Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
PHẦN MỤC LỤC
STT
1
NỘI DUNG
TRANG
Phần mục lục
Phần thứ nhất: Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
II. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1
2-8
2
1. Đặc điểm môn Địa Lý
4
2. Khái niệm, vai trò bản đồ tư duy
4
III. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Phần hai: Giải quyết vấn đề
I. Giải pháp cũ thường làm
II. Giải pháp mới cải tiến:
Đánh giá của các hội đồng khoa học
Danh mục viết tắt
Tài liệu tham khảo
Phụ Lục:
24 - 26
24
25
25
26
27
28
29
Giáo án minh họa
30
Sản phẩm của học sinh
38
A. TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy - học môn Địa lí ở trường THCS”
B. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Họ và tên: Trần Kim Thoa
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Địa lí
- Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
những nhận xét về vấn đề đang bàn luận... được tham gia vào quá trình học tập
chiếm lĩnh kiến thức. Cùng với các môn học khác, bên cạnh việc chú ý phát triển
ở HS các kĩ năng bộ môn như kĩ năng làm việc với các thiết bị dạy học, các
nguồn tư liệu địa lí...thì việc rèn các kĩ năng sống như kĩ năng làm việc độc lập,
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
2
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
làm việc nhóm, kĩ năng trình bày, giải quyết vấn đề...là rất quan trọng, nhưng
quan trọng không kém là phát triển kĩ năng tư duy cho HS.
Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, buộc
người giáo viên phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
học mà còn là mục tiêu dạy học. Hiện nay, một trong những phương pháp dạy
học tích cực là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy.
Việc sử dụng BĐTD giúp GV và HS đổi mới PPDH, giúp HS học tập tích
cực, đó chính là một trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học
có hiệu quả - một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện, HS tích cực” mà Bộ GD&ĐT phát động.
Môn địa lí là môn học có khối lượng kiến thức cần HS ghi nhớ rất nhiều,
cần có kĩ năng khai thác cả kênh hình và kênh chữ do vậy để hình thành cho các
em tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một
cách tổng thể, khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng, HS hiểu bài,
nhớ lâu, vận dụng tốt thì cần phải vận dụng BĐTD trong dạy hoc. Hơn nữa, khối
lượng kiến thức ngày càng tăng theo cấp số nhân, vì vậy sử dụng BĐTD rèn cho
năng vô tận của bộ não. Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức
mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi học kỳ... ở nhiều môn học và giúp cán bộ quản lý giáo dục lập kế
hoạch công tác
BĐTD kế thừa mở rộng ở mức độ cao hơn của việc lập bảng biểu, sơ đồ.
Học sinh tự ghi chép kiến thức trên BĐTD bằng từ khóa, ý chính, cụm từ viết tắt
và các đường liên kết, ghi chú....bằng các màu sắc, hình ảnh, chữ viết. Khi tự ghi
theo cách hiểu của chính mình, HS sẽ chủ động hơn, dễ mở rộng đào sâu ý tưởng.
Mỗi người ghi theo một cách khác nhau không dập khuôn máy móc dễ phát triển
ý tưởng bằng cách vẽ thêm nhánh, phát huy được sáng tạo. Người học luôn có
được niềm vui trước " sản phẩm kiến thức hội họa" do tự mình làm ra dưới sự
hướng dẫn của giáo viên và hợp tác của tập thể.
BĐTD có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với sách giáo khoa. Sách
giáo khoa là cơ sở để học sinh tiếp nhận kiến thức, cùng với việc sử dụng và khai
thác kiến thức từ thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu bài và thể hiện lại sự hiểu
biết ấy thông qua BĐTD. Đây còn là một kênh thông tin phản hồi rất thiết thực từ
học sinh đối với giáo viên. Giáo viên có thể dựa vào đó để nắm bắt được lượng
thông tin mà học sinh tiếp nhận được, từ đó có hướng điều chỉnh đối với cả học
sinh và cách dạy của chính mình cho phù hợp.
Việc lập BĐTD có thể do từng cá nhân hoặc một nhóm, BĐTD vừa mang
đậm dấu ấn cá nhân vừa thể hiện được ý tưởng sáng tạo của cả tập thể do đó vận
dụng BĐTD và dạy học phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS là một trong
những cách làm tốt góp phần đổi mới PPDH.
Sử dụng BĐTD sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây
dựng kiến thức mới. Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng với màu sắc thích hợp và
cách diễn đạt riêng của mỗi người, BĐTD giúp bộ não liên tưởng, liên kết các
kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống… để phát triển, mở rộng
ý tưởng. Sau khi HS tự thiết lập BĐTD kết hợp việc thảo luận nhóm dưới sự gợi
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học thuộc lòng, học vẹt.
- Đối với HS khá giỏi: Sử dụng BĐTD để tìm cách giải quyết một vấn đề,
hay hệ thống hoá kiến thức của một chương, một phần, một cuốn sách gúp các em
ghi nhớ, ôn tập, liên kết các mạch kiến thức đã học... hoặc lập kế hoạch học tập,
vạch kế hoạch cho bản thân để biến ước mơ thành hiện thực trong tương lai...
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
6
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
Việc áp dụng BĐTD trong dạy – học môn địa lý ở trường THCS có những
thuận lợi và khó khăn sau:
1. Thuận lợi:
Trong các môn học, HS đã được học môn Mỹ thuật, được trang bị những
kiến thức và kỹ năng về hội hoạ. Đó là điều kiện thuận lợi để các em thiết kế sơ
đồ tư duy trong bài học Địa lí.
Bản đồ tư duy được sử dụng phù hợp với mọi điều kiện cơ sở vật chất của
nhà trường, lớp học. GV có thể thực hiện trên bảng phấn, trên vở, trên giấy,...
hoặc có thể thiết kế trên phần mềm. Khai thác tính năng và sử dụng bản đồ tư duy
có hiệu quả là góp phần đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ
thông tin một cách dễ dàng và thiết thực.
Hiện nay cơ sở vật chất trang thiết bị của nhiều trường tương đối đầy đủ
thuận lợi cho giáo viên khi lựa chọn và vận dụng các phương pháp giảng dạy tích
cực. Môn địa lí là một trong những môn thi học sinh giỏi cấp tỉnh, nên được sự
quan tâm chỉ đạo sâu sát của nhà trường, sự chú ý của học sinh.
khăn khi điều kiện về thiết bị, kinh phí chưa đảm bảo hay do trình độ tin học của
giáo viên còn hạn chế.
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM:
Trước đây, trong quá trình dạy học địa lý, chúng tôi dùng nhiều phương
pháp khác nhau như nhóm các phương pháp dùng lời (diễn giảng, đàm thoại…),
nhóm các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, bản đồ, lược đồ,
quả địa cầu…)
Theo nhóm các phương pháp dùng lời, trong các tiết dạy Địa lí, chúng tôi
dùng lời nói của mình, vừa thuật lại, vừa giảng về các sự kiện, hiện tượng địa lý
một cách có hệ thống hay dùng lời nói để giải thích các hiện tượng địa lý. Ví dụ
như thuật lại diễn biến của một trận động đất, rồi qua đó phân tích những tác hại
của động đất đối với đời sống; giải thích hiện tượng thủy triều…Ngoài ra, chúng
tôi cũng khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho HS
sáng tỏ các vấn đề mới, tự khám phá tri thức mới bằng sự tái hiện những kiến
thức đã học hoặc từ những kinh nghiệm được tích lũy trong cuộc sống.
Sử dụng nhóm phương pháp dùng lời có một số ưu điểm sau:
Trước hết, nó có khả năng cung cấp cho HS một lượng thông tin lớn trong
một thời gian ngắn. Nếu như lời lẽ trình bày của giáo viên trong sáng, truyền
cảm
có nội dung khoa học, chính xác, có logic chặt chẽ thì bài giảng cũng có sức hấp
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
8
Trường THCS Ninh Mỹ
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
9
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
vai trò quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá
bộ môn địa lí.
Gần đây, các tiết ôn tập chương chúng tôi thường dùng phương pháp cho
học sinh lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… khi sử dụng phương pháp này chúng
tôi thấy học sinh cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV hoặc của
tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các
bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét; với cách học này
học sinh chưa có sự chủ động trong lĩnh hội kiến thức.
Hơn nữa việc ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số đơn
thuần chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa sử dụng
kỹ năng bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu
sắc, không gian....và cách ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thể của cả
vấn đề.
Ví dụ: Trước đây, khi dạy bài 35 Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (Địa lý
9), để HS có thể phân tích được những thuận lợi và khó khăn về tự nhiên của ĐB
SCL, chúng tôi thường sơ đồ hóa kiến thức bằng sơ đồ cấu trúc như sau:
Đồng bằng sông Cửu Long
Thuận lợi
Khó khăn
địa
hình
bằng
phẳng
10
Đất
phù
sa có
diện
tích
lớn
Rừng
ngập
mặn
có
diện
tích
lớn
Sinh
vật,
nguồn
lợi hải
sản
phong
phú
- Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của HS,
phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự do chọn màu sắc (xanh,
đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên
trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
11
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình.
Theo cách dạy trước đây, chỉ có một giác quan duy nhất được huy động, đó
là tai nghe. Truyền thụ kiến thức theo hình thức cũ này chỉ thông qua lời nói, còn
các giác quan khác chưa được sử dụng cho việc tiếp thu các bài giảng. Phần lớn
tiềm năng tiếp thu học tập chưa được phát huy, có thể thấy rằng: chỉ nghe thì lưu
trữ được 20%, viết chép tiếp thu 30%, song nếu kết hợp cả hai thì tác dụng tăng
lên đáng kể. Trực quan hoá trợ giúp cho thuyết trình là tăng mức độ nhớ đến
50%. Chỉ riêng điều đó thôi cũng nói lên sự đòi hỏi phải áp dụng các phương tiện
nghe – nhìn vào dàn dựng bài giảng.
Như vậy phương tiện trực quan, mà BĐTD là trợ thủ đắc lực giúp GV thực
hiện tốt nguyên tắc thống nhất giữa tính cụ thể và trừu tượng trong quá trình dạy
học, đây nguồn gốc sâu xa mà nhận thức luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng
định. Sử dụng BĐTD phát huy tối đa tiềm năng của bộ não.
Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch
lạc hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống,
khoa học. Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác
như vấn đáp gợi mở, thuyết trình...có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương
pháp dạy học.
học, 1chương kiến thức. Tùy theo mục đích sử dụng có thể thiết kế BĐTD trong
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
13
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thực hành, ôn tập, tổng kết hay hệ
thống một chương, một phần kiến thức. Vậy ứng với mỗi bài học, mỗi bước lên
lớp sử dụng BĐTD như thế nào có hiệu quả? Chúng tôi đã thực hiện như sau:
2.1. Sử dụng BĐTD trong khai thác nội dung kiến thức mới.
Trước đây, trong khi giảng bài mới các đơn vị kiến thức được chúng tôi
trình bày lên bảng theo một thứ tự của các phần bài học ( I - 1 - a và các gạch đầu
dòng) hoặc bằng sơ đồ mũi tên. Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày
mới, chúng tôi đã thay các việc làm trên bằng việc vận dụng BĐTD để thể hiện
một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách trực quan. Mục tiêu bài học
được cô đọng trong một từ khóa hay hình ảnh đặt ở trung tâm. Khi lập BĐTD cho
một đơn vị kiến thức hay một bài học mới các em sẽ có tầm nhìn khái quát cho
toàn bài học cũng như với từng phần của bài trước khi đi đến từng chi tiết điều đó
sẽ khác hẳn với việc các em ghi bài học trong vở ghi theo lời giảng truyền thống.
Cụ thể, chúng tôi đã làm như sau: Trước tiên chúng tôi hướng dẫn học sinh
lựa chọn từ khóa cho kiến thức toàn bài trong quá trình giảng, sau đó hướng dẫn
HS lần lượt vẽ các nhánh của BĐTD theo tiến trình hình thành kiến thức mới, kết
hợp các phương pháp: trực quan, thảo luận nhóm, gợi mở vấn đáp... để giúp HS
tự khám phá kiến thức mới. Từ mỗi nhánh chính( nhánh cấp 1) lại triển khai ra
các nhánh phụ( nhánh cấp 2) và mỗi nhánh phụ lại đi sâu vào những kiến thức
mới cụ thể hơn.. Từ đó Giáo viên và HS cùng hình thành BĐTD thể hiện nội
Sử dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài học là việc làm rất có hiệu quả.
GV sử dụng BĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ
sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm. HS sử dụng BĐTD để thể hiện lại sự
hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh
thông tin phản hồi mà qua đó GV có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định
hướng cho từng HS và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù
hợp với mục đích củng cố kiến thức cho HS.
Chúng tôi đã áp dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài học như sau:
- Hệ thống hóa kiến thức cả bài học bằng BĐTD: chúng tôi yêu cầu HS
tóm tắt kiến thức bằng việc vẽ BĐTD; cũng có thể chúng tôi sử dụng hình thức
vấn đáp đàm thoại giữa thầy và trò từ đó đưa ra BĐTD hoàn chỉnh
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
15
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
- Hoặc cũng có thể chúng tôi cho HS điền thông tin còn thiếu vào BĐTD.
Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm
khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học.
Ví dụ: Sau khi dạy bài 36 Vùng ĐBSCL( tiếp theo) khi dạy xong Phần 1.
Nông nghiệp chúng tôi chiếu một bản đồ tư duy đã vẽ hoàn chỉnh để khái quát
kiến thức của phần này để học sinh có cái nhìn đầy đủ về nội dung phần bài vừa
học.
Sau đó đến phần củng cố nội dung toàn bài sau khi đã hoàn thiện nhánh cấp
1 thứ nhất thể hiện đặc điểm các ngành kinh tế tôi tiếp tục cho học sinh hoàn
Để tổng kết, ôn tập kiến thức một chương, một phần, trước đây chúng tôi
cho học sinh một số câu hỏi, bài tập, học sinh tự ôn tập, sau đó chúng tôi sẽ kiểm
tra, hoặc giải đáp thắc mắc của học sinh. Với cách làm này, một số em lười nhác
không chịu làm chỉ chờ đến lớp chép bài của bạn, của cô chữa, do đó học sinh sẽ
không nhớ được những kiến thức trọng tâm của một chương hoặc một phần, đến
cuối năm ôn thi kiến thức lại như mới lạ hoàn toàn.
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
17
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
Vì vậy, khi thực hiện sáng kiến này, chúng tôi đã cho HS sử dụng bản đồ tư
duy để tổng hợp kiến thức một chương hoặc nhiều bài học, với cách làm như sau:
- Thông thường chúng tôi cho một số câu hỏi và bài tập để HS chuấn bị ở
nhà. Trong tiết ôn tập tôi hướng dẫn HS tự lập BĐTD, sau đó cho HS trao đổi kết
quả với nhau và sau cùng đối chiếu với BĐTD do GV lập ra.
- Cách khác: chúng tôi cho HS tự lập BĐTD ôn tập, củng cố chương ở
nhà, coi đó là một bài tập cần thực hiện. Sau đó chúng tôi thu lại, phân loại,
nhận xét, đánh giá và giới thiệu một số BĐTD của mình và coi đó là tài liệu ôn
tập của HS.
- Hoặc cũng có thể chúng tôi lập BĐTD mở. Trong giờ ôn tập, củng cố,
chúng tôi chỉ vẽ một số nhánh chính, thậm chí không đủ nhánh, hoặc thiếu (hoặc
thừa thông tin, rồi yêu cầu HS tự bổ sung, thêm hoặc bớt thông tin,...để cuối cùng
toàn lớp lập được một BĐTD ôn tập củng cố kiến thức chương đó tương đối hoàn
chỉnh và hợp lí. Cách làm này sẽ lôi cuốn được sự tham gia của HS (Suy nghĩ
nhiều hơn, trao đổi nhiều hơn, tranh luận nhiều hơn) và giờ ôn tập tổng kết
chương sẽ không tẻ nhạt và có chất lượng hơn.
khoáng sản, địa hình. Dưới đây là bản đồ tư duy minh hoạ chúng tôi đã sử dụng
trong tiết ôn tập:
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
19
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
Với phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong tiết ôn tập này học sinh đã
tổng hợp đầy đủ những đặc điểm cơ bản về một số thành phần của tự nhiên Việt
Nam, từ đó các em đã hiểu, học và ghi nhớ các kiến thức này một cách có hệ
thống để làm tốt bài kiểm tra một tiết. Hơn nữa giờ ôn tập sẽ không nhàm chán,
học sinh rất hứng thú với tiết ôn tập.
2. 5. Sử dụng BĐTD trong kiểm tra đánh giá.
Hiện nay đáp ứng nhu cầu của đổi mới phương pháp dạy và kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của HS, Bộ GD&ĐT đã có nhiều giải pháp nhằm cải tiến kiểm
tra đánh giá, bước đầu đã có chuyển biến tích cực. Qua thực tế giảng dạy môn Địa
lí chúng tôi thấy, việc áp dụng BĐTD trong kiểm tra, đánh giá là một trong
những giải pháp hiệu quả có thể phát huy năng lực của HS. Thông qua đó, giáo
viên không chỉ đánh giá được kiến thức của HS, khả năng ghi nhớ, sự chuyên cần
học tập, nó còn cho phép GV đánh giá năng lực tư duy khoa học, trí tưởng tượng,
óc thẩm mỹ và sáng tạo của HS. Chính vì vậy, sự phản hồi của HS thông qua
BĐTD có giá trị hơn rất nhiều so với phương pháp tự luận và trắc nghiệm khách
quan.
BĐTD có thể được áp dụng đa dạng với các hình thức kiểm tra đánh giá
như kiểm tra miệng, kiểm tra viết. Giáo viên có thể lựa chọn các hình thức kiểm
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
21
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
giá và nhận xét. Và như vậy trong thời gian 5’, chúng tôi đã có thể kiểm tra việc
học bài cũ của nhiều đối tượng HS.
- Đối với học sinh yếu, chúng tôi có thể kiểm tra bài cũ bằng cách cho các
em thuyết minh bài học trước bằng cách nhìn vào BĐTD do các em tự lập sẵn ở
nhà, cho các em kiểm tra và nhận xét BĐTD của các bạn đã lập khi đối chiếu với
bài học trước .
* Sử dụng BĐTD trong kiểm tra thường xuyên hoặc kiểm tra định kì:
Các bài kiểm tra này là một trong những cơ sở quan trọng để đánh giá
năng lực học sinh. Thế nên chúng tôi yêu cầu HS thành lập BĐTD để trình bày về
một hoặc nhiều nội dung kiến thức. Qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của từng học sinh.
Ví dụ: Trong bài kiểm tra giữa học kỳ II môn Địa lý 6, chúng tôi đưa ra câu
hỏi sau:
Dựa vào bảng đặc điểm các khối khí dưới đây, Em hãy thành lập một BĐTD
thể hiện đặc điểm của các khối khí trên Trái Đất.
Các khối khí
- Khối khí nóng hình thành trên các vùng vĩ độ thấp, có nhiệt độ tương
đối cao.
- Khối khí lạnh hình thành trên các vùng vĩ độ cao, có nhiệt độ tương đối
thấp
- Khối khí đại dương hình thành trên các biển và đại dương, có độ ẩm lớn.
- Khối khí lục địa hình thành trên các vùng đất liền, có tính chất tương đối
- Dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu,...Chỉ nên vẽ những hình ảnh
có liên quan đến chủ đề kiến thức, tránh vẽ hoặc đưa vào những hình ảnh không
liên quan đến chủ đề kiến thức, tránh vẽ hoặc đưa vào những hình ảnh không liên
quan đến bài học làm mất nhiều thời gian vẽ viết và phân tán sự tập trung.
- Khi thiết kế BĐTD cần chọn lọc những ý cơ bản, kiến thức cần thiết, ví
dụ minh họa để có nhiều thông tin cho bài học. Thiết kế BĐTD của một bài học
phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản cần chốt lại của bài học đó. Tránh
khuynh hướng vẽ quá cầu kì những hình ảnh không cần thiết hoặc quá sơ sài
không có thông tin ( chỉ ghi các đề mục của bài học).
Người thực hiện: Kim Thoa, Thùy Dương
23
Trường THCS Ninh Mỹ
Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học môn Địa Lý ở trường THCS”
PHẦN BA: KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA QUAN TRỌNG NHẤT CỦA ĐỀ TÀI
Qua nghiên cứu, tìm hiểu và thực nghiệm giảng dạy, chúng tôi nhận thấy:
Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học môn Địa lý sẽ mang lại
nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và PP giảng
dạy của GV.
Bước đầu theo chúng tôi đánh giá: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học
môn Địa lý đã dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách
sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng BĐTD kết
hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,
7
8
9
62
60
56
64
8
7
7
10
Giỏi
Khá
%
13.0
11.5
12.5
15.6
SL
%
35.5
37.0
32.1
2
3
1
1
* Trong học kỳ II:
Khối
Sĩ số
lớp
(HS)
62
60
56
64
6
7
8
9
Giỏi
Khá
Yếu
Trung bình
30
48.0
45.0
39.2
48.2
20
18
19
18
32.5
30.0
34.0
27.8
0
0
0
0
0
0
0
0
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm