gia đình của Hector Malot. Bà Hội đồng
Nhàn là một người mẹ với tình yêu thương con thật sâu nặng, tha thiết. Đó là người
mẹ luôn sẵn sàng hy sinh cho con mình tất cả. Tình cảm đó xuất phát từ chính trái tim
nhạy cảm của người làm mẹ, từ sợi dây tình cảm thiêng liêng của con người. Bà Hội
đồng Nhàn do sơ ý không đề phòng sự ác độc, tham lam của người thân nên đã đánh
mất con mình là Phan Thanh Nhã suốt mười lăm năm. Đối với bà, đứa con luôn quan
trọng hơn cả bạc tiền: “Chú nó ráng kiếm dùm con tôi, kẻo tội nghiệp tôi quá … Ai mà
ăn ở bất nhơn thất đức lắm như vậy không biết … Cha chả! Ai có khuấy chơi xin trả
con tôi lại cho tôi, muốn xin một hai ngàn gì tôi cũng cho hết” [25; tr. 65]. Mất con là
một nỗi đau quá lớn, bởi đó là sự mất mát về tình cảm. Vì thế, bà luôn nhớ thương con
day dứt khôn nguôi: “Bà Hội đồng nhớ con ăn ngủ không được ngày đêm cứ ngồi
khoanh tay mà khóc hoài. Ông Hội đồng an ủi hết sức, tuy bề ngoài bà gượng làm
khuây song trong lòng bà chẳng giây phút nào mà quên con được” [25; tr. 65]. Suốt
mười lăm năm, một khoảng thời gian dài đằng đẵng, nỗi nhớ thương con luôn da diết.
Bà trăm phương ngàn kế để tìm kiếm con mà không ngại khó khăn, vất vả hay tốn kém
bạc tiền. Gặp lại con sau bao năm xa cách, bà Hội đồng Nhàn vui mừng khôn xiết:
“Phải rồi, phải rồi, đồ của con tôi đây mà, đây cái áo đầm nầy tôi may, đường kim
mũi chỉ làm sao tôi quên được, đôi vớ nầy nữa đây, còn cái mền nầy của chồng mua
dưới chợ Cần Thơ nữa đây; con ôi, con, mấy năm nay con xiêu lạc làm cho mẹ phiền
não đêm ngày” [25; tr. 69]. Bà nhìn con với cái nhìn dịu dàng, thân thương, chứa chan
tình cảm của một người mẹ. Nỗi nhớ thương con da diết trong mười lăm năm được gởi
gắm qua những nụ hôn ngọt ngào. Tình mẫu tử là tình cảm sâu nặng và thiêng liêng
của con người. Tình cảm đó gắn bó đến nỗi khó có thế lực nào chia cắt được. Bởi đối
với người mẹ đứa con như núm ruột dính liền của mình. Trong tiểu thuyết Ngọn cỏ gió
GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh

con chính là sức mạnh giúp cho nàng vượt qua tất cả: “Con tôi về tới rồi, may lắm.
Con ôi! Má đây con, má trông con quá” [36; tr. 121]. Những lời nói tha thiết, chân
thành xuất phát từ tình yêu thương, nỗi nhớ da diết của một người mẹ thật xúc động và
chan chứa biết bao tình cảm. Nỗi nhớ con không chỉ hiện hữu trong hiện tại mà cả
những giấc mơ. Chính điều đó đã thể hiện rõ nét tình yêu thương con của Ánh Nguyệt:
“Hồi nãy cháu nằm chiêm bao cháu thấy con Thu Vân về tới rồi, nó chơi với sắp nhỏ
ngoài sân, mà cháu kêu nó không chịu vô” [36; tr. 121]. Cuối cùng dù rất mong muốn
được gặp con nhưng Ánh Nguyệt đã phải ra đi trong nỗi oán hận kẻ vô tình vô nghĩa
và cả nỗi nhớ thương con tha thiết. Cũng là một người mẹ với tình yêu thương vô bờ
bến nhưng Ánh Nguyệt đã không có được hạnh phúc như bà Hội đồng Nhàn. Dù đã
trải qua nhiều vất vả, tủi cực để được ở gần con nhưng cuối cùng Ánh Nguyệt đã phải
xa lìa con mãi mãi. Tình mẫu tử của họ thật đáng kính trọng và xúc động biết mấy.
GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Người mẹ là người sinh thành, mang nặng đẻ đau và nuôi dưỡng con cái trưởng
thành. Đối với người mẹ, con chính là núm ruột, là máu thịt không thể rời xa. Con là
niềm tin, là hy vọng, tình yêu của người mẹ. Bà Hội đồng Nhàn và Ánh Nguyệt là
những người mẹ đáng kính, đáng yêu. Đó cũng chính là những người mẹ của đất nước
Việt Nam. Những người luôn yêu thương và hy sinh cho con tất cả như dân gian
thường nói “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng”. Qua tiểu thuyết Cay đắng mùi đời, Hồ
Biểu Chánh còn làm cho người đọc phải ngậm ngùi và cảm thấy tự hào trước tình cảm
mẹ con giữa Ba Thời và thằng Được tức Phan Thanh Nhã. Ba Thời và Được tuy không
có sự ràng buộc bởi mối quan hệ mẹ con ruột thịt. Nhưng trên thực tế tình cảm của họ



Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

sau mầy coi, chừng tao làm giàu lớn thì tao sẽ làm cho má tao sung sướng lắm …
Chắc tao về đây má tao vui lắm” [25; tr. 46]. Bà Hội đồng Nhàn luôn nhớ thương con
mình suốt mười lăm năm xa cách, Ba Thời cũng vậy. Tuy là con nuôi nhưng Ba Thời
vẫn luôn lo lắng, nhớ thương thằng Được: “Con đi năm sáu năm nay má nhớ con hết
sức mà má cũng lo sợ không biết con mạnh giỏi thế nào” [25; tr. 49].
Qua tình cảm mẹ con của bà Hội đồng Nhàn, Lý Ánh Nguyệt và Ba Thời đối với
những đứa con, chúng ta càng khẳng định mạnh mẽ hơn nữa về sự thiêng liêng và cao
quý của tình mẫu tử. Tình cảm mẹ con là một tình cảm phổ biến, cao đẹp. Nó xuất
hiện ở mọi hoàn cảnh, càng trải qua nhiều thử thách càng thấy ngời lên nét đẹp của
tình cảm thiêng liêng này. Trong cái nhìn của Hồ Biểu Chánh, nó vẫn đang hiện hữu
trong cuộc sống của người Nam bộ, làm nên những giá trị đạo đức cao quý, tôn vinh
những nét đẹp trong gia đình của người dân Nam bộ.
Người mẹ là người có công mang nặng đẻ đau, ẵm bồng, dạy dỗ cho con cái nên
vóc nên người. Đối với con, người cha cũng là người có công sanh thành, nuôi dưỡng
rất sâu nặng. Bởi vậy, ngoài tình mẫu tử cao quý thì tình cha con cũng là một tình cảm
sâu nặng và thiêng liêng của con người. Đạo cha con là một đạo trọng trong gia đình.
Vì vậy, trong gia đình truyền thống của người Việt Nam, người cha có quyền tuyệt đối
với con cái. Tuy không có sự quy định chặt chẽ của pháp luật nhưng theo đạo đức,
luân lí của nước ta thì người cha trong gia đình đối với con phải làm tròn trách nhiệm,
phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái trưởng thành và người con trong gia đình cũng
phải làm tròn nghĩa vụ của mình. Đó là phải biết thương yêu, kính trọng, làm tròn đạo
hiếu với cha mẹ. Qua tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, người đọc dễ dàng nhận thấy
rằng, ngoài tình cảm mẫu tử thiêng liêng và gắn bó của con người thì tình phụ tử cũng
sâu nặng, thiết tha không thua kém. Ngoài hình ảnh những bà mẹ với tình yêu thương

người làm cha đối với con mình và những lời tâm tình ấy rất chân thành: “Con chớ
nên tưởng rằng cha không thương con. Cha thương con lắm, cái tình của cha thương
con cha dám chắc không thua ai đâu. Con nên biết rằng vì cha thương con nên cha
phải xa lánh con, vì cha thương con mà cha phải giấu, không dám cho con biết, thuở
nay đi thăm con hoài, chừng vài ba tháng cha đi thăm một lần, mà mỗi lần thăm thì
cha đậu xuồng dựa bên đường con đi học, rồi ngồi xuống ngó con mà thôi, chớ không
dám nói tiếng chi, hoặc làm điều chi cho con biết. Vậy con đừng có tưởng cha không
thương con” [36; tr. 150]. Tuy không tận tay nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ cho con
nên vóc nên người nhưng người cha đó luôn dõi theo từng bước đi của con mình. Tuy
không thể đem lại cho con cuộc sống ấm êm nhưng có thể nói Thể Hùng cũng đã gián
tiếp đem lại cuộc sống đầy đủ về vật chất cho con thông qua sự hy sinh tình phụ tử.
Việc làm của Thể Hùng đúng hay sai là do sự nhìn nhận của mỗi người. Nhưng một
điều mà ai cũng phải khẳng định. Đó là việc làm của Thể Hùng là sự hy sinh cao cả
xuất phát từ tấm lòng của người cha đối với con. Thể Hùng vì yêu thương con nên
chấp nhận chịu đựng mọi đau khổ, sầu não: “Nghĩ vì thương con thì phải làm cho con
nên, chớ không lẽ làm cho con hư, bởi vậy cha phải bóp bụng dằn lòng mà ưng chịu,
thà là cha vì con mà áo não, chớ cha không nỡ làm cho con phải vì cha mà hạ tiện bần
cùng” [36; tr. 152]. Chính tình yêu thương con sâu nặng của Thể Hùng là sợi dây gắn
kết tình cảm cha con ruột thịt giữa Thể Hùng và Thể Phụng. Sự yêu thương đó đã khơi
dậy tình cảm của Thể Phụng đối với cha mà từ lúc nhỏ đã bị ông ngoại và dì dạy bảo
trở thành sự xem thường, oán hận. Hơn nữa, tình phụ tử vốn là một tình cảm thiêng
liêng, cao quý của con người nên nếu đã là những con người đúng nghĩa thì không thế
lực nào có thể chia cắt được. Vì vậy, ngay khi biết cha mình vẫn còn sống Thể Phụng
rất khao khát được gặp cha. Những lời nói của Thể Phụng với cha mình thật xúc động.
Tuy mười mấy năm xa cách, không được cha dạy dỗ, ẵm bồng nhưng khi hiểu rõ tình
cảm của cha đối với mình thì Thể Phụng một lòng yêu thương, kính trọng và tự hào về
cha. Tình cảm của cha đối với con sâu nặng và con đối với cha cũng một lòng hiếu
GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh

điều chi không phải rồi còn đạp chết vợ nữa, chúng nó thương mẹ trở lại oán tôi, thì
còn khổ cho tôi biết chừng nào” [26; tr. 14]. Vì thế, Văn Sửu phải trốn đi, bôn ba xứ
người, chịu đựng cuộc sống vất vả, đau khổ suốt mười một năm chỉ mong có một ngày
được gặp lại con và cho chúng hiểu được tấm lòng của mình: “Mười một năm nay cực
khổ hết sức, song ráng mà sống, là vì trông mong có ngày gặp được mặt con. Nay về
đến đây, chưa gặp được con mà phải đi, thì đi làm sao được, trời đất ơi!” [26; tr. 47].
Ước mơ, hy vọng gặp mặt những đứa con của mình là động lực giúp cho Văn Sửu
vượt qua bao khó khăn, vất vả, đau khổ, nhớ thương. Nhưng ước mơ, hy vọng ấy lại
không thực hiện được vì Văn Sửu không muốn làm cho con mình phải khó xử. Văn
Sửu chấp nhận hy sinh tất cả để cho Tý và Quyên được hạnh phúc. Vì thế Văn Sửu
một lần nữa phải đau đớn ra đi, đau đớn lìa xa con mình: “Tôi phải chịu đau đớn cực
khổ buồn rầu, con tôi mới nên được. Tôi vui lòng mà lãnh các sự đau đớn buồn rầu
GVHD: Huỳnh Thị Lan Phương

SVTH: Huỳnh Ngọc Minh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

đó, miễn là con tôi được giàu có sung sướng thì thôi” [26; tr. 47]. Đó là một người cha
đáng thương và đáng kính trọng biết bao. Người cha ấy yêu thương con mình tha thiết,
sâu nặng. Vì hạnh phúc của con sẵn sàng chịu mọi đau khổ, buồn rầu cho riêng mình.
Yêu thương con với tất cả tấm lòng và cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh cho con tất cả.
Người cha ấy đã xem hạnh phúc của con là hạnh phúc của bản thân. Và những đứa con
cũng một lòng yêu thương, hiếu thảo với cha mình. Tý với Quyên khi biết cha mình
vẫn còn sống rất vui mừng hơn người ta cho tiền cho bạc: “Đi riết, anh Hai. Em nghe
nói em mừng quá. Cha về hồi nào? Làm sao anh gặp được? Ông ngoại hay rồi hay
chưa” [26; tr. 51]. Những câu hỏi dồn dập đã bộc lộ được tình yêu thương, nỗi nhớ



Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Cu, đứa con chính là sinh mạng của mình: “Nếu thằng Hai có bề nào, thì tôi cũng
chết, chớ tôi không sống được” [28; tr. 52]. Không phải máu thịt của mình, hình hài do
mình tạo ra nhưng qua lời nói chân thành xuất phát từ trái tim của những bậc làm cha
mẹ đã cho độc giả cảm nhận sâu sắc tình cảm cha con mà Hương sư Cu dành cho đứa
con yêu quý của mình. Đứa con là tất cả. Nó quan trọng hơn so với sự giàu nghèo:
“Nhà giàu thương con, nhà nghèo cũng biết thương con vậy chớ. Ai nỡ cắt thịt mà
trao người khác được. Vợ chồng tôi nghèo thì nuôi con theo phận nghèo. Cái tình
thương con là quý, chớ giàu nghèo có nghĩa gì đâu” [28; tr. 48]. Tình yêu thương của
Hương sư Cu đối với con thật sâu nặng. Tuy nhìn bề ngoài khó hiểu nhưng phù hợp
với luân lí gia đình và thật đáng kính trọng. Hương su Cu đã yêu thương, chăm sóc con
của Tư Lựu với trách nhiệm của một người cha. Đó là một tình yêu sâu nặng, mãnh
liệt và rất chân thành, xuất phát từ tình phụ tử thiêng liêng của con người. Và thầy
Kinh lý Hai khi biết được sự thật vẫn một lòng yêu thương, kính trọng Hương su Cu
như tình cảm của một đứa con dành cho cha của mình: “Thưa cha, con biết được căn
nguyên của con rồi thì con càng thương má, kính cha bằng mười hồi trước nữa. Người
như cha má mà con không thương yêu kính trọng thì con có phải là loài người đâu.
Chẳng nói tới công sanh thành của má, công dưỡng dục của cha làm chi, nội một sự
cha má cản hôn nhơn của con đây thì cũng đủ cho con thương yêu kính trọng đời đời
kiếp kiếp” [28; tr. 90]. Một người cha đáng quý, đáng kính trọng trong xã hội Nam bộ
lúc bấy giờ không chỉ có Hương sư Cu mà còn có những người cha khác như Lê
Thành Cang, một thợ sửa xe ít học thức nhưng là một con người có nhân cách cao đẹp.
Ông là một người cha lí tưởng, luôn yêu thương, lo lắng cho con với tất cả tình thương
yêu. Dù rằng ông không phải là cha ruột của Lê Thành Nghiệp. Tình yêu thương mà
Lê Thành Cang dành cho Nghiệp được thể hiện sâu sắc, rõ nét khi sự thật có thể được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status