Giám sát phản ứng có hại của thuốc ARV trên bệnh nhân điều trị HIV AIDS được chuyển đổi phác đồ tại 5 phòng khám ngoại trú - Pdf 33

Giám sát phẳn ứng có hại của thuốc ARV
trên bệnh nhân điều trị HIV/AIDS được
chuyển đổi phác đồ tại 5 phòng khám
ngoại trú
VÕThị Thu Thủy\ Nguyễn Phương Thúy\ Trần Ngân Hà\ Nguyễn Hoàng Anh\
Lê Thị Hường^ Nguyễn Thị Vũ Thành^
^Trường Đại học Dược Hà Nội
Kục Phòng chống HIV/AIDị Bộ Y tế
^Tổ chức Quân lý Khoa học vể Sức khỏe Hoa Kỳ (MSH)

SUMMARY
Using antiretroviral drugs for HIV therapy shows high risk o f adverse drug reactions (ADRs). Information about ADRs resulted from
highly active antiretroviral therapy (HAART) has been well reported but data from Vietnamese HIV infected patients were limited. A
cohort o f an active surveillonce from 5 sentinel sites nationwide was collected in which adult outpatients after switching treatment
regimen were enrolled with follow up period aimed ot 12 months. Data from each site was sent to The Notional DI&ADR Center through
web-based software (SSA5SA) and analyzed
There were 378 paticiponts with mean age o f 34.5±7.2 in which male accounted for 75.7%. AZT-based regimens were most
frequently used (53.2%) followed by TDF-based regimens (46.0%). The number o f patients experienced at least one ADR during
treatment period was 199 (52.6%). The most common ADRs were liver and biliary disorders (30.4%) followed by blood disorders
(11.6%). Regimen switching during the second regiment occurred in 14.3% patients o f which 72.2% was due toADRs. The cummulơtive
incidences o f ADR were determined by Kaplain-Meier as follows: 34.2% after 6 months and 46.6% after 12 months ofARV initiation.
In conclusion, the incidence ofADRs due to HAART was high during ARV treatment. Monitoring these ADRs is therefore necessary
to ensure treatment outcome and quality o f life o f patients. By studying the ADRs characteristics,this research project would provide
evidence for appropriate treatment and guideline revision.
Từkhóa:ARV, phản ứng có hợi của thuốc, cảnh giác dược, giám sát chủ động.

Đặt Vấn để
ở Việt Nam, dưới sự hỗ trợ của các Tổ chức quốc
tế, các chương trình điều trị HIV/AIDS bằng thuốc
kháng retrovirus (thuốc ARV) đang ngày càng được
mở rộng với số lượng bệnh nhân lên tới 80.702 người

các
7
g
~ bệnh của bệnh
;;;;;
,hang diễn biến p h i tạp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân trên 18 tuổi
được điểu trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:Tất cả bệnh nhân > 18 tuổi


được điều trị bàng thuốc ARVyầ chuyển đổi sang phác
đó mới ở thời điểm bắt đẩu tham gia nghiên cứu tại 5
phòng khám ngoại trú (PKNT) gồm: (1) Bệnh viện Đa
khoa Đống Đa (Hà Nội), (2) Bệnh viện 09 (Hà Nội), (3)
Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương, (4)
Trung tâm Y tế Dự phòng quận Bình Thạnh (Tp. Hổ Chí
Minh), (5) Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (Tp. Hổ Chí Minh).
-Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân dưới 18 tuổi, phụ
nữ có thai. Bệnh nhân đang tham gia một nghiên cứu
lâm sàng khác có liên quan đến thử nghiệm thuốc
hay suy giảm chức náng thận nghiêm trọng (độ thanh
thải creatinin < 1 0 ml/phút) tại thời điểm chuyển đổi
phác đổ.
-Tiêu chuẩn chẩn đoán: Bệnh nhân có kết quả xét
nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV dương tính và
chẩn đoán giai đoạn lâm sàng theo "Hướng dẫn chẩn
đoán và điều trị"của Bộ Y tế năm 2009.
-Thời gian nghiên cứuiThu nhận bệnh nhân được

cholesterol toàn phán, creatỉnin, glucose).
Thẩm định biến cố bất lợi và đánh giá mức độ
nghiêm trọng

Biến cố bất lợi trên lâm sàng và xét nghiệm cận lâm
sàng được quy kết thành phản ứng có hại của phác đổ
(ADR) thông qua đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa
việc sử dụng thuốc nghi ngờ và ADE theo hướng dẫn
của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [12] với các mức quỵ
kết"chắc chắn" "có khả năng""có thể". Mức độ nghiêm
trọng của ADR được phân loại theo Hướng dẫn chẩn
đoán và điểu trị HIV/AIDS của Bộ Y tế (2009).
Chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm lâm sàng và nhân khẩu học của bệnh
nhân trong mẫu nghiên cứu: Phân bố vể tuổi, giới tính,
tình trạng nhiễm HIV (đường lây nhiễm, giai đoạn lâm
sàng, giai đoạn miễn dịch), phác đổ HAART sử dụng,
thời gian trung bình theo dõi bệnh nhân trong nghiên
cứu và tình hình điểu trị.
- ADR của thuốc ARV: Tỷ lệ BN gặp ADR, xác suất
xuất hiện ADR theo thời gian, tỷ lệ gặp ADR theo hệ cơ
quan (theo hướng dẫn của WHO - Adverse Reaction
Terminology 2012), tỷ lệ các ADR thường gặp, tỷ lệ các
ADR gặp theo từng phác đổ, mức độ nghiêm trọng
của ADR, xử trí ADR, hậu quả của ADR và tỷ lệ BN
chuyển phác đổ.
Xử lý dữ liệu: Dữ liệu được xuất từ phẩn mềm
SSASSA, được xử lý bằng Microsoft Excel 2007, sau đó
được phân tích bằng SPSS 16.0. Mẫu được đặc trưng
bởi giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc tỷ lệ %.

(n=378)

T ỷ lệ %

Đặc điểm bệnh nhân

Số lượng
(n=378)

T ỷ lệ %

Đường lây nhiễm HIV

Số lượng bệnh nhân tại các PKNĨ
Bệnh viện Đống Đa-Hà Nội

41

10,8

Nghiện chích ma túy

190

50,3

Bệnh viện 09-Hà Nội

55


8,4

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới -Tp. Hỗ Chí Minh

31

8,2

Không có thông tin

5

1,3

Giới tính

Tuổi(năm):34,5±7,2

Nam

286

75,7

Nhỏ nhất: 21

Nữ

92



Suy giảm tiến triển
(CD4 từ 200-349)

94

24,9

Giai đoạn 3

42

11,1

Suy giảm nặng (CD4 < 200)

75

19,8

Giai đoạn 4

29

7,7

Thiếu thông tin

29



Theo kế hoạch

77

20,4

1c(AZT/3TC/NVP)

38

10,1

Thất bại điều trị

10

2,7

1d (AZT/3TC/EFV)

27

7,1

Mắc lao

5

1,3

máu (50 bệnh nhân chiếm 13,2%), tê bì tay chân (26
bệnh nhân chiếm 8,5%) và tăng triglycerid máu (15
bệnh nhân chiếm 6,9%). Các ADR khác như nhiễm độc
gan, dị hình, buồn nôn, phát ban, mệt mỏi, rối loạn sắc
tố móng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (kết quả này không trình
bày trong bảng).
Bảy phác đổ đã được lựa chọn chuyển đổi cho
bệnh nhân, bao gồm các phác đổ có chứa ATT (53,2%)
và TDF (46,0%). số bệnh nhân phải sử dụng phác đổ
bậc hai chỉ chiếm 3,7% (bảng 2).
Sau 6 tháng tuyển chọn và 1 2 tháng theo dõi, tỷ
lệ bệnh nhân duy trì phác đổ điểu trị đã được chuyển

đổi tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu chiếm 67,7%. Tỷ
lệ bệnh nhân chuyển phác đồ khác và tử vong tương
ứng là 14,3% và 4,5% (bảng 3). Lý do chính khiến bệnh
nhân phải tiếp tục chuyển phác đổ trong quá trình
theo dõi cũng tương tự như các lý do đã được thống
kê ở thời điểm trước khi bắt đẩu nghiên cứu, trong
đó ADR vẫn là nguyên nhân chính (39/54 bệnh nhân
chiếm 72,2% sổ bệnh nhân phải chuyển phác đổ).
Tân suất và đặc điểm ADR của thuốc ARV trong
mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ bệnh nhân gặp ADR theo phác đồ điểu trị và
theo tổ chức cơ thể
Toàn bộ các biến cố bất lợi xuất hiện trong quá


Bâng 2. Phác đồ mới được chuyển đổi


4

Số bệnh
nhản

Tỷlệ(%)
n=378

Duy trì phác đổ đã được chuyển đỗi

256

67,7

20,9

Chuyển phác đỏ khác

54

14,3

53

14,0

Tử vong

17


TDF/3TC/LPV/r

13

3,4

Mất thông tin

13

3,4

7

AZT/3TC/LPV/r

1

0,3

Tinh hình theo dõi điểu trị

trình sử dụng thuốc ARV đã được thẩm định theo thang phân loại mối quan hệ nhân quả của Tổ chức Y tế Thế
giới - WHO để quy kết thành ADR. Trong tổng số 387 bệnh nhân được theo dõi, 216 bệnh nhân đã ghi nhận
được biến cố bất lợi với tổng số biến cố là 381 .Trong số này, 199 bệnh nhân (52,8%) đã được ghi nhận gặp phải
phản ứng có hại của thuốc vì có mức quỵ kết mối quan hệ thuốc nghi ngờ - biến cố bất lợi ở mức "chắc chắn"
"có khả năng" và "có thể" với tổng số ADR là 331. số ADR trung bình trên 1 bệnh nhân là 1,6.
Số lượng bệnh nhân gặp ADR ở phác đổ có chứa AZT cao hơn gấp 1,4 lẩn so với phác đổ có chứaTDF (bảng 4).
Bâng4. TỷlệbệnhnhângọpADRtheophócđố
Bệnh nhân cũ

37,7

1f(TDF/3TC/EFV)

108

53

49,1

TDF/3TC/LPV/r

13

8

61,5

AZT/3TC/LPV/r

1

1

100

1g (AZT/3TC/TDF)

3


xuất hiện tàng creatinin huyết thanh (chiếm 7,5%),
trong đó tỷ lệ bệnh nhân táng creatinin ở phác đổ 1 e
và 1 f lần lượt là 3,8% và 93%.
Tỷ lệ bệnh nhân gặp ADR theo thời gian
Các hệ cơ quan được lựa chọn bao gồm ba hệ cơ
quan có tỷ lệ xuất hiện ADR lớn nhất bao gồm hệ gan mật hệ hổng cầu - máu và hệ thận - tiết niệu. Xác suất
tích lũy gặp ADR được trình bày trong hình 1.
Trong vòng 6 tháng đẩu sau khỉ chuyển đổi sang
phác đồ mới, tỷ lệ bệnh nhân gặp ADR đạt cao nhất
(tương ứng với 34,2%); sau 12 tháng và 21 tháng, tỷ lệ
này lẩn lượt là 46,6% và 61,2%.
Phân tích chi tiết theo hệ cơ quan cho thấy rối loạn


Bỏng 5. Tỷlệ bệnh nhân gặp ADRphân loọi theo tổ chức cơ thể
Phác đồ
1c=ACT/3TƠNVP 1d=AZT/3TC/EFV 1e=TDF/3TƠNVP
1f=TDF/3TƠEFV 2*=TDF/3TƠLPV/r 2**=AZT/3TƠLPV/r

HệC0quan
(mãSOC)
Chung

1c

1d

le

1f

29(36,7)

14(26,4)

38(35,2)

1 (33,3)

5(38,5)

1 (100,0)

Hổng cẩu-Máu (1210)

75(11,6)

34(28,1)

31 (39,2)

3(5,7)

4(3,7)

1 (33,3)

1 (7,7)

1 (100,0)



-

1 (7,7)

-

Thẩn kinh trung ương (0410)

14(3,7)

8 (6,6)

3(3,8)

-

2(1,9)

-

1 (7,7)

-

Tiêu hóa (0600)

11(2,9)

4(3,3)


Thắn kinh ngoại biên (0410)

8(2,1)

4(3,3)

1 (1,3)

-

3(2,8)

-

-

-

Da và mô dưới da (0100)

5(1,3)

2(1,7)

-

2(3,8)

1(0,9)

0.6-

0





Độ 2

63(19,1)

Độ 3

14(4,2)

Độ 4

3 (0,9%)

Không được phân loại

68(20,5)

Tổng

331

Phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR được dựa trên "Hướng dẫn chán đoán và điểu trị HIV/AIDS nàm
2009" của Bộ Y tế. Loại trừ các ADR không được phân loại, ADR đa số là ít nghiêm trọng (độ 1 và 2) với tỷ lệ là
74,4% (bảng 6 ).
Các ADR được đánh giá ở mức độ nghiêm trọng chủ yếu là ADR được ghi nhận từ các kết quả xét nghiệm
bất thường bao gổm: tăng ALT, tàng ASX thiếu máu và tăng creatinin huyết thanh. Các phản ứng xảy ra với
Bỏng 7. Mức độ nghiêm trọng vàxử trícủũ các ADR thường gặp
Thông số
ADR



42(56,0)
5(6,7)

17(94,4)
1(5,6)

3(4,5)

9(12,0)

-

1(1,4)

-

-

-

-

19(25,3)

-

104(98,1)

65(97,0)

Tổng

1 (0,25)
1 (0,25)
1 (0,25)
1 (0,25)
39(10,3)


tỷ lệ cao nhất bao gồm tăng enzym gan (28,0% táng
ALT và 17,7% tang AST), thiếu máu (19,4%) và tăng
creatinỉn huyết thanh (4,8%). Các phản ứng thiếu máu
thường ít được phân loại và đa số các phản ứng đều ở
mức độ nhẹ (bảng 7).
ADR gây đổi phác đổ trên 39 bệnh nhân, trong đó
phản ứng thường gặp nhất là thiếu máu và ban dị ứng
(tương ứng chiếm 7,4% và 0,8% tổng số bệnh nhân)
(bảng 8 ).
Bàn luận
Trong nghiên cứu này, 52,6% bệnh nhân đã được
ghi nhận gặp ít nhất 1ADR trong quá trình điều trị, 19,6%
trong số đó đã phải chuyển phác đổ. ADR thường gặp
nhất là rối loạn gan - mật (30,4%), rối loạn hổng cẩu máu (11,6%), rối loạn thận - tiết niệu (4,8%) và rối loạn
hệTKTVV và tâm thẩn (3,7%). Có 80,5% số phản ứng đã
được phân loại mức độ nghiêm trọng bởi nhân viên y
tế, đa số (74,4%) ở mức độ nhẹ (độ 1 và 2).
Số bệnh nhân có xuất hiện ADR trong nghiên cứu
này tương đối thấp khi so sánh với nghiên cứu tương
tự được tiến hành ở Thụy Sỹ (74%) [6 ]. Sự khác biệt
có thể do phác đổ điều trị và đối tượng bệnh nhân

khác biệt trong nghiên cứu này cũng có thể tạo ra
chênh lệch giữa các nghiên cứu.
Tại Việt Nam, TDF là thuốc mới được đưa vào sử
dụng trong phác đổ bậc 1 từ năm 2 0 1 nên những
quan ngại vể độ an toàn như độc tính trên thận của
thuốc hiện đang được quan tâm.Tỷ lệ ADR trên hệ thận
- tiết niệu được ghi nhận trong nghiên cứu khá thấp
(4,8%). 13/18 bệnh nhân có ADR trên hệ thận - tiết niệu
được sử dụng phác đổ có chứaTDR So sánh với nghiên
cứu của Arlene và cộng sự ở Singapore (2012), tỷ lệ
bệnh nhân có giảm độ thanh thải creatỉnin xuống dưới
50 ml/phút là 7,9% [8 ]. Trong quá trình rà soát bệnh
án tại 5 phòng khám, nhóm nghiên cứu nhận thấy chỉ
có một số lượng ít bệnh nhân được làm xét nghiệm
creatỉnin huyết thanh do khả năng chi trả hạn chế.
Với rối loạn TKTW và tâm thẩn, 25,6% bệnh nhân
trong nghiên cứu của Nagpal (2010) và 30% bệnh
nhân trong nghiên cứu của Khalili gặp phải các ADR
trên hệ cơ quan này [7], [10]. Tỷ lệ này trong nghiên
cứu của chúng tôi khá thấp (3,7%) và đểu là các phản
ứng nhẹ như chóng mặt đau đầu, choáng váng, mất
ngủ. Các phản ứng này dễ bị nhẩm lẫn với những triệu
chứng lâm sàng của bệnh và có thể bị bỏ qua không
được ghi vào trong bệnh án.
Phẩn lớn ADR ở mức độ 1 và 2 (74,4%), tuy nhiên
cũng có một số lượng lớn ADR chưa được phân loại
(20,5%). Trong nghiên cứu của Eluwa (2012), phẩn
lớn ADR ở mức độ 1 (39%) và chỉ có 1% ở mức độ
4 [5]. Trong khi đó, nghiên cứu tại Ấn Độ (2010) và
Thụy Sỹ (2001) cho thấy tỷ lệ các ADR nghiêm trọng

động, trong khi tỷ lệ này với phương pháp báo cáo tự
nguyện chỉ đạt 10,8% [9].

Kết luận
Đã ghi nhận được ít nhất 1 ADR của thuốc ARV
xuất hiện trên 52,6% sổ bệnh nhân rối loạn gan - mật
(30,4%), rối loạn hổng cẩu - máu (11,6%), rối loạn
thận - tiết niệu (4,8%) và rối loạn hệTKTVV và tâm thán
(3,7%) là các rối loạn được ghi nhận nhiều nhất. Sau
6 tháng và 12 tháng, xác suất tích lũy xuất hiện ADR
lần lượt là 34,2% và 46,6%. ADR là nguyên nhân chính
khiến bệnh nhân thay đổi hoặc tạm ngừng phác đổ
điều trị (72,2% số trường hợp phải chuyển phác đổ)
chủ yếu do thiếu máu, ban dị ứng và nhiễm độc gan.
Kết quả thu được đâ bổ sung dữ liệu vể tần suất và
đặc điểm ADR của thuốc ARV trên bệnh nhân nhiễm
HIV/AIDS điểu trị tại Việt Nam, cung cấp thông tin
phục vụ hoạt động Cảnh giác DưỢQ góp phẩn nâng
cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho
bệnh nhân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Y tế (2011), Quyết định 4139/QĐ-BYT về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS"
ban hành kèm theo Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/08/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2.

Nguyễn Văn Kính (2010), Nghiên cứu tác dụng phụ hay gặp của phác đồ ARV bậc 1, ĩạp chí Yhọc thực hành, số 3 (708), tr.50-52.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status