ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
-----O0O-----
DỰ THẢO
ĐỀ ÁN
TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN
THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2013 - 2020
Nghệ An - 2013
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nông nghiệp, nông thôn Nghệ An
đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn, như: Tốc độ tăng trưởng
khá cao và ổn định; đảm bảo an ninh lương thực; tạo việc làm và thu nhập cho
dân cư nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh. Bước đầu đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến
và tiêu thụ sản phẩm như chè, mía, cao su, thủy sản, rừng trồng nguyên liệu,...;
phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, gia trại, công nghiệp, ứng
dụng công nghệ cao.
Tuy nông nghiệp phát triển, nhưng thu nhập và đời sống của nông dân và
những người làm nông nghiệp còn thấp, nông dân vẫn còn nghèo. Nguyên nhân
chính là do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương do thiên
phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 của Bộ Nông nghiệp &
PTNT về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành
nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo
Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chỉ thị số 2039/CT-BNN-KH ngày 20/6/2013 của Bộ Nông nghiệp &
PTNT về việc triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ Nông
nghiệp & PTNT về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
- Thông báo số 4914/TB-BNN-VP ngày 23/10/2013 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc Thông báo kết luận của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại Hội nghị
triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 3278/QĐ-UBND ngày 30/7/2013 của UBND tỉnh về việc
ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn
chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nông cao chất lượng, hiệu quả và
năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020.
- Quyết định số 3875/QĐ-UBND-NN ngày 31/8/2010 của UBND tỉnh về
ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2020.
- Căn cứ Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ
sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn.
- Các quy hoạch phát triển các cây trồng, vật nuôi, lâm nghiệp, NTTS trên địa
bàn tỉnh Nghệ An đã được phê duyệt.
- Từ thực trạng, tiềm năng thực tế của tỉnh hiện nay, xu thế phát triển chung
của cả nước và thế giới.
III. TÊN GỌI VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐỀ ÁN
lý, chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh. Cụ thể:
- Về nông nghiệp: Gồm các quy hoạch như: Phát triển đàn trâu, bò; phát
triển vùng mía nguyên liệu, cây chè, cây cao su, mía, dứa...; phát triển vùng nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao Phủ Quỳ Nghệ An đến năm 2020...; Vùng sản
xuất rau, củ, quả và hoa theo công nghệ cao; vùng nguyên liệu chế biến gỗ MDF;
vùng sản xuất cây thức ăn phục vụ chăn nuôi bò sữa,...; Các chương trình phát
triển giống cây, con đến năm 2015 và 2020, các đề án như: phát triển chăn nuôi
trâu bò hàng hóa..., dự án Phát triển công nghệ sinh học và sản xuất nông nghiệp
đến 2015 v.v...
- Về lâm nghiệp: Hoàn thành quy hoạch 3 loại rừng; quy hoạch bảo vệ và
phát triển rừng tỉnh Nghệ An đến năm 2020,...
- Về thủy sản: Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trên các hồ thuỷ lợi, thuỷ
điện tỉnh Nghệ An; Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ đến năm 2020; Quy
hoạch khu chế biến thuỷ sản tập trung,...
- Về thủy lợi, gồm các quy hoạch: Bổ sung Quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Nghệ
An, thời kỳ 2003-2010; Rà soát quy hoạch thủy lợi tỉnh Nghệ An đến năm 2020;
Quy hoạch phòng chống lũ sông Cả (là tỉnh đầu tiên của cả nước hoàn thành quy
hoạch chống lũ đê cấp III). Quy hoạch đê sông Cả (2008) với việc nâng cấp tần
suất chống lũ của hệ thống đê tả, hữu sông Cả và xóa bỏ các vùng chậm lũ Năm
Nam (Nam Đàn), Bích Hào (Thanh Chương), Quy họach sử dụng tổng hợp tài
nguyên nước lưu vực Sông Cả với sự ra đời công trình thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố,
Bản Mồng; Quy họach đê biển (2004 Điều chỉnh quy họach thủy lợi chi tiết lưu
vực sông Hiếu (2009) để điều chỉnh dự án hồ Bản Mồng; Quy hoạch chi tiết thủy
lợi lưu vực sông Hoàng Mai (2011) để xây dựng cống ngăn mặn trên sông Mơ
(sông Hoàng Mai). Rà soát quy hoạch Sông Cả để xây dựng công trình cống ngăn
mặn, giữ ngọt trên Sông Lam
- Về phát triển nông thôn: Các quy hoạch: Bố trí dân cư thuộc khu vực
nông thôn; ổn định dân cư các xã biên giới Việt - Lào trên địa bàn tỉnh Nghệ An;
Chăn nuôi có bước phát triển toàn diện, chuyển dịch theo hướng tập trung,
quy mô trang trại, gia trại, công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, tăng năng suất,
hiệu quả: Đến năm 2013, tổng đàn trâu, bò ước đạt 720.000 con (trong đó, đàn
trâu: 310.000 con, bò: 410.000 con), tỷ lệ bò lai đạt trên 53,03% tổng đàn. Tổng
đàn lợn : 1,3 triệu con, đàn gia cầm đạt trên 17,3 triệu con, tăng 64,4% so với năm
2003. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá, năm 2013 đạt 208.500 tấn,
tăng 122,7% so với năm 2003.
Chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh, đến nay, tổng đàn bò, bê sữa đạt khoảng
35.000 con, trong đó số con vắt sữa: 13.500 con, sản lượng sữa đạt trên 60.000
tấn/năm, năng suất cho sữa con cao nhất đạt 56 kg/ngày.
Công tác thú y luôn được chú trọng, chủ động trong phòng chống dịch
bệnh, hạn chế thiệt hại cho nông dân, đảm bảo an toàn thực phẩm.
Đến nay, Nghệ An đã hình thành được một số vùng nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao như: Vùng trồng rau, hoa ở Nghĩa Đàn, chăn nuôi bò sữa của Công
ty CP thực phẩm sữa TH,... trong 2 năm 2011 – 2013, toàn tỉnh đã xây dựng được
55 cánh đồng mẫu và mẫu lớn trong sản xuất lúa, ngô, lạc, chè, mía..., đạt hiệu
quả kinh tế cao, năng suất, chất lượng tăng tối thiểu 10%, tạo bước đột phá, thực
hiện tốt mối liên kết giữa các “nhà”, củng cố khối liên minh công nông trong sản
xuất nông nghiệp, nông thôn.
Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả đã thành công, nhân ra diện rộng góp
phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào
vùng cao như: Trồng chè Tuyết shan ở Kỳ Sơn, chanh leo ở Quế Phong..., chăn
nuôi trâu bò hàng hóa, các loại đặc sản như vịt bầu Quỳ, gà ác, lợn đen... ở các
huyện miền núi.
1.4. Về lâm nghiệp
Lâm nghiệp Nghệ An đã có những chuyển biến tích cực, từ sản xuất theo
truyền thống lấy quốc doanh làm nòng cốt, khai thác rừng tự nhiên là chủ yếu
sang sản xuất lâm nghiệp nhân dân mang tính xã hội hoá nghề rừng ngày càng
cao, đa thành phần, đa nguồn lực đầu tư cho bảo vệ, phát triển rừng.
Đến năm 2012, diện tích có rừng toàn tỉnh đạt 888.695,75 ha, tăng độ che
Đến năm 2013, toàn tỉnh đã có 51 cơ sở sản xuất giống thủy sản mặn lợ.
Đặc biệt cho sinh sản thành công tôm sú, cá rô phi đơn tính, cá tra và tôm he chân
trắng. Nghệ An được coi là trung tâm giống thuỷ sản của khu vực Bắc Trung bộ.
Khai thác thủy sản phát triển mạnh, chuyển dịch đúng hướng: Toàn tỉnh
hiện có 3.981 chiếc tàu thuyền đánh cá (30/9/2013). Trong đó loại tàu công suất
trên 90 CV tăng nhanh, năm 2013 có 1.108 chiếc tăng trên 505% so với năm
2003. Đồng thời du nhập nghề mới vào khai thác thủy sản như nghề chụp mực 4
tăng gông, rê xù, rê khơi… với trang thiết bị hiện đại như máy định vị, thông tin
liên lạc, máy ra đa, máy dò đứng, máy dò ngang.
Công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản có nhiều tiến bộ: Hiện tượng khai thác
bằng chất nổ, xung điện… từng bước được kiểm soát và hạn chế, công tác đăng ký
đăng kiểm, cấp giấy phép hoạt động tàu cá được triển khai khá đồng bộ và đạt hiệu
quả cao (trên 90% phương tiện được đăng ký đăng kiểm). Việc tái tạo nguồn lợi,
như thả cá xuống hồ nước lớn, tôm, ngao giống ra biển được tiến hành hàng năm.
Chế biến thủy sản phục vụ nội địa và xuất khẩu tiếp tục phát triển khá, hàng
năm cung ứng cho thị trường gần 20 triệu lít nước mắm các loại, trên 15.000 tấn
bột cá, 3.000 tấn mắm các loại; chế biến xuất khẩu đạt 26.000 tấn.
1.6. Về sản xuất muối
Đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất: đưa chạt lọc ra giữa
sân phơi, trải bạt nhựa ô kết tinh..., ổn định diện tích 800 ha, tăng năng suất đạt
113 tấn/ha, sản lượng 90.000 tấn, trong đó 10.000 tấn muối tinh sạch.
2. Phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp phục vụ sản xuất và ứng phó
với biến đổi khí hậu
2.1. Đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng thủy lợi
Công tác thủy lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh
biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và tác động mạnh đến sản xuất, đời sống người
dân. Từ năm 2003 đến nay đã kêu gọi đầu tư các dự án với tổng mức đầu tư hơn
20.000 tỷ đồng cho công tác đầu tư xây dựng công trình thủy lợi phục vụ sản xuất
5%. Các huyện có đê cửa sông: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc.
- Đê sông, đê nội đồng: Tổng chiều dài: 319 km, đến năm 2012 đã đầu tư
nâng cấp được khoảng 90km, với kinh phí 300 tỷ đồng, đảm bão chống lũ hè thu
với tần suất 10%. Các huyện có đê sông, đê nội đồng : Đô Lương, Thanh Chương,
Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, huyện Nghi Lộc. Diễn Châu, Quỳnh
Lưu, Yên Thành.
Trong 10 năm qua, Nghệ An đã triển khai hơn 30 dự án đê điều, trong đó
đã hoàn thành 13 công trình, gồm: kè Cẩm Thái, Hồng Long, Hiệu Mỹ, Hưng
Xuân; Hưng Mỹ; Tràng Sơn; kè sông Hiếu, các tuyến đê biển Kim - Hải - Hùng,
đê Quỳnh Lộc, đê Diễn Thành, kè Nghi Tân, Nghi Hải, Sơn Hải.
Các công trình đang triển khai thi công: 19 dự án, gồm: đê biển Bãi Ngang
(Quỳnh Lưu); đê biển Nghi Yên, đê biển Quỳnh Lập, đê Trung - Thịnh - Thành
( Diễn Châu), đê Long - Thuận - Thọ ( Quỳnh Lưu), đê Long - Thuận - Phương
( Nghi Lộc), đê Tả, Hữu Sông Cấm ( Nghi Lộc); các tuyến kè Bích - Vạn - Ngọc,
Kim - Vạn - Kỷ (Diễn Châu); kè chống sạt lở Hưng Khánh - Hưng Nhân ( Hưng
Nguyên); kè Bồi Sơn, kè Lam Sơn (Đô Lương), nâng cấp tuyến đê Lương-YênKhai (Thanh Chương), Tu sửa, nâng cấp kè và một số đoạn trọng điểm thuộc đê
Tả Lam, tuyến đê sông huyện Yên Thành, đê Cầu Dâu ( Đô Lương),...
Đến nay, toàn tỉnh có hơn 624 hồ chứa, 559 trạm bơm điện, 400 đập dâng và
gần 6.000 km kênh mương các loại. Thực hiện tốt công tác quản lý khai thác bảo
vệ các công trình thủy lợi, vận hành kịp thời và tuân thủ các quy trình, quy phạm
công trình; hệ thống công trình đảm bảo tưới tiêu, phòng chống hạn có hiệu quả,
nhất là các đợt hạn hán và lũ lụt lớn; Trước năm 2003 tổng diện tích tưới là
192.624 ha, trong đó lúa 129.150 ha thì đến năm 2012 tổng diện tích tưới đạt
248.291 ha (trong đó lúa 165.602 ha) tăng gần 30% so với năm 2003.
2.2. Phát triển hạ tầng nghề cá
- Về hạ tầng kỹ thuật vùng nuôi - sản xuất giống: Bình quân hàng năm nhà
nước đầu tư khoảng 17 tỷ đồng và những người nuôi đầu tư trên 20 tỷ đồng vào
xây dựng hệ thống ao nuôi, trại sản xuất giống. Đến nay, đã có trên 1.000 ha nuôi
61.900 lao động.
- Toàn tỉnh có 26 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến và bảo
quản nông lâm thủy sản, trong đó có 21 doanh nghiệp hoạt động ổn định và có
khả năng phát triển.
- Số lượng HTX tiếp tục được nhân rộng, đến thời điển hiện tại, tỉnh Nghệ
An có 32 HTX hoạt động trong lĩnh vực chế biến và bảo quản nông lâm thủy sản,
lĩnh vực chế biến và có 28 HTX hoạt động trong lĩnh vực bảo quản lâm sản,
chiếm 87% số lượng HTX.
Mô hình làng có nghề, làng nghề được các địa phương trong tỉnh xây dựng
đã phát triển với quy mô ngày càng lớn. Các làng có nghề sản xuất theo quy mô
nhóm hộ, làng nghề sản xuất theo quy mô thôn, bản, xã đã có nhiều nơi sản xuất
tập trung tại khu công nghiệp nhỏ, khu chế biến hải sản tập trung, cụm làng nghề
nông thôn. Tổng giá trị sản xuất làng nghề 6 tháng đầu năm 2013 đạt 489,475 tỷ
đồng, trong đó: Chế biến và bảo quản nông sản: 224,055 tỷ đồng; chế biến và bảo
quản lâm sản: 204,215 tỷ đồng; chế biến và bảo quản thủy sản: 61, 205 tỷ đồng.
- Mạng lưới tổ chức đào tạo nghề cho nông dân (43 cơ sở) phục vụ cho sản
xuất làng nghề được tổ chức hầu hết các huyện trong tỉnh, sản phẩm làng nghề
được cung ứng, xuất khẩu cho ngoại tỉnh và xuất khẩu ngoài nước.
- Thu nhập bình quân từ nghề chế biến và bảo quản nông sản bình quân 1,0
triệu đồng/lao động/tháng; chế biến và bảo quản lâm sản và thủy sản bình quân
1,5 triệu đồng/lao động/tháng.
4. Các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp
a) Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý hiện nay tại Nghệ An, bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện giao khoán và tổ chức sản xuất theo
Nghị định 01/1995/NĐ-CP ngày 04/01/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP
ngày 08/11/2005 Chính phủ.
Ưu điểm của các hình thức khoán này là người nhận khoán được giao đất
b) Phát triển kinh tế hợp tác (HTX và Tổ hợp tác)
Tính đến 31/12/2012, toàn tỉnh có 466 hợp tác xã nông nghiệp (năm 2003
là 367 HTX ( tăng 27%); 450/2850 tổ hợp tác thực tế có hoạt động, trong đó có
159 tổ hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã (năm 2003 chưa có tổ hợp tác
nào trong lĩnh vực nông nghiệp được UBND xã xác nhận); thu hút hơn 68% số hộ
dân nông thôn tham gia vào các HTX, tổ hợp tác. Góp phần tăng năng suất, nâng
cao chất lượng nông sản hàng hóa, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn và
phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Khu vực kinh tế tập thể tạo thêm 85.394 việc làm không thường xuyên và
14.952 việc làm thường xuyên cho người lao động và trong số đó có gần 50%
được đào tạo nghề.
Tỷ lệ nghèo đói khu vực nông thôn có HTX hạ xuống còn 12,5 % (năm
2005 là 27,14%);
Các loại hình dịch vụ chủ yếu hiện nay của HTX gồm: Cung ứng giống cây
trồng, vật nuôi, thủy sản; cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thủy lợi, điện
năng, tiêu thụ sản phẩm, vệ sinh môi trường, chế biến nông lâm sản. Ngoài ra một
số loại hình dịch vụ mới được hình thành có tính chất phi nông nghiệp nhưng
mang lại hiệu quả cao, tạo cho HTXNN có diện mạo mới, đa dạng như: Dịch vụ
vệ sinh môi trường, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đất,...
Công tác tập huấn, đào tạo cho cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể
các cấp, cho cán bộ quản lý các hợp tác xã; tập huấn, đào tạo nghề cho xã viên
hợp tác xã đã được tăng cường và hiệu quả cao.
Hàng năm ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh đều bố trí kinh phí cho
công tác tập huấn, bồi dưỡng các kiến thức chuyên môn, quản lý kinh tế - nghiệp
vụ cho cán bộ quản lý chủ chốt hợp tác xã. Đến nay các HTX đã gửi 72 cán bộ
chủ chốt đào tạo đại học, cao đẳng và 361 cán bộ đào tạo trung cấp tại các trường
trong và ngoài tỉnh; mở được 63 lớp tập huấn cho 3009 lượt cán bộ quản lý HTX
các HTX. Cấp huyện đều bố trí từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách theo dõi, chỉ đạo
dựng thí điểm 2 mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản tại Xóm 2 (xã Diễn Xuân)
và Phú Tập (xã Khánh Thành). Đây là cơ sở để Nghệ An rút kinh nghiệm trong
việc tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình MTQG Xây dựng
NTM.
Sau 3 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, Nghệ An đã
đạt được nhiều kết quả bước đầu quan trọng, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi
sắc, nhiều địa phương, đơn vị đã có cách làm hay, sáng tạo, huy động nội lực để
xây dựng hạ tầng, dồn điền đổi thửa, phát triển sản xuất, xây dựng “cánh đồng
mẫu lớn”...
Đến 30/7/2012, Nghệ An đã hoàn thành phê duyệt quy hoạch NTM của
435/435 xã, đạt 100% kế hoạch, vượt trước 5 tháng so với yêu cầu của Trung
ương. Đến nay, đã có 435/435 xã hoàn thành việc phê duyệt đề án Xây dựng
NTM cấp xã, đạt 100% KH. Các địa phương đang tập trung phát triển sản xuất,
nâng cao thu nhập cho người dân, hoàn thành mục tiêu cốt lõi của Chương trình.
Tổng nguồn vốn huy động, lồng ghép thực hiện Chương trình trong 3 năm
(2011 - 2013) là 9.881 tỷ đồng. Trong đó: Vốn ngân sách là 4.188 tỷ đồng; Vốn
lồng ghép từ các chương trình, dự án 941 tỷ đồng; Vốn tín dụng 1.090 tỷ đồng;
Vốn doanh nghiệp 393 tỷ đồng; Vốn dân góp 3.269 tỷ đồng.
Đến 30/6/2013, Nghệ An đã có: Trong đó: 01 xã đạt 19/19 tiêu chí NTM
(xã Sơn Thành, huyện Yên Thành), 2 xã đạt 16 tiêu chí (xã Nghi Liên, thành Phố
Vinh và xã Phúc Thành, huyện Yên Thành); 18 xã đạt từ 13-15 tiêu chí, tăng 17
xã; 62 xã đạt từ 9-12 tiêu chí, tăng 40 xã; 240 xã đạt từ 5-8 tiêu chí, tăng 114 xã;
112 xã đạt từ 1- 4 tiêu chí, giảm 176 xã so với năm 2010.
b) Sắp xếp, bố trí dân cư và thực hiện các chương trình, dự án phát triển
nông thôn
Trong 10 năm qua, Nghệ An đã xây dựng được 27 dự án bố trí dân cư ở các
huyện, gồm: 08 dự án di dân xây dựng vùng kinh tế mới, 05 dự án định canh định
cư xã nghèo, 04 dự án bố trí dân cư vùng đặc biệt khó khăn và vùng biên giới, 09
+ Thực hiện các đề tài, dự án: Tiếp tục thực hiện một số dự án đầu tư và
ứng dụng tiến bộ KHKT như: Sản xuất hạt giống F1 giống lúa lai LC25; xây dựng
Trạm TN và SX giống cây trồng tại xã Đô Thành; xây dựng mô hình trồng chuối
Tiêu hồng tập trung,...
- Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Triển khai thực hiện
Chương trình hành động Nghị quyết 07-NQ/TU ngày 04/2/2012 của BCH Đảng
bộ tỉnh khóa XVII về việc ứng dụng và phát triển công nghệ cao giai đoạn 2011
- 2020. Trong đó từng bước thu hút các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao vào khu nông nghiệp CNC Phủ Quỳ. Trong năm 2013, tiếp tục triển khai các
dự án chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp của Công ty CP thực phẩm sữa TH,
Vinamilk; dự án sản xuất rau, củ, quả CNC tại Nghĩa Đàn. Hoàn thành quy
hoạch ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa, lạc, chè và mía. Hiện nay
đang triển khai xây dựng đề án thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao Nghĩa Đàn.
b) Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và thông tin truyên truyền
Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tập huấn và thông tin tuyên
truyền luôn được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tiếp tục triển khai các chương trình
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp & PTNT như:
- Chương trình thông tin tuyên truyền: Hàng tháng thường xuyên có các
trang chuyên đề trên các phương tiến thông tin đại chúng như Đài PTTH, Báo
Nghệ An và mỗi năm phát hành 7 -8.000 tập chí thông tin KNKN,...
- Chương trình tập huấn, đào tạo: Năm 2012 đã tổ chức 1.115/KH1.115 lớp
tập huấn, với 56.109 học viên tham gia. Về nội dung phù hợp với đối tượng học
viên và đặc điểm của từng địa phương; áp dụng phương pháp tập huấn mới nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả tập huấn.
- Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
đến 2020” (theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng
Chính phủ) theo hướng chất lượng và hiệu quả hơn. Năm 2012, đã mở được 45
hiệu suất làm việc của cán bộ, công chức, viên chức...
Toàn ngành đã thực hiện tốt quản lý hành chính theo tiêu chuẩn ISO 90012000, đồng thời thường xuyên rà soát lại và tổ chức niêm yết, công khai quy trình,
thủ tục hành chính, các hồ sơ, mẫu biểu của các thủ tục hành chính tại Bộ phận
một cửa, trên các trang thông tin điện tử của Sở và các Đơn vị trực thuộc.
Đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của Sở và
các đơn vị thuộc ngành một cách có hiệu quả, như: Sử dụng hệ thống văn phòng
điện tử M-office, Website của ngành Nông nghiệp & PTNT, sử dụng hộp thư điện
tử,… từ Sở đến các địa phương, đơn vị; thường xuyên cập nhật, cung cấp thông
tin hai chiều một cách kịp thời.
Từ năm 2012 đến nay triển khai thực hiện có hiệu quả đề án nâng cao chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT, góp
phần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh.
II. TỒN TẠI HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Tồn tại, hạn chế
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng về cơ bản nông
nghiệp, nông thôn vẫn còn những tồn tại, hạn chế như:
a) Nông nghiệp tuy tăng trưởng khá, nhưng thiếu bền vững, khả năng cạnh
tranh thấp; cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm.
Tuy tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2003 - 2013, đạt bình quân ở mức 4 - 5
%/năm, nhưng dễ bị ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thị
trường. Cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến nhưng còn chậm, trồng trọt vẫn còn
chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu chung.
Năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông
nghiệp còn thấp; bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn kém phát triển, nên chất
lượng nhiều loại nông sản còn thấp. Phần lớn nông sản tiêu thụ và xuất khẩu ở
dạng sơ chế, thô nên giá trị gia tăng rất thấp, chưa có thương hiệu.
Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, việc áp dụng các tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật vệ sinh ATTP chưa được coi trọng; tổn thất sau thu hoạch cả
- Các hình thức liên kết trong sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc, chưa
hiệu quả và còn nhiều hạn chế.
d) Nông thôn chưa có chuyển biến rõ nét, đời sống một bộ phận nông dân
chậm được cải thiện
Tuy đời sống của đại bộ phận dân cư nông thôn đã được nâng cao, nhưng
so với mặt bằng chung thì nông thôn vẫn nghèo và phát triển chậm; thu nhập của
người dân nông thôn vẫn cón thấp so với các lĩnh vực khác; khoảng cách chênh
lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn; yêu cầu về việc làm
ngày càng bức xúc.
Mặc dù tỷ lệ người nghèo giảm nhanh và đáng kể trong thời gian qua
nhưng vẫn còn tỷ lệ cao (năm 2012 còn 15,5 %) và thiếu bền vững, dễ tái nghèo,
đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
e) Ô nhiễm môi trường tăng, nhiều tài nguyên bị khai thác quá mức
Tình trạng sản xuất thâm canh, sử dụng quá nhiều phân bón, hóa chất,
thuốc bảo vệ, chất kích thích sinh trưởng và tạo ra nhiều chất thải của các vùng
chăn nuôi tập trung, nuôi thủy sản tập trung,...tạo ra dư lượng các chất độc hại
trong nông sản thực phẩm, làm tăng khả năng chống chịu và đột biến của sâu
bệnh; tình trạng ô nhiễm môi trường đang gia tăng, đặc biệt ở các làng nghề và
chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục.
2. Nguyên nhân của tồn tại hạn chế
a) Nguyên nhân khách quan:
- Xuất phát điểm nông nghiệp, nông thôn của tỉnh thấp, trong khi nguồn lực
của Nhà nước và nhân dân còn rất hạn hẹp:
Nông nghiệp, nông thôn của tỉnh trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ,
nhưng nhìn chung vẫn còn mang nặng tính chất của một nền sản xuất tiểu nông,
nhỏ lẻ, phân tán; công nghệ, cơ sở hạ tầng lạc hậu; nhân lực được đào tạo, có tay
nghề chiếm tỷ lệ thấp. Mặt khác, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp phải
tuân theo các quy luật sinh học của cây trồng, vật nuôi nên phải có thời gian mới
thành phần kinh tế khác vào nông nghiệp, nông thôn còn rất hạn chế.
+ Việc phân bổ vốn đầu tư công trong nội bộ ngành tập trung chủ yếu cho
hạ tầng cơ bản có tính chất phi sản xuất hoặc chậm sinh lời chiếm tỷ trọng lớn.
Trong khi vốn đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các chương
trình, dự án mang tính chất hỗ trợ sản xuất và sinh lợi còn thấp.
+ Chất lượng kết cấu hạ tầng và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn
còn thấp. Cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo phục vụ đắc lực
cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhất
là giao thông nội đồng, giao thông và thủy lợi ở các vùng nguyên liệu.
- Công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ còn chậm, chưa
tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị tăng thêm cho
sản phẩm. Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế và chưa
có chính sách “đủ mạnh” để phát triển.
- Chưa có chế tài đủ mạnh để ràng buộc doanh nghiệp và người dân trong
liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Cải cách hành chính diễn ra còn chậm so với yêu cầu của sản xuất nông
nghiệp và phát triển nông thôn,...
PHẦN II
ĐỊNH HƯỚNG VÀ NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU
I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM
1. Quan điểm tái cơ cấu
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền
kinh tế, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và
phù hợp với định hướng phát triển ngành chung của cả nước; gắn với phát triển
kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững.
- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa
phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng;
chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu
2013 - 2015 đạt 4,0 - 5,0%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 3,0 - 4,0 %/năm.
- Cơ cấu kinh tế nội ngành:
+ Đến năm 2015: Nông nghiệp 79,50%, Lâm nghiệp: 10,00%, Ngư nghiệp:
10,50%. Trong nông nghiệp thuần: Trồng trọt 53,1%, Chăn nuôi 43,0%, dịch vụ
3,90%.
+ Đến năm 2020: Nông nghiệp 77,0%, Lâm nghiệp: 11,00%, Ngư nghiệp:
12,0%. Trong nông nghiệp thuần: Trồng trọt 49,9%, Chăn nuôi 46,0%, dịch vụ
4,1%.
- Đến năm 2020, thu nhập hộ gia đình nông thôn tăng lên 1,7 - 2,0 lần so
với năm 2012.
- Phấn đấu đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,0 %/năm.
- Phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
- Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ dân cư nông thôn dùng nước sinh hoạt hợp
vệ sinh đạt trên 99 %
- Nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 55% vào năm 2015 và 58 % vào năm 2020,
góp phần thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia.
II. ĐỊNH HƯỚNG VÀ NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU
Mục tiêu phát triển nông nghiệp của tỉnh theo hướng bền vững cần phải
được áp dụng xuyên suốt trong tái cơ cấu từng lĩnh vực, cụ thể:
1. Về nông nghiệp
a) Về trồng trọt
Tái cơ cấu theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung, gắn với
bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy các sản phẩm
lợi thế của tỉnh. Áp dụng các biện pháp thâm canh bền vững, đẩy mạnh áp dụng
khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, giống nhằm tăng năng suất, chất
lượng, hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung phát triển công nghệ
sau thu hoạch theo hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao
giá trị gia tăng của sản phẩm.
Tập trung chỉ đạo phát triển các loại cây trồng có thế mạnh phát triển hàng
hóa, phục vụ công nghiệp chế biến, thúc đẩy tăng trưởng như:
suất đạt 400 tạ/ha, sản lượng 160.000 tấn, đảm bảo nguyên liệu cho 2 nhà máy
chế biến tinh bột.
- Phát triển cây công nghiệp lâu năm:
+ Cây chè công nghiệp: Phấn đấu trồng mới mới hàng năm đạt 800 - 1.000
ha, bằng giống chè chất lượng cao để đạt tổng diện tích chè toàn tỉnh khoảng
12.000 ha. Đầu tư thâm canh cao, đển đến năm 2015 đạt năng suất chè búp tươi
bình quân trên 115 tạ/ha, sản lượng trên 108.000 tấn, chế biến trên 21.000 tấn chè
khô các loại; đến năm 2020 đạt năng suất chè búp tươi bình quân trên 130 tạ/ha,
sản lượng trên 156.000 tấn, chế biến trên 28.000 tấn chè khô các loại.
+ Cây cao su: Tập trung trồng mới cao su, đặc biệt là cao su trên đất lâm
nghiệp, phấn đấu đến năm 2020 diện tích cao su toàn tỉnh đạt khoảng 23.000 ha 25.000 ha, diện tích kinh doanh 13.000 ha, năng suất mủ khô đạt 13 tạ/ha, sản
lượng mủ khô đạt 17.000 tấn.
+ Cây cam, quýt tập trung: Ổn định diện tích 2.000 ha, tập trung đầu tư
thâm canh, sử dụng các giống có năng suất chất lượng, phấn đấu đến năm 2020
đạt năng suất 150 tạ/ha, sản lượng 30.000 tấn.
+ Cây dứa: Ổn định diện tích 1.500 ha, tập trung đầu tư thâm canh, sử dụng
các giống có năng suất chất lượng, phấn đấu đến năm 2020 đạt năng suất 300
tạ/ha, sản lượng 45.000 tấn, cung cấp nguyên liệu cho chế biến.
+ Cây chanh leo: Tiếp tục đầu tư trồng mới mở rộng diện tích, sử dụng các
giống có năng suất, chất lượng, phù hợp với điều kiện tiểu vùng sinh thái, phấn
đấu đến năm 2020 đạt 900 ha, năng suất bình quân 450 -500 tạ/ha, sản lượng
khoảng 45.000 tấn.
+ Rau, củ, quả các loại: Phát triển ổn định hàng năm đạt diện tích gieo
trồng 28.000 ha, năng suất đạt 150 tạ/ha, sản lượng 420.000 tấn. Trong đó, hình
thành và phát triển vùng sản xuất rau ăn, củ quả công nghệ cao tập trung với diện
tích khoảng 3.000 sản xuất theo quy trình Vietgap đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ
sinh an toàn thực phẩm.
b) Chăn nuôi
sản lượng thịt hơi xuất chuồng 150.000 tấn và đến năm 2020 đạt 1,8 triệu con, sản
lượng thịt hơi xuất chuồng 180.000 tấn.
- Phát triển chăn nuôi gia cầm: Phấn đấu đến năm 2015 đạt tổng đàn 16
triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng 42.000 tấn và đến năm 2020 đạt tổng
đàn đạt 18 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng 45.000 tấn.
- Tập trung chỉ đạo phát triển cây thức ăn phục vụ chăn nuôi, phấn đấu đến
năm 2015 diện tích trồng cây thức ăn tập trung đạt 12.600 ha và năm 2020 là
40.000 ha.
2. Về thủy sản
- Tập trung sản xuất thâm canh các đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ
chân trắng, rô phi, nhuyễn thể, ngao, các loại cá trên hồ nước lớn) và phát triển
nuôi trồng thủy sản truyền thống có khả năng thâm canh, tạo sinh kế cho người
nghèo; tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và phương pháp nuôi để khai thác cơ hội
thị trường; khuyến khích nuôi công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, quy trình thực
hành nuôi tốt (GAP) phù hợp với các tiêu chuẩn hiện hành; ưu tiên đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng vùng nuôi thâm canh ở Diễn Châu, Quỳnh Lưu,…
- Giảm dần sản lượng khai thác thủy sản gần bờ; khuyến khích hoạt động
đánh bắt xa bờ theo hình thức tổ đội sản xuất, khai thác các đối tượng có giá trị
kinh tế cao, thị trường tiêu thụ tốt; quản lý khai thác theo kích cỡ, khuyến khích
phát triển mô hình đồng quản lý nguồn lợi ven bờ nhằm nâng cao khả năng tự
phục hồi và tính bền vững của nguồn lợi thủy sản. Từng bước chuyển từ khai thác
bằng các tàu có công suất nhỏ hoạt động gần bờ sang khai thác bằng tàu có công
suất lớn xa bờ. Tiếp tục đầu tư, đầu tư ứng dụng công nghệ thiết bị hiện đại trong
khai thác, bảo quản, chế biến nâng cao giá trị, giảm tổn thất và đảm bảo chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tập trung phát triển các sản phẩm thủy sản có lợi thế của tỉnh, góp phần
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ổn định diện tích nuôi trồng thâm
canh hàng năm đạt 24.500 ha, trong đó nuôi mặn lợ là 2.500 ha (tôm thâm canh
đạt 1.750 ha). Phấn đấu đến năm 2015 tổng sản lượng thủy sản đạt 105.000 tấn,
trong đó nuôi trồng 45.000 tấn, khai thác 60.000 tấn và đến năm 2020 tổng sản