NGHBÊN CỨU TÁC DỤNG DƯỢC LÝ THựC NGHỆM TRÊN SỎI TIÉT NIỆU
VÀ PHÂN LẬP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH CỦA Ý DĨ
{Coix lachryma - jobì L.)
Pham Đức Vinh*. Trần Thúy Ngần^, Đỗ Thị Yấn^
Đào Hồng Hạnh^, Nguyễn Thị Đông^
HDKH: TS. Nguyễn Quỳnh Chi'*, TS. Nguyễn Thùy Dương'
' bộ môn Dược lực, ^Sinh viên K62, K63
^Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương
''Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội
Từ khóa: acid p-coumaric, carvci oxalat, Coix lachryma -jobỉ L„ sỏi tiết niệu, Ỷ dĩ
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác dụng ức chế
hình thành sỏi canxi oxalat in vitro và in vivo của dịch chiết nước toàn phần và
phân lập hoạt chất có tác dụng của thân Ỷ d ĩ (Coix lachryma-jobi L.). Dịch chiết
nước Ỷ d ĩ có tác dụng ức chế phụ thuộc nồng độ đổi với sự hình thành sỏi canxi
oxalat, đồng thời làm tăng tỷ lệ COD/COM trên mô hĩnh ỉn vitro sử dụng đĩa 96
giếng. Trên chuột cống trắng giống đực được gây sỏi tiết niệu bằng cách bố sung
ethylen glycol 0,75% trong nước uổng hàng ngày, dịch chiết nước Ỷ d ĩ 2,52 g/kg
thể hiện tác dụng làm giảm sổ lượng sỏi lắng đọng tại thận so với lô chứng bệnh
sau 28 ngày điều trị. Từ phãn đoạn cỏ tác dụng ức chế sỏi mạnh nhất, phân đoạn
ethyl acetat, đã phân lập được acid p-coumaric, thể hiện tác dụng ức chế sỏi in
vitro mạnh hơn so với natri citrat với giá trị ICịo là 2,35 mM. Các kêt quả này tạo
cơ sở cho việc phát triển Ỷ dĩ thành dược liệu tiềm năng trong điều trị sỏi tiết niệu.
Đặt vấn đề
Sỏi tiết niệu là một bệnh lý khá phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 12% dân
số toàn cầu. Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, những kỹ thuật ngoại khoa
mới đã được áp dụng trong điều trị để loại bỏ sỏi khỏi đường tiết niệu, tuy nhiên
những phương pháp này có thể gây tai biến và tỷ lệ tái phát cao [3], Thêm vào
đó, hiện nay vẫn chưa có một thuốc hóa dược nào thực sự hiệu quả để điều trị sỏi
đung dịch nước tiểu nhân tạo, 2 0 ịiì dung môi pha mẫu hoặc natri citrat hoặc
dung dịch thử. Tinh thể canxi oxalat được tạo thành khi thêm 20 /xl dung dịch
acid oxalic 0,04 N vào tất cả các giếng. Đo mật độ quang (OD) trên hệ thống
máy ELISA ở bước sóng 620 nm tại thời điểm 30 phút sau phản ứng. Tính tỷ lệ
ức chế (%ƯC) và quan sát hình ảnh tinh thể trong các giếng dưới kính hiển vi soi
ngược vào thời điểm kết thúc thí nghiệm.
Đánh giá tác dụng ức chế sỏi canxi oxaỉat in vivo của thân Ỷ d ĩ
Đánh giá tác dụng ức chế hình thành sỏi canxi oxalat của dịch chiết toàn
phần thân Ý dĩ ở mức liều 2,52 g/kg trên chuột cống trắng với mô hình gây sỏi
thực nghiệm được mô tả bởi Karadi VR và cộng sự [6 ]. Tác nhân gây sỏi là
ethyl en glycol, bổ sung trong nước uống hàng ngày của chuột ở nồng độ 0,75%
trong vòng 28 ngày. Quan sát tiêu bản mô bệnh học thận dưới kính hiển vi phân
cực, mồi tiêu bản được quan sát trên 10 vi trường khác nhau (x40), tính số đám
sỏi trung bình/vi trưÒTig.
Phân lập hoạt chất có tác dụng
Đánh giá khả năng ức chế hình thành tinh thể canxi oxalat của các phân
đoạn dịch chiết Ý dĩ trên đĩa 96 giếng. Phân đoạn có tác dụng ức chế sự hình
thành tinh thể canxi oxalat mạnh nhất được lựa chọn để phân lập chất, sử dụng
phương pháp sắc ký cột và phương pháp kết tinh lại. cấu ừúc hóa học của chất
phân lập được xác định bằng phổ khối (MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân
(NMR). Tác dụng ức chế tinh thể canxi oxalat của chất đã phân lập được đánh
giá bằng phương pháp in vitro.
X ử lý số liệu
Số liệu được lưu trữ và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Tiến hành kiểm
chuẩn trước khi xử lý số liệu theo các phương pháp thống kê y học. Sự khác biệt
được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Kết quả
Tác dụng ức chế tinh thể canxi oxalat in vitro của dịch chiết toàn phần Ý dĩ
^
a
b
c
Hình 1. Hình ảnh tinh thể canxi oxalat tạo thành trong điều kiện không có chất
thử (a), có natri citrat (b), có dịch chiết ý dĩ 1/1 (c) (x40)
Tác dụng ức chế sỏi canxi oxalat in vỉvo của dịch chiấ toàn phần Ỷ dĩ
Sau 4 tuần sử dụng hóa chất gây sỏi, sự hình thành sỏi tại thận được nhận
thấy rõ ở hầu hết các chuột thuộc lô chứng bệnh so với lô chứng thưòng. Dịch
chiết nước Ý dĩ ở mửc liều 2,52 g/kg thể hiện tác dụng ức chế hình thành sỏi
thận, làm giảm rõ rệt sổ lượng các đám sỏi lắng đọng tại thận so với lô chứng
bệnh. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa số lượng sỏi của lô Ý dĩ và
lô chứng dương natri citrat.
+
Chứng
bệnh
C liứng
tb ư ờ n ạ
N n tn ciu at
2.52g.1vg
I
Ýílĩ
(n=8)
(n=8)
0,34 ± 0,03
0,35 ± 0,04
0,29 ± 0,04
12,8%
10,3%
25,6%
0,39±0,04
* p < 0,05 so với chứng
Trong ba phân đoạn n-hexan, chloroform, ethyl acetat, chỉ có phân đoạn
ethyl acetat có tác dụng ức chế tinh thể canxi oxalat rõ rệt, với tỷ lệ ức chế tại
thời điểm 30 phút là 25,6%. Do đó, phân đoạn ethyl acetat được lựa chọn để phân
lập chất.
Phân lập chất từ phân đoạn ethyl acetat
Sau khi chiết xuất phân đoạn từ 1 kg dược liệu khô ban đầu thu được 2,7 g
cắn ethyl acetat, đem phân lập trên sắc ký cột silica gel (cỡ hạt 40 - 60 Ịj,m,
Merck) với hệ dung môi là n-hexan: ethyl acetat (1:1) thu được 3 phân đoạn kí
hiệu là EAl, EA2, EA3, trong đó, phân đoạn EAl cho thấy có một vết chất chính
trên sắc ký đồ. Tinh chế EAl bằng phương pháp kết tinh lại thu được 24 mg tinh
này tăng dần theo nồng độ. Phần trăm ức chế tối đa đạt được là 72,0% ở nồng độ
10 mM. Tác dụng ức chế hình thành tinh thể canxi oxalat của acid p-coumaric
mạnh hơn chứng dương natri citrat, với giá trị IC 50 là 2,35 mM (khoảng tin cậy
95%: 1,47 - 3,10) so với 9,61 mM (khoảng tin cậy 95%: 8,29 - 11,16) của natri
citrat.
Bàn luận
Canxi oxalat là thành phần phổ biến nhất của sỏi tiết niệu, chiếm khoảng
80% các trưòng họp sỏi tiết niệu nói chung. Quá trình hình thành sỏi canxi oxalat
trong cơ thể trải qua 5 giai đoạn chính, bao gồm: quá bão hòa nước tiểu, tạo nhân
tinh thể, sự lớn lên của các tinh thể, kết tập các tinh thể và gắn tinh thể vào tế bào
biểu mô ống thận [2], Trên cơ sở đó, chúng tôi đã áp dụng các mô hình in vitro
và ỉn vivo phù họfp để đánh giá tác dụng ức chế hình thành sỏi canxi oxalat của Ý
dĩ. Trên mô hình in vỉtro sử dụng đĩa 96 giếng, Ý dĩ đã thể hiện tác dụng ức chế
sự hình thành tinh thể canxi oxalat tăng dần theo nồng độ, đồng thời làm tăng số
lượng tinh thể COD, giảm số lưọng tinh thể COM. Điều này có thể giảm nguy cơ
lắng đọng sỏi tại thận do COM là dạng tinh thể dễ kết tập, dễ gắn với tế bào biểu
mô ống thận, do đó khó đào thải hơn tinh thể COD [1], Khi so sánh với một số
nghiên cứu khác trên thế giới [4, 7], phương pháp in vitro được áp dụng trong
nghiên cứu này có hạn chế là chưa đánh giá được tác dụng của Ý dĩ lên từng giai
đoạn của quá trình hình thành tinh thể canxi oxalat trong nước tiểu. Tuy nhiên,
kết quả in vitro trong nghiên cứu này chỉ mang tính sàng lọc, tạo cơ sở để tiếp tục
nghiên cứu tác dụng của thuốc trên động vật thực nghiệm. Gây sỏi trên chuột
cống trắng bằng ethylen glycol là mô hình đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới
để đánh giá tác dụng của các thuốc điều trị sỏi tiết niệu [6 ]. ở Việt Nam, đây là
lần đầu tiên mô hình này được triển khai và áp dụng. Dịch chiết Ý dĩ ở mức liều
2,52 g/kg đã thể hiện tác dụng ức chế sự hình thành sỏi tại thận sau 28 ngày điều
trị tưcmg tự chứng dương natri citrat. Tuy nhiên, trong khi natri citrat làm tăng
đáng kể thể tích và pH nước tiểu, Ý dĩ ở mức liều nghiên cứu không làm thay đổi
tr.844-846.
2. Chen H.J., et al.(2010), Mast cell dependent allergic responses are inhibited by
ethanolic extract of adlay testa, Journal o f Agricultural and Food Chemistry,
58(4), pp. 2596-2601.
3. Coe Fredric L., et al. Pathology and treatment of kidney stone, Medical
progress, vol 327, pp. 1141-1150.
4. Gohel
Wong s.p. (2006), Chinese herbal medicines and their efficacy
in treating renal stones, Urology Research, 34, pp. 365-372.
5. Jaganathan KS, et al. (2013), Events associated with apoptotic effect of pCoumaric acid in HCT-15 colon cancer cells, World Journal Gastroenterol
21, pp.7726-7734.
6. Karadi VR, et al (2006), Effect of Moringa oleífera Lam. root-wood on
ethylene glycol induced urolithiasis in rats, Journal o f Ethnopharmacology,
105, pp. 306-311.
7. M. Beghalia, et al. (2008), Inhibition of canxium oxalate monohydrate crystal
growth using Algerian medicinal plants, Journal o f medicinal plants
research, pp. 66-70.
8. Takahashi H., et al.(1999), Coumaroyl triterpenes from Casuarina
equisetifolia, Phytochemmistry, 51, pp. 543-550.