Giúp học sinh lớp 5 có kết quả tốt hơn trong phân môn tập làm văn - Pdf 33

Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:
Giúp học sinh lớp 5 có kết quả tốt hơn trong phân môn tập làm văn.

I. Lý do chọn đề tài:
1.

Do tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong chương trình tiểu

học:
Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời
sống mỗi con người. Với cộng đồng đó là phương tiện để giao tiếp và tư
duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng. K.A.U-sin-Xki
chỉ rõ “trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy
nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa
trẻ được phản ánh qua nó chỉ thông qua công cụ này”. Do đó trẻ em cần
được học tiếng mẹ đẻ một cách khoa học, cẩn thận trong các giờ học tiếng
Việt đặc biệt là trong phân môn tập làm văn, để sử dụng công cụ này trong
những tháng năm học tập ở nhà trường, cũng như trong suốt cuộc đời.
Tiếng mẹ đẻ có tính chất hai mặt: nó vừa là đối tượng học tập của học
sinh, vừa tạo cho các em công cụ để học các môn khác, là công cụ tư duy,
giao tiếp.
2.
Do nhận thấy tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong chương trình
tiểu học. Là một giáo viên dạy lớp cuối của bậc tiểu học tôi thấy cần phải
giúp đỡ các em ngoài việc nhận ra tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ còn phải
nói, viết tiếng mẹ đẻ một cách chính xác, thành thạo qua phân môn tập làm
văn trong tiếng Việt ở tiểu học.
II. Quá trình thực hiện đề tài:
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn:
Hiệu quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vào nội dung dạy học mà

miệng.
Đây là một môn học khó, làm thế nào để học sinh biết làm một bài tập
làm văn đúng thể loại, đủ ý, câu văn lưu loát, có hình ảnh, có tình cảm...
không sai lỗi, trình bày đẹp, tôi đã suy nghĩ rất nhiều năm. Trong những lúc
chấm bài cho học sinh tôi băn khoăn còn một số học sinh làm bài chưa chú
ý, câu còn lủng củng, ý nghèo nàn, sai lỗi nhiều. Vì vậy tôi đã vạch ra cho
mình một phương pháp riêng khi dạy Tập làm văn lớp 5.
2. Sau đây là phương pháp của tôi trong khi dạy từng tiết học trong
môn tập làm văn.
A. Đối với các tiết quan sát tìm ý - lập dàn bài chi tiết:
- Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết quan sát và tìm ý gồm hai
mặt:
+ Chuẩn bị kiến thức phục vụ cho việc làm một đề văn theo yêu cầu
đầu bài đã cho:
+ Hình thành phương pháp và kĩ năng quan sát gắn với miêu tả.
-

Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh:


+ Khi quan sát phải sử dụng các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi...để
nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm...nhằm nhận biết sự vật về hình dạng, màu sắc, âm
thanh, mùi vị...
+ Quan sát nhằm nhận ra nhữgn nét độc đáo đặc biệt của đối tượng
chứ không phải thống kê tỉ mỉ trung thực mọi chi tiết về sự vật.
+ Trong khi quan sát còn luôn gắn với cảm xúc, với kỉ niệm, với
cuộc sống cá nhân của người quan sát. Từ đó gắn chặt với các hoạt động liên
tưởng so sánh, tưởng tượng, hồi tưởng... của từng cá nhân.
+ Từ việc quan sát học sinh tìm được từ ngữ diễn tả đúng và sinh
động những điều đã quan sát được.

các giờ ra chơi để bổ sung cho bài của mình mà qua tiết Lập dàn bài mình
thấy còn thiếu.
B. Tiếp theo là tiết Tập làm văn miệng.
Đây là tiết khó khăn nhất đối với học sinh. từ các ý quan sát tìm được,
học sinh phải sắp xếp thành câu văn và nói được trước lớp. Khi nói phải đảm
bảo phát âm đúng, dùng từ ngữ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp..., câu
ngắn gọn, rành mạch, rõ ràng, làm cho người nghe tiếp nhận được một cách
có hiệu quả tốt nhất. Biết sử dụng giọng nói, điệu bộ diễn tả nhằm hỗ trợ cho
việc thể hiện nội dung.
Ở tiết này học sinh nói được càng nhiều càng tốt. Không nhất thiết nói
lên phải chuẩn ngay (vì học sinh đang tập nói), có thể câu còn lủng củng,
thiếu từ, sai lỗi.
Học sinh và giáo viên chú ý theo dõi, à hướng sửa lỗi câu văn hay hơn,
đúng hơn. Nếu học sinh bí từ, giáo viên có thể cung cấp thêm từ cho học
sinh để có những câu văn sinh động hấp dẫn, từ đó mà phát triển tư duy và
ngôn ngữ cho học sinh.
(chú ý trong diễn tả lời văn phải tự nhiên, chân thành và giản dị).
Trong tiết này giáo viên cần tạo ra không khí hào hứng, kích thích học
sinh muốn nói và mạnh dạn nói từ đó hướng dẫn các em cách nói sao cho
đạt hiệu quả tốt nhất..
Ví dụ trong tiết tập làm văn miệng "Tả cảnh nhộn nhịp ở sân trường em
trong giờ ra chơi" tôi đã thực hiện như sau:
- Thể loại? trọng tâm? dàn bài chính? Phần này học sinh nêu lại vì đã
hình thành ở tiết trước, giáo viên có thể ghi sẵn ở bảng phụ hoặc cho học
sinh nêu, giáo viên ghi nhanh lên bảng.
Hệ thống câu hỏi:


+ Mở bài cần nêu ý gì?
+ Có mấy cách mở bài? (Trực tiếp? gián tiếp?)

+ Nhận xét đoạn văn của Liên?
Câu ngắn gọn nhiều từ hay, sinh động: "bừng tỉnh", "bay phấp phới".
*Minh nói:
Từ các cửa lớp học sinh chen nhau ra ngoài, toả trên khắp sân trường để
tổ chức các trò chơi.
+ Nhận xét đoạn văn của Minh?
(Tả tự nhiên, thật nhưng dùng từ "chen nhau" chưa hay).
Con có thể thay bằng từ nào cho hay hơn? (ùa ra)
(Vài học sinh nói miệng phần này và cách tổ chức như trên).
+ Khi ra sân em thấy toàn cảnh sân trường lúc này, như thế nào?
*Hà nói:
- Sân trường thật là nhộn nhịp: Bạn chạy qua, bạn chạy lại, nhóm này
chơi nhảy dây, nhóm kia đá cầu. Dưới bóng mát của cây phượng là nhóm
kéo co đang dàn thành hai tốp, trên những chiếc ghế đá góc sân các em lớp 1
đang say sưa đánh vần, những chiếc đu quay, bập bênh thi nhau vút lên, hạ
xuống.
+ Nhận xét đoạn văn trên của bạn?
(Bạn tả được bao quát toàn cảnh sân trường trong giờ ra chơi rất nhộn
nhịp, câu ngắn gọn, lưu loát).
*Nghĩa nói:


- Phía các bạn nữ cuộc nhảy dây bắt đầu. Vòng đầu bạn đều vượt qua dễ
dàng. Các vòng sau chỉ còn ba bốn bạn nhảy, các bạn bị loại mặt buồn thiu.
+ Nhận xét? (- Bạn chưa tả bao quát toàn cảnh sân trường mà tả ngay
vào các trò chơi. - Bạn tả trò chơi chưa sôi nổi vui vẻ).
+ Sau khi tả bao quát toàn cảnh các con tả cảnh gì? (Tả một vài trò tiêu
biểu vui vẻ, nhộn nhịp).
*Trâm nói:
- Dưới bóng mát của cây đa già là trò chơi đá cầu của Quang và Dũng.

bổ ích. Sân trường lại im lặng. Từ các lớp, tiếng giảng bài của các cô giáo lại
vang lên.
+ Em có cảm nghĩ gì sau giờ ra chơi?
(Giờ ra chơi bổ ích và lí thú, tinh thần sảng khoái để tiếp tục tiếp thu bài
tốt hơn – khắc sâu trong trí nhớ những tiếng cười hồn nhiên của tuổi học
trò).
(Phần này giáo viên gọi 4 – 5 em nói phần cảm nghĩ của mình về giờ ra
chơi. Cách tổ chức giống thân bài).
· Sau tiết này giáo viên dặn học sinh về viết nháp bài văn này để giờ
sau có tiết viết. Qua tiết miệng học sinh tự bổ sung cho bài văn của mình hay
hơn. Ngoài ra, sau những tiết miệng ngoài việc học sinh phát hiện từ hay
trong khi bạn nói để bổ sung cho bài của mình, tôi còn cung cấp cho các em
một số từ hay phục vụ cho từng bài.
Ví dụ: ở bài tả giờ ra chơi tôi cung cấp những từ sau:
+ Bước chân: thoăn thoắt.
+ Điệu bộ: Bẽn lẽn, bình thản, hăng hái, láu táu...
+ Giọng nói, thái độ, nụ cười: liến thoắng, pha trò, hả hê.
+ Tình cảm: thoả thích, sảng khoái, khoái chí, sửng sốt, kinh ngạc...
C. Để tiết viết đạt hiệu quả cao, lời nhắc nhở dặn dò của giáo viên trước lúc
viết cũng rất quan trọng.
Ngoài việc thực hiện theo đúng các bước trong tiết viết bài, trong mỗi
tiết viết tôi còn chú ý dặn thêm:


-

Vận dụng những đặc điểm, lời văn ở từng thể loại. Ví dụ:

+ Tả người: Cần lựa chọn những tính từ gợi hình, gợi cảm, các động từ
sát hợp, các hình ảnh so sanh, ví von sinh động... để vừa gợi tả cụ thể, vừa

Về tình cảm của học sinh đối với môn Tập làm văn:


- Các em không còn sợ môn này nữa, và có hứng thú khi học Tập làm
văn. Cụ thể trong tiết văn “Tường thuật lại tiết học lí thú” tôi giao thêm đề
các em đều thuật lại tiết Tập làm văn rất sôi nổi, hóm hỉnh trong cách viết.
Cá nhân điển hình của lớp tôi.
Vừa rồi tổng kết cuối học kì I lớp tôi có nhiều em đạt kết quả cao môn
tiếng Việt.
III. Bài học kinh nghiệm.
Để đáp ứng yêu cầu về môn Tiếng Việt ở tiểu học, đặc biệt là Tập làm
văn, người giáo viên phải chuẩn bị thật tốt cho mỗi tiết dạy:
-

Quan sát tìm ý – làm dàn bài.

-

Tập làm văn miệng.

-

Tập làm văn viết.

-

Tập làm văn trả.

Phải có nhiệt tình và tâm huyết với nghề từ đó mới thuyết phục được
học sinh yêu mến môn học và một khi đã yêu mến môn học thì kết quả cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status