hiệu quả bước đầu của việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn vật lí thbt - Pdf 24

HIỆU QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ THBT
A . ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghị quyết của Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 4, khoá VI ( 1/1993)
đã đề ra nhiệm vụ “ đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học”. Kể
từ đó đến nay, đổi mới phương pháp dạy học trở thành nhiệm vụ thường
xuyên và luôn được quan tâm ở tất cả các cấp học.
Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học? Như chúng ta đã biết
trong những năm gần đây nền khoa học kỹ thuật và công nghệ thế giới phát
triển như vũ bão. Các sản phẩm của khoa học ra đời từng ngày, từng giờ. Nếu
không cập nhật được sẽ trở thành lạc hậu. Nhà trường là cái nôi của tri thức
nhưng không bao hàm tất cả những tri thức mà học sinh cần có. Chính vì vậy
vượt trên những kiến thức sách vở nhà trường là nơi cung cấp cho các em
phương pháp để tiếp cận tri thức mới. Một “ phương pháp học tập tốt” mới là
từ khoá để mở cánh cửa bí mật của kho tàng tri thức nhân loại. Vậy nên, đổi
mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tao
của học sinh trong học tập là việc làm cần thiết. Hãy đặt học sinh vào vị trí
trung tâm của quá trình dạy học để các em tự mình vén lên bức màn bí mật
của tri thức.
Một phương pháp dạy học tốt là gì? Giáo viên đóng vai trò định hướng và
điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức, học sinh chủ động trong việc nắm bắt,
tiếp thu, lĩnh hội tri thức mới. Trong quá trình học tập của học sinh Phương
pháp học tập và thái độ học tập chính là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và
mang tính chất quyết định đến kiến thức và kỹ năng của mỗi học sinh. Để
hươngr ứng phong trào “ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
giáo viên hãy định hướng cho các em để các em cùng học, cùng chơi. Hãy tạo
cho các em các nhóm học tâp và hãy tạo cho các em niềm say mê, hứng thú,
chủ động, tích cực trên con đường đi tìm tri thức mới.
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển
của khoa học Vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự

này có nhiều ưu điểm vượt trội. Cộng với việc tìm hiểu kết quả của việc ứng
dụng phương pháp ở 2 cấp học đã được Bộ giáo dục phổ biến rộng dãi là TH
và THCS . Tôi đã mạnh dạn đưa phương pháp dạy học mới này vào quá trình
dạy học trong suốt năm học vừa qua, tôi nhận thấy phương pháp này rất có
hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập. Bước đầu đã giảm bớt được tâm
lí ngại học môn Vật lí, khơi gợi cho học sinh tình yêu và sự hứng thú đối với
môn học, đồng thời mang đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn
học và đặc biệt là hình thành hệ thống tư duy lôgic trong cuộc sống.
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng, là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu
tả nó là một kỹ thuật hình hoạ với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường
nét,màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp
con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
Bản đồ tư duy giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn. Việc
rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng
cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số
học sinh học rất chăm chỉ nhưng kết quả chưa tốt, các em thường học bàinào
biết bài đấy, học phần sau quên phần trước và không biết liên kết các kiến
thức với nhau, không biết vận dụng ccs kiến thức đã học trước đó vào những
phần sau. PHần lớn học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết
cách tự ghi chép để ghi nhớ thông tin, ghi nhớ kiến thức trọng tâm vào “ bộ
nhớ” của mình.
Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh có được
phương pháp học, tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
2
Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả
nghiên cứu cho thấybộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu, và in đậm cái
mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy,
việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa
tiềm năng của bộ não. Kết quả, sau mỗi giờ học các em học tập sôi nổi, hào

Hãy tạo cho các em cảm giác hứng thú khi đến trường theo đúng khẩu hiệu “
mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Hãy tạo cho các em không khí vui
tươi trong từng tiết học. Hãy đặt các em vào vị trí trung tâm, khơi gợi, kích
thích tính tích cực chủ động sáng tạo của các em trong quá trình nhận thức.
Hãy tạo điều kiện để các em làm việc. chỉ có làm việc mới đưa quá trình học
của các em đến đựợc với thực tiễn để các em thấy được ý nghĩa thực tiễn của
việc học.
3
2. Nguyên nhân
* Hoạt động dạy của giáo viên
- Các thầy cô giáo đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu để nắm bắt và thực
hiện yêu cầu đổi mới của chương trình, sách giáo khoa, về phương pháp dạy
học, phương pháp kiểm tra đánh giá, sử dụng thiết bị Tuy nhiên chỉ thực
hiện theo hình thức, phong trào. Trong giảng dạy vẫn nặng về thuyết trình,
diễn giảng (vì sợ học sinh không hiểu) khiến giờ học nặng nề, chưa hấp dẫn
lôi cuốn học sinh, một số giáo viên ngại khó, chưa tổ chức cho các em làm thí
nghiệm, thực hành để các em phát hiện, khám phá tri thức; việc hướng dẫn
phương pháp tự học cho học sinh vẫn chưa được giáo viên quan tâm đúng
mức.
- Một số giáo viên tuy nắm được chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình
các môn học, nhưng do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của chuẩn
kiến thức và không bám sát chuẩn trong giảng dạy, nên dẫn đến tình trạng quá
tải đối với học sinh trong học tập, kiểm tra, đánh giá kết quả. Làm cho học
sinh đã yếu càng yếu thêm.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, một số thầy cô chưa có khả năng bao
quát, quản lý hết các đối tượng học sinh. Chưa tận dụng có hiệu quả thời
lượng giảng dạy trên lớp. Trong kiểm tra đánh giá cũng chậm đổi mới, chưa
có biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế học sinh yếu kém và tạo sự hứng thú cho
học sinh học tập.
- Trong hoạt động dạy chưa sát đối tượng, liên hệ thực tế đia phương và phát

mầu sắc hơn là một bài học khô khan, nhàm chán.
Sự liên tưởng, tưởng tượng : BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng
một cách rất rõ ràng.
Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu , sơ đồ
BĐTD cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng
việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng. Hơn nữa việc sử
dụng BĐTD sử dụng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận
dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình. Nhưng không chỉ là
bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh
mang tính lí luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học.
3. BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc
BĐTD thực sụ giúp bạn tận dụng các chức năng của cả não trái và não
phải khi học. Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh cả bộ
não. Nừu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng được những năng
lực tiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tài
năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài.
II. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học bài mới ( có sự hỗ trợ của
máy chiếu)
a. Giáo viên sử dụng BĐTD để dạy bài mới.
Giáo viên đưa ra một “ từ khoá ” để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu
cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm
ra các từ liên quan đến “ từ khoá ” và từ đó hoàn thiện BĐTD. Qua đó học
sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Dao động điều hoà ” – Môn Vật lí lớp 12.
Giáo viên cho từ khóa là “ Dao động điều hoà ”. Đây là một khái niệm
hoàn toàn mới đối với học sinh, do đó giáo viên sẽ nêu cho học sinh nhánh
cấp 1. Sau đó, giáo viên chia học sinh theo nhóm ( 2 bàn một nhóm ), bằng
5
các câu hỏi gợi ý yêu cầu các nhóm bổ sung các nhánh cấp 2, cấp 3 để hoàn

Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Dao động tắt dần. Dao động cưỡng bức ”- Môn vật lý
lớp 12.
Đây là bài kiến thức không khó nhưng lại có nhiều ứng dụng và liên hệ
thực tế. Vì vậy chúng ta sẽ phát huy khả năng tự học của các em bằng cách
dung hệ thống câu hỏi định hướng để học sinh vẽ BĐTD ở nhà, lên lớp sau
khi chốt lại kiến thức của bài ta sẽ giành nhiều thời gian để liên hệ thực tiễn.
Khi đã gắn kết được kiến thức và thực tiễn các em sẽ các em sẽ thấy được ý
nghĩa của việc học. Sau bài học học sinh vừa tự chiếm lĩnh được tri thức, vừa
vận dụng được vào thực tiễn sẽ tạo cho các em niềm đam mê đối với môn học
và hứng thú với phương pháp học tập mới.
Hệ thống kiến thức bài học bao gồm: (sử dụng máy chiếu).
Dao động tát dần: thế nào là dao động tát dần? Giải thích và ứng dụng
Dao động duy trì: thế nào là dao động duy trì? Cách duy trì, ứng dụng.
Dao động cưỡng bức: thế nào là dao động cưỡng bức? Đặc điểm.
Hiện tượng cộng hưởng: định nghĩa, điều kiện, ứng dụng.
Sơ đồ minh hoạ
Dao động tắt dần. Dao động cưỡng bức
8
Ví dụ 2: : Khi học bài “ Tổng hợp hai dao động điều hoà cùng
phương, cùng tần số”. Đây là bài thiên nhiều về vận dụng vì vậy để có thời
gian cho học sinh vận dụng kiến thức của bài để tìm phương trình dao động
tổng hợp, giáo viên cho học sinh vẽ BĐTD ở nhà theo các nội dung:
Véc tơ quay: biểu diễn một dao động điều hoà bằng một vectơ quay.
Phương pháp giản đồ Fre-nen: thế nào là phương phap giản đồ Fre-nen?
Kết quả của việc tổng hợp hai dao động điều hoà cung phương cùng tần số.
Sau khi học học sinh trình bày, góp ý, giáo viên chốt kiến thức cơ bản
học sinh.
( dùng máy chiếu)
Học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức và vận dụng được bài học sẽ tạo tâm lý
hào hứng, phấn khởi cho các em.

Sau khi hoàn thiện BĐTD giáo viên đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm tính
toán, học sinh sẽ sử dụng ngay BĐTD vừa xây dựng để giải và trả lời các câu
hỏi của giáo viên. Sau 1 tiết học, học sinh có thể giải được nhiều dạng bài tập,
phát triển tư duy của học sinh một cách tối đa đồng thời tạo ra niềm đam mê,
hứng thú đối với môn học.
Sơ đồ minh hoạ
Các dạng bài tập thường gặp chương “ Dao động cơ ”
11
3. Giáo viên sử dụng BĐTD trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Ví dụ ta xét chương “ Dao động cơ ” . Các dạng bài tập về con lắc đơn
và con lắc lò xo chiếm hầu hết các dạng trong đề thi học sinh giỏi mà các
dạng bài tập về con lắc đơn luôn được xem là hóc búa đối với học sinh, trong
đó điển hình là dạng bài tập về sự thay đổi chu kỳ của con lắcđơn. Giáo viên
sẽ đưa ra từ khoá “ bài tập về sự thay đổi chu kỳ của con lắc đơn ”. Bằng các
câu hỏi định hướng, gợi mở học sinh sẽ xây dựng các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp
3 và hoàn thiện BĐTD.
Sau khi hoàn thiện BĐTD, giáo viên đưa ra cho học sinh hệ thống các
bài tập về sự biến thiên chu kỳ của con lắc đơn để học sinh vận dụng chính
những công cụ mình vừa góp phần tạo ra vào để giải quyết bài toán. Sau tiết
học, học sinh sẽ có hệ thông phương pháp logic, đầy đủ và hứng thú với việc
học tập.
Sơ đồ minh hoạ
Bài tập về “ sự biến thiên chu kỳ của con lắc đơn ”
C. KẾT LUẬN
12
C. KẾT LUẬN
I.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Học sinh dễ nắm được trọng tâm của vấn đề
- Đỡ tốn thời gian ghi chép hơn so với kiểu ghi chép cũ
- Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nắm bắt cơ hội khám phá tìm hiểu

bước đầu được áp dụng tại Trung Tâm KTTH – HN Thọ Xuân nên không
tránh khỏi những hạn chế của người viết nội dung này. Tôi rất mong nhận
được sự góp ý chân tình của đồng nghiệp, của các cấp quản lý giáo dục để đề
tài có tác dụng thiết thực hơn trong thực tiễn. Để góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn vật lí cấp THPT nói chung hệ GDTX nói riêng.
Xin chân trọng cảm ơn!
Thọ xuân, tháng 5 năm 2012
13
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 01
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 01
II- THỰC TRẠNG 03
1,Thực trạng học Vật lý ở trường phổ thông 03
2,Nguyên nhân 04
3,Kết quả kiểm tra chất lượng năm học 2010-2011 04
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 05
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 05
1, Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD 05
2, BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng 05
3, BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc 05
II- GI ẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 05
1,Sử dụng BĐTD để hổ trợ quá trình dạy học bài mới 05
2, Sử dụng BĐTD trong ôn tập, luyện tập kiểm tra định kỳ 10
3,Giáo viên Sử dụng BĐTD trong công tác BDHSG 12
C. K ẾT LUẬN 13
I -KẾT QỦA ĐẠT ĐƯỢC
II- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
III- ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
1, Đối với HS
2, Đối với GV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status