TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
LÊ TÂY HỒ
TÌM HIỂU TÁC TỬ CÚ PHÁP THÌ, LÀ, MÀ
TRONG SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. CHIM VĂN BÉ
Cần Thơ, năm 2011
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích – Yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG MỘT. MỘT SỐ LÍ THUYẾT CHUNG
VỀ NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
I.
KHÁI NIỆM NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
2.3. Quy tắc thứ ba
3. Cách dùng tác tử thì
3.1. Bắt buộc dùng thì
3.2. Không bắt buộc dùng thì
4. Cách dùng tác tử là
4.1. Bắt buộc dùng là
4.2. Không bắt buộc dùng là
5. Cách dùng tác tử mà
5.1. Bắt buộc dùng mà
5.2. Không bắt buộc dùng mà
IV.
CÁC YẾU TỐ PHỤ TRỢ ĐÁNH DẤU THÊM PHẦN ĐỀ, PHẦN
THUYẾT, PHÂN GIỚI VÀ ĐÁNH DẤU ĐỀ - THUYẾT
1. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề tài
2. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề khung
3. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm phần thuyết, bao gồm các vị từ tình thái
4. Các phó từ dùng để đánh dấu phần thuyết
5. Các yếu tố phụ trợ phân giới và đánh dấu đề - thuyết
V.
ĐỀ TÌNH THÁI VÀ THUYẾT TÌNH THÁI
1. Khái niệm đề tình thái
2. Chức năng phân giới đề tình thái của các tác tử chuyên dùng
2.1. Đề tình thái được đánh dấu bằng thì
2.2. Đề tình thái được phân giới bằng mà
2.3. Đề tình thái được phân giới bằng là
3. Khái niệm về thuyết tình thái
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngữ pháp học chức năng là một hệ thống lí thuyết nghiên cứu ngữ pháp tiếng
Việt hiện nay ở nước ta. Hệ thống lí thuyết này cho phép chúng ta nghiên cứu tiếng
Việt một cách khái quát hơn, toàn diện hơn so với ngữ pháp học truyền thống trước đó.
Qua tìm hiểu cụ thể, chúng tôi thấy rằng hướng nghiên cứu này có sức bao quát gần
hết câu tiếng Việt. Vì vậy, chúng tôi chọn quan điểm chức năng luận làm nền tảng
nghiên cứu cho đề tài của mình.
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm
chức năng luận. Đánh chú ý nhất là công trình Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức
năng của Cao Xuân Hạo. Theo Cao Xuân Hạo thì cấu trúc cú pháp cơ bản của câu
tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết. Trong quyển sách này, ông nêu ra các phương tiện
chuyên dùng để phân chia biên giới hai thành phần cơ bản này của câu, đó là thì và là.
Ngoài công trình trên, thì còn có nhiều công trình khác cũng cho rằng cấu trúc cú pháp
cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết. Đa số các tác giả cho rằng giữa hai
thành phần đề và thuyết có những phương tiện chuyên dùng để đánh dấu và phân giới,
trong đó chủ yếu là thì, là, mà. Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về Ngữ
pháp học chức năng, chúng tôi thấy rằng các từ thì, mà, là có chức năng quan trọng
trong câu tiếng Việt. Chúng có nhiều chức năng, nhưng đánh chú ý nhất là chức năng
đánh dấu và phân chia biên giới đề - thuyết trong câu. Do đó, để tìm hiểu sâu hơn về
các từ này, chúng tôi chọn tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng để khảo sát, mà cụ
thể là chức năng đánh dấu và phân chia biên giới đề - thuyết.
Ngoài lí do trên, chúng tôi còn muốn tìm hiểu cách dùng câu của Vũ Trọng
Phụng trong Số đỏ, để có thêm một hướng nhìn nhận về tác phẩm này theo hướng
và đặc biệt là các yếu tố đi kèm với thì, mà, là để đánh dấu loại đề tình thái và thuyết
tình thái này.
Ngoài các công trình nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm chức năng luận và
các tác tử thì, mà, là nêu trên, thì còn có các công trình nghiên cứu về ngôn từ nghệ
thuật trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
Đỗ Đức Hiểu với bài nghiên cứu Những lớp sóng ngôn từ trong “Số đỏ”. Tác
giả cho rằng lớp sóng ngôn từ của Số đỏ là “lớp sóng ngôn từ đô thị” [12; tr. 183].
Qua những điều trình bày về những lớp sóng ngôn từ trong tác phẩm thì tác giả khẳng
định “Số đỏ là một hệ thống ngôn từ đặc sắc mang tính xã hội và tính lịch sử cụ thể.”
[12; tr. 193]. Trong bài nghiên cứu này, ông cũng cho rằng “những cách tiếp cận khác
sẽ khai thác nhiều ý tiềm ẩn phong phú của cuốn tiểu thuyết lớn này của Vũ Trọng
Phụng” [12; tr. 193].
Cùng với bài nghiên cứu được in chung quyển sách với Đỗ Đức Hiểu, Võ Thị
Quỳnh có bài nghiên cứu “Số đỏ” và sự phá sản của ngôn ngữ. Tác giả cho rằng “Khi
nào mà còn có những Xuân Tóc Đỏ chỉ biết chê nhà tù này hẹp, khoe nhà tù kia rộng
thì - Số đỏ - tiểu thyết phóng sự của Vũ Trọng Phụng còn sức công phá” [12; tr. 272].
Bà cũng khẳng định thêm “Cần có sự phá sản của ngôn từ nhưng với một điều kiện:
thực tiễn tốt hơn cho ngôn ngữ sáng đẹp hơn.” [12; tr. 272]
Nói chung, tất cả các công trình nghiên cứu trước đó về chức năng thì, mà, là
trong câu theo quan điểm chức năng luận, hay các công trình nghiên cứu về ngôn từ
nghệ thuật của Số đỏ đều chưa tìm hiểu về tác tử thì, mà, là được thể hiện như thế nào
trong Số đỏ.
III. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
1.
Mục đích
Nhưng muốn tìm hiểu cụ thể chức năng cũng như cách dùng của từng tác tử, thì chúng
tôi dựa vào nền tảng hệ thống lí thuyết chức năng luận. Phạm vi xoay quanh đề miêu
thuật – thuyết miêu thuật, đề tình thái – thuyết tình thái, các cách dùng bắt buộc và
không bắt buộc của ba tác tử thì, mà, là.
Khi đã có những lí thuyết chung thì chúng tôi đi vào khảo sát và phân loại câu
có dùng các tác tử trong từng trường hợp cụ thể. Cuối cùng là dựa vào kết quả tìm
hiểu, chúng tôi khái quát lên cách dùng từ của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi dùng hai phương pháp nghiên cứu
chính. Đó là phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
Phương pháp phân tích được chúng tôi dùng vào việc phân tích câu, chia tách
câu từ cấp độ lớn đến cấp độ nhỏ. Sau đó trình bày thành sơ đồ phân tích cú pháp câu
và xem xét mối quan hệ giữa các thành phần trong câu.
Phương pháp tổng hợp được chúng tôi thực hiện sau khi đã khảo sát và phân
tích từng câu văn cụ thể có chứa tác tử. Chúng tôi tổng hợp các kết quả lại và miêu tả
chúng thành các mục, tiểu mục trong văn bản.
***
CHƯƠNG MỘT. MỘT SỐ LÍ THUYẾT CHUNG VỀ
NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
I. KHÁI NIỆM NGỮ PHÁP HỌC CHỨC NĂNG
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Ngữ pháp học chức năng, trong số đó có
định nghĩa của Chim Văn Bé mà chúng tôi cho là hoàn chỉnh nhất. Chúng ta có thể
tham khảo định nghĩa của ông:
“Ngữ pháp học chức năng là hệ thống lí thuyết ngữ pháp có nhiệm vụ nghiên
cứu, xác lập hệ thống các cấp độ đơn vị ngôn ngữ hay ngôn từ, song song với nhiệm
Cả hai khái niệm đều có quan điểm riêng của nó. Tuy nhiên, Cao Xuân Hạo
nêu ra thành tố trực tiếp thứ hai mà không nêu ra thành tố trực tiếp thứ nhất. Khi đó,
định nghĩa của Chim Văn Bé thì rõ ràng và lô gích hơn. Vì vậy, chúng tôi chọn khái
niệm của Chim Văn Bé làm cơ sở đi vào xem xét đề và thuyết.
Chúng ta xem các câu sau đây, những từ ngữ in nghiêng là đề, từ ngữ gạch
dưới là thuyết.
1) Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả. (VTP: SĐ)
2) Bệnh tật khủng khiếp và đói khổ triền miên đã tận diệt cuộc sống nơi đây.
(BN: NBCT)
3) Ông lẩy bẩy đứng dậy. (LL: TXV)
10. Phân loại đề
Trong các công trình nghiên cứu trước đó của Cao Xuân Hạo và Chim Văn Bé
thì đều cho rằng đề miêu thuật có hai loại: ngoại đề và nội đề. Ngoại đề thì hai tác giả
đều thống nhất với nhau về quan điểm. Tuy nhiên, nội đề thì hai ông có quan niệm
khác nhau. Cao Xuân Hạo cho rằng, nội đề bao gồm chủ đề, khung đề. Khi đó, Chim
Văn Bé thì khác, ông cho rằng nội đề bao gồm đề tài, đề khung.
Theo chúng tôi, bộ khái niệm của Cao Xuân Hạo có vấn đề không ổn. Thứ
nhất, ông dùng không thống nhất về thuật ngữ, đáng lẽ sau chủ đề, khung đề là tình
thái đề thì ông gọi là đề tình thái. Thứ hai, giữa chủ đề của ông và chủ đề thuộc lĩnh
vực văn học không đồng nhất về nội hàm, điều này được Chim Văn Bé trình bày rất rõ
ràng trong Giáo trình Ngữ pháp học chức năng: Cú pháp học (xem [1; tr. 53]). Chim
Văn Bé thì dùng bộ khái niệm có sự thống nhất về thuật ngữ, và giữa đề tài của ông có
cùng nội hàm với lĩnh vực văn học. Như vậy sẽ không dẫn đến sự chồng chéo về thuật
ngữ. Vì vậy, chúng tôi chọn bộ khái niệm của Chim Văn Bé.
3.1. Ngoại đề
Theo Chim Văn Bé, “Ngoại đề là đề có chức năng đưa đẩy, dẫn nhập vào sự
tình được nêu trong câu, cú chính. Nó thường nêu lên đối tượng như sự vật ngoại tại,
Mắt cậu trời bỗng sáng lên vui mừng. (NHT: ĐHLT)
10) Hai chiếc L.19 đã bay lộn lại. (NK: RĐ)
3.2. 2. Đề khung
Khái niệm khung đề của Cao Xuân Hạo được định nghĩa như sau: “Khung đề
là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống, thời gian,
không gian, trong đó điều được nói đến ở phần thuyết có hiệu lực.” [7; tr. 154]
Còn chúng tôi thì thống nhất với khái niệm của Chim Văn Bé.
“Đề khung là loại đề nêu lên một cái khung về thời gian, không gian, trạng
huống, điều kiện, số lượng...mà nội dung được triển khai tiếp theo trong phần thuyết
có hiệu lực” [1; tr. 54].
Chúng tôi chọn khái niệm của Chim Văn Bé vì ông vạch ra phạm vi của cái
khung rất rõ ràng, bao gồm: thời gian, không gian, trạng huống, điều kiện, số lượng.
Khi đó, Cao Xuân Hạo thì không nêu ra điều kiện và số lượng. Mà theo khái niệm của
ông thì cảnh huống, thời gian, không gian là tiểu loại của điều kiện.
Chúng ta xem các câu sau, có phần gạch dưới là đề khung:
11) Lần này thì bà đã bỏ cái áo dài, cái khăn vành dây. (VTP: SĐ)
12) Bao giờ dân ta đến trình độ ấy? (VTP: SĐ)
13) Nỗi bực như tăng lên gấp đôi. (MVK: MĐ)
14) Hôm thì người mất gà. Hôm thì người mất chó. (MVK: XG)
Lưu ý: đề tài hay đề khung thông thường được đặt trước thuyết, và nếu không
có thành phần phụ đứng trước thì nó thường mở đầu câu, cú. Và khi lô gích ngôn từ
trong câu rõ ràng và khôn gây nhằm lẫn thì đề tài của câu có thể dễ dàng bị lược bỏ.
11. Mở rộng cấu trúc câu theo quan hệ ngữ đoạn: hiện tượng ghép
Câu tiếng Việt có thể được cấu tạo bằng một cấu trúc đề - thuyết duy nhất. Tuy
nhiên, chúng ta cũng bắt gặp những trường hợp câu có nhiều đề, nhiều thuyết hay
nhiều cấu trúc đề - thuyết ghép lại với nhau theo một trật tự tuyến tính hay bằng các
III. CÁC YẾU TỐ CHUYÊN DÙNG PHÂN GIỚI VÀ ĐÁNH DẤU
ĐỀ - THUYÊT
6. Một số hiểu biết chung
Trong tiếng Việt, có ba yếu tố chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề thuyết trong câu, đó là thì, mà, là, được gọi là các tác tử cú pháp. Trong Giáo trình
ngữ pháp học chức năng tiếng Việt: Cú pháp học, Chim Văn Bé đã nêu ra một số hiểu
biết chung về ba tác tử thì, mà, là như sau:
1.1. Đối với thì (biến thể phát âm là thời)
- Thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết khi đề mang tính chất
đối sánh với đề khác, được nêu ra hay mang tính chất tiền giả định.
- Thì đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết khi đề của câu,
cú, tiểu cú là đề khung chỉ điều kiện, thời gian, không gian, cảnh huống hay số lượng,
và không mang tính chất đối sánh.
1.2. Đối với mà
- Mà đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết khi đề và thuyết có quan hệ bất
thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận của người nói.
- Mà đánh dấu phần thuyết khi đề là đề khung nêu lên điều kiện, còn phần
thuyết nêu hệ quả nghịch thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận của người nói. Khi
đề khung nêu điều kiện, phần thuyết nêu lên hệ quả thông thường, thì phần thuyết có
thể đánh dấu bằng thì.
1.3 Đối với là
- Trong câu, là có thể là tác tử chuyên dùng khi nó có tác dụng thuyết hoá
những ngữ đoạn phi thuyết tính (phi vị từ tính). Khi đó, là đánh dấu phần thuyết và
phân giới đề - thuyết.
- Ngoài chức năng trên, là còn có thể là vị từ quan hệ. Trong trường hợp này,
là không có tác dụng phân giới đề - thuyết, mà nó thuộc phần thuyết và có chức năng
đánh dấu phần thuyết.
2.3. Quy tắc thứ ba
Ở hai bậc đề - thuyết kế cận nhau, thì, mà, là hoặc là chỉ được dùng phân giới
kết cấu đề - thuyết bậc trên, hoặc là chỉ được dùng phân giới kết cấu đề - thuyết bậc
dưới. Chẳng hạn như các câu sau:
28) Mồng bốn cá đi ăn thề.
Mồng tám cá về cá vượt vũ môn. (TN)
Trong câu này chúng ta có thể dùng thì để kiểm tra biên giới đề - thuyết của 2
bậc quan hệ khác nhau.
Cách kiểm tra thứ nhất là chúng ta đưa thì vào kiểm tra biên giới đề - thuyết
bậc câu.
Mồng bốn (thì) cá đi ăn thề.
Mồng tám (thì) cá về cá vượt vũ môn. (+)
Cách kiểm tra thứ hai là chúng ta đưa thì vào kiểm tra biên giới đề - thuyết bậc
tiểu cú.
Mồng bốn cá (thì) đi ăn thề.
Mồng tám cá (thì) về cá vượt vũ môn. (+)
Tuy nhiên chúng ta không thể đưa thì vào hai vị trí cùng lúc được.
Mồng bốn (thì) cá (thì) đi ăn thề.
Mồng tám (thì) cá (thì) về cá vượt vũ môn. (-)
Chúng ta xem tiếp câu dưới đây:
29) Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau người cười. (CD)
Chúng ta có 2 vị trí đứa thì vào câu. Thứ nhất là:
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, (thì) hôm sau người cười. (+)
Thứ hai là:
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước, hôm sau (thì) người cười. (+)
3.2. Không bắt buộc dùng thì
3.2.1. Không bắt buộc dùng thì để đánh dấu đề hay thuyết và phân giới đề thuyết khi biên giới đề - thuyết đã rõ ràng, nhờ đề mang tính xác định, hay khi đề mang
tính chất đối sánh.
3.2.2. Không bắt buộc dùng thì khi câu có đề khung là đại từ hồi chiếu thế, vậy
thay thế cho sự tình nào đó đã được nói đến.
3.2.3. Hay là trong các câu tục ngữ được cấu tạo bằng hai vế đối xứng nhau, thì
cũng không bắt buộc dùng.
Các câu sau đây có thì không bắt buộc dùng. Chúng tôi thêm tác tử thì trong
ngoặc.
30) Ông cụ (thì) tỉnh cơn ngủ gật tức khắc, lôi ngay cái bút lông gài ở tai
xuống nhanh nhẹn chẳng kém những thầy cảnh sát lúc biên phạt. (VTP: SĐ)
31) - Bẩm ngài, dù là xấu, dù là chẳng may, thì mọc sừng cũng là chịu thiệt
hại. Vậy (thì) ngài định mọc sừng cũng là chịu thiệt hại. Vậy (thì) ngài định đền bù tôi
ra làm sao? (VTP: SĐ)
Ngoài các trường hợp bắt buộc và không bắt buộc dùng thì nêu trên, thì khi đề
của câu, cú xác định và không mang tính đối sánh, thì chúng ta không thể dùng thì.
Ngoài ra thì còn được dùng với chức năng khác, đó là: thì là kết từ, làm chuyển
ngữ của câu (một loại thành phần phụ của câu), hay thì kết hợp với rồi, tạo thành tổ
hợp rồi thì, được dùng ở đầu câu, cú, khi đó thì là chuyển ngữ.
9. Cách dùng tác tử là
4.1. Bắt buộc dùng là
4.1.1. Bắt buộc dùng là trong câu luận định. Bao gồm các kiểu câu: câu định
tính, câu định lượng, câu định vị, câu đẳng thức, câu trùng ngôn.
4.1.2. Trong kiểu câu có thuyết là ngữ đoạn phi vị từ tính như giới ngữ, tiểu cú,
tiểu cú có kết từ đứng trước (có chuyển tố tiền đính), danh ngữ xác định, từ trực chiếu,
đại từ hồi chiếu, khứ chiếu...
Ngoài các trường hợp nêu trên về cách dùng bắt buộc và không bắt buộc, thì là
còn thực hiện một số chức năng khác như: đánh dấu quan hệ chính - phụ; đặt sau từ
chỉ mức độ hay số lượng; dùng ở cuối câu cảm thán có thuyết là từ láy... Khi đó là
không có chức năng phân giới đề - thuyết. Và ngoài ra, là có khả năng kết hợp đa dạng
với các yếu tố khác tạo thành một số tổ hợp có xu hướng cố định hoá được dùng trong
câu.
10. Cách dùng tác tử mà
5.1. Bắt buộc dùng mà
5.1.1. Bắt buộc dùng mà khi đề và thuyết có mối quan hệ bất thường về mặt lô
gích theo sự nhìn nhận của người nói.
5.1.2. Bắt buộc dùng mà đánh dấu thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết các
bậc, khi đề là đề khung nêu điều kiện, và quan hệ đề - thuyết mang tính chất nghịch
thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận chủ quan của người nói.
5.1.3. Mà được dùng bắt buộc đánh dấu đề tiểu cú và phân giới đề - thuyết tiểu
cú làm đề khung chỉ điều kiện trong kiểu câu mà nếu vắng mà, đề khung sẽ trở thành
đề tài.
5.1.4. Khi đề tài là đại từ phiếm chỉ ai hay danh ngữ phiếm định, và phần
thuyết không có phó từ lại biểu thị sự bất thường làm yếu tố đánh dấu phụ trợ, thì mà
được dùng bắt buộc đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết các bậc.
5.1.5. Trong kiểu câu phủ định - phản bác có sắc thái cảm xúc mạnh thì mà
cũng được dùng bắt buộc.
Các câu sau có tác tử mà dùng bắt buộc để đánh dấu và phân chia biên giới đề thuyết các bậc:
37) - Quần với áo mà đến thế thì chả còn... che đậy gì được mấy tí. (VTP: SĐ)
38) Tôi mà dại thì cả cái xóm Am này phải ngu như con bò. (TH: BNK)
39) Ai mà lấy thúng úp voi
(Úp sao cho khỏi lòi vòi, lòi đuôi) (CD)
40) Ai mà quyết chí tu hành.
7. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề khung
Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề khung chỉ điều kiện bao gồm các yếu tố
là một số kết từ như nếu, hễ, giá, ví, dẫu,... Và các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm đề
khung chỉ thời gian, không gian bao gồm một số danh từ chỉ thời gian, không gian như
sáng, chiều, hôm, ngày, đêm,... nơi, chỗ, chốn.
8. Các yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm phần thuyết, bao gồm các vị từ
tình thái
3.1. Nhóm liền, bèn, lập tức, tức khắc, tức thì (tức thời): đặt trước ngữ vị từ
biểu thị hành động nào đó.
3.2. Nhóm ắt, khắc, tất (tất nhiên), chắc chắn, chắc hẳn: mở đầu phần thuyết,
nêu lên tính tất yếu của hành động, quá trình nào đó.
3.3. Nhóm đích, hẳn, rõ, thật (thực, thiệt), đích thực: mở đầu phần thuyết,
khẳng định tính chân thực của hành động, quá trình, tính chất,...
3.4. Nhóm chợt, sực, bỗng, bỗng dưng, bỗng nhiên, đột nhiên, (bất) thình lình:
nêu lên trạng huống bất ngờ của hành động, quá trình,...
3.5. Nhóm chực, suýt
9. Các phó từ dùng để đánh dấu phần thuyết
4.1. Phó từ cầu khiến hãy (hẫng), đừng, chớ, nên, khoan, chớ nên, hãy khoan:
biểu thị mệnh lệnh, yêu cầu hay lời khuyên nhủ thực hiện hay không thực hiện một
hành động, quá trình nào đó.
4.2. Phó từ mức độ hơi, khá (khí), rất, cực kì, tối, tuyệt: biểu thị mức độ của
tính chất, trạng thái, tư thế.
4.3. Phó từ hạn định mới.
10. Các yếu tố phụ trợ phân giới và đánh dấu đề - thuyết
tin x, theo lời x, đối với x, với x (thì),...
43) Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ. (NC: ĐM)
2.1.2. Cải chính điều được nêu tiếp theo mới là chân thực, chính xác so với nhận
định hay sự tình nào đó đã được đưa ra, hay được xem như tiền giả định. Các dạng
thức biểu đạt: sự thật, thật sự, thật ra, kể, kể ra, xem ra, nói đúng hơn, nói cho đúng
(thì),...
44) Sự thật thì thằng bé chẳng sao cả! (VTP: SĐ)
2.1.3. Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo mới là hợp lí, hợp lẽ
thường, nhưng nó đã không xảy ra. Dạnh thức biểu đạt: lẽ ra, lí ra, đáng ra, đáng lí,
đúng ra, đúng lí ra, đáng lẽ, đáng lẽ ra (thì),...
45) Đáng lẽ phải là một ngưòi thợ thì sư thầy lại đã đi tu. (NT: CĐ)
2.1.4. Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là điều tất nhiên, không thể khác đi.
Dạng thức biểu đạt rất đa dạng:
Thế nào (thì) ... cũng..., bất luận thế nào (thì) ... (cũng)...
Dù sao/dẫu sao (thì) ... , dù thế nào (đi nữa) (thì) ... cũng/vẫn...
Đàng nào (thì) ... cũng... , trước sau/trước sau gì (thì) ... cũng ...
Sớm muộn/sớm muộn gì (thì) ... cũng ...
Chẳng chóng thì chầy, chẳng sớm thì muộn, nói gì thì nói, gì thì gì,...
46) Dù sao thì việc cũng đã xẩy ra rồi. (VTP: SĐ)
2.1.5. Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là kết quả, khả năng tối đa hay kết
quả, khả năng cùng cực. Dạng thức biểu đạt: may ra, may lắm, quá lắm, giỏi lắm, cao
lắm, hết mức, bất quá, cùng lắm, nói cho cùng (thì),...
47) May ra, để anh đèo mày.(BN: NBCT)
2.1.6. Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là có cơ may hay nguy cơ xảy ra,
nhưng đã không xảy ra, và điều đó được xem là may mắn hay rủi ro. Dạng thức biểu
đạt: suýt nữa, suýt chút nữa, tí nữa, một tí nữa, thiếu (một) chút nữa (thì),...
48) Suýt nữa thì con cá chuối lọt lưới. (TH: BNK)
2.1.7. Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực so với sự tình
thức biểu đạt: hơi đâu, cớ chi, hà cớ chi, can chi (mà),...
55) Hơi đâu mà lo trước? (NC: BHQN)
2.2.5. Khẳng định sở thuyết hay sự tình được nêu tiếp theo là chân thực hay là
khả năng cùng cực. Dạng thức biểu đạt: có mà, được thành ngữ hoá.
56) (- Làm gì có nhiều mật mà ngọt). Có mà ăn cho no bụng là phúc rồi.
(NC:NG)
2.2.6. Phủ định tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo. Dạng
thức biểu đạt: dễ gì, làm sao, làm gì, biết đâu, biết thế nào, chẳng biết thế nào, chẳng
biết đâu, đời nào, mấy đời, có đời nào, chả đời nào, chẳng đời nào, không đời nào,
không khi nào, có khi nào, chưa bao giờ, không bao giờ, chả bao giờ, chẳng bao giờ,
có bao giờ (mà),...
57) Biết đâu mà chọn giàu sang
Biết đâu mà chọn những trang anh hùng. (CD)
2.2.7. Nhận định sự tình nêu ra tiếp theo là không rõ lí do hay nguyên do nào đó.
Các dạng thức biểu đạt: khi không, bỗng không, tự dưng, bỗng dưng, tự nhiên, không
hiểu sao, không hiểu tại sao, chẳng hiểu vì sao, không dưng, không phải ngẫu nhiên
(mà),...
(Có làm thì mới có ăn)
58) Không dưng ai dễ mang phần tới cho. (CD)
2.2.8. Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là một phát hiện tình cờ, nhờ biết
được nguyên nhân của nó. Dạng thức biểu đạt: hèn chi, hèn gì, hèn nào, thảo nào
(mà),...
59) Hèn chi tụi lính bót nó mê cũng phải... (AĐ: HĐ)
2.2.9. Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là không hợp lí, không
cần thiết phải thực hiện. Các dạng thức biểu đạt: tội gì, tội tình gì, dại gì, không dại gì,
không dại dột gì, việc gì, cần gì, hơi đâu, hơi sức đâu, can chi (mà),...
(Tới đây chiếu trải trầu mời,)
60) Can chi mà đứng giữa trời sương sa. (CD)