ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Lê Thành Công
NGHIÊN CỨU, CHẾ TẠO VẬT LIỆU FERIT
CẤU TRÚC LỤC GIÁC LaxSr1-xFe12O19
CÓ KÍCH THƯỚC NANÔ
Chuyên ngành: Vật liệu và Linh kiện Nanô
(Chương trình đào tạo thí diểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS-TS ĐẶNG LÊ MINH
Hà Nội - 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Lê Thành Công
CHẾ TẠO, NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU FERIT
CẤU TRÚC LỤC GIÁC Sr1-xLaxFe12O19
CÓ KÍCH THƯỚC NANÔ
Chuyên ngành: Vật liệu và Linh kiện Nanô
(Chương trình đào tạo thí điểm)
CẤU TRÚC TINH THỂ VÀ CÔNG THỨC HÓA HỌC
1
1.1.1
Công thức hóa học của hợp chất
1
1.1.2
Cấu trúc lục giác xếp chặt
2
1.1.3
Cấu trúc Magnetoplumbite M
5
TÍNH CHẤT TỪ
8
1.2.1
Tương tác trao đổi trong cấu trúc kiểu M
1.2
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
17
2.1
Phương pháp chế tạo
17
2.2
Phương pháp nghiên cứu
20
2.2.1
Phương pháp phân tích cấu trúc tinh thể
21
2.2.2
Phương pháp phân tích cấu trúc tế vi
Cấu trúc tinh thể và phân bố kích thước mẫu bột
25
3.3
Cấu trúc tế vi, kích thước và hình dạng hạt
32
3.4
Tính chất từ.
36
3.5
Tính chất từ của ferit Sr1-xLaxFe12O19
40
Chương 4
Một số kết quả thử nghiệm ứng dụng
42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
= BaO.6Fe2O3 [1, 2], đây là một oxit phức cấu trúc lục giác.
1.1.2 Cấu trúc lục giác xếp chặt.
Hình 1.2 biểu diễn trật tự của cấu trúc lục giác xếp chặt, các ion A, ion B, ion
C kí hiệu trong hình đều là ion ôxi, chúng được kí hiệu khác nhau là để phân biệt
cách sắp xếp trong các trật tự khác nhau. Các ion B nằm trong cùng mặt phẳng
ngang, chúng sắp xếp thành một mạng lưới (gọi là lớp ion B) có các mắt lưới là
một tam giác đều, mà ion B sắp xếp vào mỗi đỉnh của tam giác đều đó.
-2-
Trên lớp ion B, hình thành một lớp ion A như biểu diễn trên hình 1.2. Các
ion A sắp xếp chặt chẽ thành một mặt phẳng ngang nằm song song với mặt phẳng
chứa lớp ion B. Với một cấu trúc lục giác xếp chặt, tồn tại phía dưới lớp các ion B
một lớp ion A khác, có tâm của các ion A nằm dọc phía dưới tâm của ion A của lớp
trên lớp ion B. Tiếp tục phát triển theo chiều dọc (chiều vuông góc với các mặt
phẳng) theo trật tự như vậy, chúng ta thu được một cấu trúc lục giác xếp chặt, diễn
tiến theo thứ tự ABAB cho đến vô cùng.
Trật tự cấu trúc lập phương xếp chặt cũng được xây dựng tương tự như vậy
(xem hình 1.2b). Diễn tiến của các lớp theo chiều dọc bây giờ sẽ là ABCABC. Ở
đây, các ion A và B có vị trí tương tự vị trí của nó trong hình (a), còn các ion C
nằm xếp chặt trong 1 mặt phẳng phía dưới mặt phẳng hình vẽ (lớp B) một khoảng
bằng khoảng cách giữa 2 lớp ion A và lớp ion B trên nó.
Hình 1.2. Biểu diễn trật tự của cấu trúc lục Hình 1.3. Phối cảnh không gian 3 chiều của
giác xếp chặt (a) và cấu trúc lập phương xếp cấu trúc Spinel, với trục thẳng đứng được chọn
chặt (b) với các ion tương ứng.
là trục [111].
Bảng 1.1
lập phương, hình thành đan xen vào nhau, lớp này chồng nên lớp kia. Mặt phẳng cơ
sở chứa ion Bari là mặt phẳng gương của riêng khối R, do đó các khối kế tiếp, liên
tục của khối R (đó là khối S và S*) phải đối xứng với nhau qua mặt phẳng gương
này, khi và chỉ khi, khối còn lại được quay 180o xung quanh trục c. Đó chính là lý
do giải thích vì sao ô cơ sở của cấu trúc M chứa 10 lớp ôxi chứ không phải chỉ có 5
lớp oxi. Cấu trúc tinh thể M được mô tả theo công thức RSR*S*, và mỗi ô cơ sở
của cấu trúc chứa số ion tương ứng với công thức 2(BaFe12O19), nhớ là, khối S
trong cấu trúc gồm 2 phân tử MeFe2O4 tạo thành [23].
Hình 1.4. Thiết diện ngang theo trục dọc c của cấu trúc magnetoplumbite M. Các mũi tên chỉ
hướng của các spin. Các đường kẻ dọc là các trục đối xứng bậc ba. Các dấu chéo (x) là vị trí
tâm đối xứng. Tất cả các lớp chứa ion Bari đều là các mặt đối xứng gương, và được kí hiệu là
m. Cấu trúc này bao gồm các khối S (Spinel) giống nhau, chúng nằm đan xen vào các khối R
(các khối chứa ion Bari).
Các ion Fe+3 có thể xuất hiện trong 3 loại vị trí trống khác nhau của cấu trúc
M. Nằm dọc theo các vị trí tứ diện và bát diện còn xuất hiện một loại vị trí tứ diện
mới, loại vị trí này không có trong các cấu trúc Spinel và nó được bao bọc xung
quanh bởi 5 ion ôxy và có dạng lưỡng chóp tam giác, chúng ta gọi các vị trí này là
vị trí lưỡng chop tam giác (hay lưỡng chóp kép). Các vị trí lưỡng chóp tam giác
xuất hiện trong lớp chứa ion Bari, được đánh giá tương đương như các vị trí tứ
diện. Trong cấu trúc lục giác, hai vị trí tứ diện được xếp liền kề với nhau và giữa
chúng có 1 ion kim loại chung cho cả hai vị trí. Ion kim loại này chiếm vào vị trí
trung chuyển giữa hai vị trí, mà vị trí đó nằm chính giữa 3 ion ôxi. Giả sử các thông
số là lý tưởng, thì không gian trống giữa 3 ion oxy là nhỏ. Điều này có nghĩa là, các
ion kim loại muốn chiếm chỗ vào giữa 3 ion oxi thì bắt buộc không gian giữa 3 ion
oxi phải được giãn rộng ra, giống như trường hợp điền kẽ vào vị trí tứ diện trong
mạng Spinel. Tương tự, trong khối R, hai ion Fe+3 chiếm chỗ vào hai vị trí bát diện
kề nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp này do có hai ion oxy chung, vì vậy sẽ không
xét các thông số tương tác siêu trao đổi trong trật tự của khối R và T, chúng tôi
đánh số các ion sắt theo thứ tự 1, 2, 3, 4, như đã chỉ ra trong hình 1.6. Các kết quả
của Goter dẫn ta đến một giả thiết rằng các moment từ của các ion số 2 và số 3, các
ion nằm gần lớp chứa ion Stronium nhất, là có định hướng xuống dưới. Nguyên
nhân có giả thiết tương tác 1-oxi-2 lớn là do góc tương thích ф lớn (xấp xỉ 140o);
trong khi các tương tác khác, như tương tác 2-oxi-3 có các moment từ sắp xếp theo
chiều hướng phản song song với moment từ của ion 1, lại có giá trị nhỏ hơn bởi vì
góc tương thích là không thích hợp (xấp xỉ 80o). Hơn nữa, khoảng cách từ ion 1 đến
ba ion oxy xung quanh, trong mặt phẳng cơ sở, là tương đối nhỏ (1.3Å) và dẫn đến
giá trị tương tác 1-oxi-2 cao. Tương tác trao đổi cặp của khối R với khối S được
-5-
hình thành từ tương tác giữa moment từ của ion bát diện 3 trong khối R với
moment từ của ion bát diện 4 trong khối S. Tương tác giữa các ion bát diện xuất
hiện trong hầu hết cấu trúc Spinel (độ lớn của nó được xác định bởi đại lượng β),
mặc dù tương tác này tương đối nhỏ do góc ф không phù hợp (90o). Đây là tương
tác quan trọng nhất giữa các khối R và S. Tương tác giữa ion 1 và ion 4 không hoàn
toàn như đã vẽ trong giản đồ, tương tác này sẽ nhỏ bởi vì khoảng cách giữa ion 1
và ion oxi phía trên là khoảng 2.3Å.
Bảng 1.2
Số ion kim loại chiếm chỗ các vị trí trong khối R, S và T. Các hướng moment từ
của chúng được biểu thị theo hướng các mũi tên.
ION TRONG
LOẠI KHỐI
ION TỨ DIỆN
ION BÁT DIỆN
LƯỠNG CHÓP
tương ứng giá trị từ độ bão hòa ở 0K là μ oMS=6.6 kG. Thực nghiệm đo mẫu đa tinh
thể SrFe12O19 tại nhiệt độ hóa lỏng Hiđro, dưới từ trường 26000 (Oe), cho các kết
quả có giá trị trùng khớp giá trị tính lý thuyết ở trên là (20μB) [25].
-6-
Hình 1.7. Biểu diễn phối cảnh không gian của trật tự từ
trong một ô cơ sở có cấu trúc lục giác M.
Từ độ bão hòa của SrFe12O19 là một hàm phụ thuộc tuyến tính theo nhiệt độ.
Sự phụ thuộc nhiệt độ của từ độ bão hòa là sự phụ theo dải rộng. Tại T=20oC người
ta tìm được σ= 72 gauss cm3/g, tương ứng với 4πMS=4775 gauss, đến điểm Curie là
470oC.
1.2.3 Dị hướng từ tinh thể
Theo J.Smit [13], năng lượng dị hướng từ là năng lượng cần thiết để làm
quay vecto từ độ từ phương từ hóa dễ về phương từ hóa khó.
Năng lượng dị hướng từ tinh thể phụ thuộc vào góc giữa hướng từ trường từ
hóa và các trục tinh thể, góc θ. Đối với cấu trúc tinh thể M, tương tác spin-quĩ đạo
(tương tác siêu trao đổi) là tương tác chủ yếu, tương tác lưỡng cực –lưỡng cực là
không đáng kể, nên biểu thức của EA có dạng rút gọn:
EA= Ko+ K1sin2θ + K2sin4θ
(1.1)
Trong đó Ko, K1, K2 là các hằng số dị hướng, chúng phụ thuộc vào bản chất
vật liệu và nhiệt độ. Khi vật thể từ đạt giá trị cân bằng bền, thì năng lượng tự do của
nó là hằng số và nó thỏa mãn các điều kiện cực tiểu hóa. Tức là thỏa mãn các điều
kiện:
E A
0
Dị hướng từ phụ thuộc vào hình dạng mẫu được gọi là dị hướng hình dạng,
nó ảnh hưởng mạnh đến lực kháng từ. Giá trị độ lớn của Hd được tính theo công
thức:
Hd = NiISi/μo
(1.4)
Ở đây Ni là thừa số khử từ, nó phụ thuộc vào hình dạng và phương từ hóa của
mẫu; chỉ số i biểu thị sự tương ứng theo các trục chính của hình dạng mẫu. Các vật
thể từ thường có hình dạng phức tạp và đều được qui về các hình dạng khối đối
xứng, như hình elip tròn xoay, hình trụ tròn (hình kim), hình đĩa dẹt, …
Nếu mẫu có hình dạng hình kim Hd = IS/2μo, vì chỉ có 1 thừa số khử từ N1=1,
nằm dọc theo phương trục tinh thể c.
1.2.4 Các thông số từ đặc trưng cho vật liệu ferit từ cứng.
Đường cong khử từ, tích số năng lượng cực đại
Người ta thường biểu thị mối quan hệ của cảm ứng từ và trường từ hoá: B =
oH, ở đây là độ từ thẩm tương đối
(1.5)
Hay B = oH + I = 0 (H + M)
(1.6)
bằng một đường cong gọi là vòng từ trễ, trên đó xác định khá đầy đủ các đại lượng
đặc trưng cơ bản của vật liệu từ như độ thẩm từ thẩm ban đầu, cảm ứng từ bão hoà
Bs, cảm ứng từ dư Br, lực kháng từ Hc... Đối với vật liệu từ cứng ta chỉ quan tâm
đến phần đường cong từ trễ nằm trong cung phần thứ hai, gọi là đường cong khử
từ, trên đó biểu thị các thông số Br, Hc và (BH)max, đặc trưng khả năng làm việc của
nam châm vĩnh cửu.
Hình1.8. Đường cong từ trễ của vật liệu từ cứng
Hình1.9. Góc phần tư thứ II của đường
cong từ trễ
Br không phụ thuộc vào kích thước hạt, bởi vậy việc thiêu kết ở nhiệt độ cao
sẽ cho vật thể ferit càng đậm đặc và nâng cao được Br. Tuy nhiên ở nhiệt độ quá
cao sự phát triển hạt sẽ làm Hc giảm đi và có thể làm vật liệu chuyển qua các pha
phi từ tính khác khiến cho từ tính của nó kém hơn.
Cảm ứng từ dư phụ thuộc vào nhiệt độ. Hệ số nhiệt độ của Br có giá trị cỡ
-0,2%/K:
B
r
Br2 Br1
Br2 T2 T1
0,2% / K
(1.9)
-9-
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
2.1. Phương pháp chế tạo
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đã chế tạo ba hệ mẫu:
- Hệ ferit Sr thuần SrO.nFe2O3 (bảng 2.1), với n = (5.2; 5.3; 5.5; 5.7; 5.8;),
xét ảnh hưởng của thành phần hợp thức đến tính chất của ferit.
- Hệ mẫu ferit Sr pha tạp La, Sr1-xLaxFe12O19 (bảng 2.2), với x = (0; 0.02;
0.04; 0.06; 0.08). xét ảnh hưởng của thành phần hợp thức đến tính chất của
ferit.
Bảng 2.1
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phân tích cấu trúc tinh thể
Cấu trúc tinh thể của hệ mẫu được khảo sát bằng phương pháp nhiễu xạ kế
tia X, sử dụng thiết bị X-ray diffractometer (Bruker-D8 Advance) thuộc Bộ môn
hóa vô cơ Khoa hóa trường ĐHKHTN-ĐHQGHN, hình 2.2.
- 10 -
Hình 2.2 Nhiễu xạ kế tia X- Bruker-D8 Advance
2.2.2 Phân tích cấu trúc tế vi
Cấu trúc tế vi của hệ mẫu được phân tích bằng phương pháp hiển vi điện tử
quét (SEM- Scanning Electron Microscope) và hiển vi điện tử truyền qua (TEMTransmission Electron Microscope), sử dụng thiết bị Ultra-High Resolution Field
Emission-SEM S-4800 của Viện Khoa học Vật liệu – Viện Khoa học Việt Nam và
thiết bị TEM của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
.
Hình 2.4a Hiển vi điện tử quét SEM (Ultra-High
Resolution FE-SEM S-4800)
Hình 2.4b Sơ đồ nguyên lý hoạt động của một
thiết bị SEM thông thường
2.2.3 Phân tích nhiệt vi sai
Phương pháp phân tích nhiệt vi sai (Defferential Scanning Callormetry – DSC) là
kỹ thuật phân tích nhiệt dùng để đo nhiệt
độ và dòng nhiệt truyền trong vật liệu theo
hàm thời gian. Phép đo này cho biết định
tính và định lượng về các quá trình hóa lý
cho quá trình khử nước còn dư trong xerogel. Thực tế xerogel được sấy khô trong
24h tại 100oC đã khiến 1 lượng nước tương đối (còn lại của quá trình sấy) bị đuổi
ra khỏi xerogel, nhưng do gel sản phẩm là gel bất thuận nghịch, nên sau khi sấy
khô gel sẽ tái kết hợp với hơi nước trong môi trường rất nhanh, và do đó vẫn còn
quá trình khử nước như trên đã đề cập. Quá trình khử nước hoàn tất ở gần 170oC ,
lớn hơn nhiệt độ bay hơi phân tử H2O có thể là do các phân tử H2O đính vào lớp
điện tích bề mặt của phức chất (sự tách các phân tử nước kết tinh), hoặc tồn tại
trong mạng không gian của xerogel, liên kết với nhau thành hơi nước bay ra khỏi
xerogel, và kéo theo một phần nhiệt lượng ra ngoài. Các pick thu nhiệt trong
khoảng 205oC đến 350oC đặc biệt cao và hẹp, chứng tỏ tại các nhiệt độ 253 oC và
307oC tương ứng tại hai pick đã diễn ra quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ
trong cầu phối tử của phức chất, khí bay ra ngoài là hỗn hợp khí CO 2 và NxOy (sản
phẩm cháy của thành phần hữu cơ).Kết quả phân tích TGA của mẫu cho thấy quá
trình bay hơi nước trong mẫu xerogel thì trọng lượng của mẫu giảm 7.5%, quá trình
phân hủy chất hữu cơ làm trọng lượng mẫu giảm từ 54.42%, sau các quá trình
chuyển pha giữa các pha rắn thì trọng lượng của mẫu giảm 18.08%.
3.2 Cấu trúc tinh thể và phân
bố kích thước mẫu bột
Ảnh hưởng của thành
phần hợp thức (tỉ lệ Sr/Fe) đến
thành phần pha.
Bảng 3.1 biểu diễn tỉ lệ
thành phần các pha tồn tại trong
các mẫu nghiên cứu, số liệu thu
được trong bảng được rút ra
bằng cách so sánh giá trị tương
đối cường độ đỉnh nhiễu xạ Xray cực đại của các pha thành
phần với nhau [13]. Chúng tôi
nhận thấy có một số qui luật
chung ảnh hưởng lớn đến tính Hình 3.1 Giản đồ DSC và TGA của mẫu ferit
60% γ-Fe2O3
SrM3
25% Sr
75% γ-Fe2O3
SrM4
100% γ-Fe2O3
500oC/1h
18% α-Fe2O3
82% SrFe12O19
14% α-Fe2O3
86% SrFe12O19
100% α-Fe2O3
100% α-Fe2O3
24% α-Fe2O3
76% SrFe12O19
18% α-Fe2O3
82% SrFe12O19
40% α-Fe2O3
55% SrFe12O19
25% α-Fe2O3
75% SrFe12O19
100%SrFe12O19
23% α-Fe2O3
77% SrFe12O19
22% α-Fe2O3
78% SrFe12O19
20% α-Fe2O3
80% SrFe12O19
40% α-Fe2O3
60% SrFe12O19
27% α-Fe2O3
73% SrFe12O19
49% α-Fe2O3
51% SrFe12O19
23% α-Fe2O3
77% SrFe12O19
18% α-Fe2O3
82% SrFe12O19
27% α-Fe2O3
40% α-Fe2O3
60% SrFe12O19
SLM1
SLM3
900oC/1h
33% α-Fe2O3
77% γ-Fe2O3
10% Sr
90% γ-Fe2O3
SrM5
700oC/1h
100% γ-Fe2O3
Thực tế, bảng 3.1, các pha α-Fe2O3 đã hình thành từ 300oC, và đến nhiệt độ
700oC/1h thì mẫu chỉ tồn tại hai pha α-Fe2O3, SrFe12O19 (●). Khi nhiệt độ nung
tăng dần lên từ 700oC, 900oC, 1100oC/1h thì tỉ số α-Fe2O3/SrFe12O19 giảm đi, đó là
do các ion Sr khuếch tán vào ô mạng cơ sở của α-Fe2O3 và sắp xếp lại cấu trúc
thành SrFe12O19. Nhiệt độ càng cao thì số ion Sr khuếch tán càng lớn do đó tỉ số αFe2O3/SrFe12O19 tăng lên theo nhiệt độ, kết luận này đúng với đa số các mẫu khảo
sát khác ngoại trừ mẫu SrM3. Tại chế độ nung 900oC/1h, và 1100oC/1h mẫu SrM3
có thành phần pha khác với tất cả các mẫu khảo sát, đó là thay vì phải xuất hiện hai
5
0
20
30
40
50
60
70
2-Theta-deg
Hình 3.2 Giản đồ XRD của mẫu SrM1 Hình 3.3 Giản đồ XRD so sánh giữa các mẫu
(SrO5.2Fe2O3) , tại các nhiệt độ nung khác nung tại 500oC/1h.
nhau: 300oC (5), 500oC (4), 700oC (3), 900oC
(2), và 1100oC (1). (■) γ-Fe2O3, (★ ) α-Fe2O3,(
●) SrFe12O19.
40
SrO6.0Fe2O3
50
Sr0.92La0.08Fe12O19
20
0
40
50
SrO5.5Fe2O3
Sr0.98La0.02Fe12O19
20
0
0
150
40
SrO5.2Fe2O3
100
Sr1.00La0.00Fe12O19
20
50
0
0
20
- 15 -
Hình 3.2 biểu diễn giản đồ nhiễu xạ X-ray của một hệ mẫu SrM1, theo thứ tự
từ dưới lên là các giản đồ XRD của hệ mẫu SrM1 ứng với các chế độ nung với
nhiệt độ từ thấp đến cao: 300oC/1h (5), 500oC/1h (4), 700oC/1h (3), 900oC/1h(2),
1100oC/1h (1). Hình 3.2 thể hiện trực quan các biến đổi thành phần pha trong mẫu
SrM1 theo chế độ nung, vì hai pha γ-Fe2O3 (■), α-Fe2O3 (★ ) có các đỉnh nhiễu xạ
rất gần nhau, nên trong hình 3.2(5), 3.2(4) không phân biệt rõ các pha. Hình 3.3 so
sánh giản đồ XRD của các mẫu SrM2, SrM3, SrM4 ở chế độ nung 500oC/1h. Hình
3.4 so sánh giản đồ XRD của các mẫu thuộc hệ mẫu 1 với cùng chế độ nung
900o/1h. Tại chế độ nung này các mẫu có thành phần pha SrFe12O19, đặc trưng của
ferit Sr, và phân bố kích thước hạt trung bình tốt nhất.
Hình 3.5 so sánh giản đồ XRD của họ vật liệu Sr1-xLaxFe12O19 tại cùng chế
độ nung 900oC/1h. Vì pha La pha tạp vào mẫu không làm thay đổi cấu trúc vật liệu,
cho nên hệ mẫu SLM có giản đồ pha giống với giản đồ pha của hệ mẫu SrM.
3.3 Cấu trúc tế vi, kích thước và hình dạng hạt
Hình 3.6 Ảnh TEM chụp cấu trúc tế vi của mẫu SrM1.4, thiêu kết tại 900oC /h.
- 16 -
Hình 3.7a Ảnh SEM chụp cấu trúc tế vi của
mẫu SrM1.4, thiêu kết tại 300oC /h.
Hình 3.7b Ảnh SEM chụp cấu trúc tế vi của
mẫu Sr1-xLaxFe12O19 , thiêu kết tại 900oC /1h.
200
100
100
100
0
200
0
0
33.8
34.0
300
34.2
34.4
34.6
34.0
34.8
34.4
2-Theta-Scale
0
34.8
200
Lin[Counts]
Lin[Counts]
100
0
100
0
34.5
2-Theta-Scale
Hình 3.11 Giản đồ phân bố kích thước hạt trung Hình 3.9 Giản đồ đỉnh nhiễu xạ tia X [114] của
bình của mẫu (SrO)x (La2O3)0.5x (6Fe2O3) nung pha SrFe12O19, ứng với các mẫu có cùng chế độ
tại 3000C/1h
thiêu kết 1100oC/1h.
- 17 -
Bảng 3.2
So sánh giá trị kích thước hạt phân bố trung bình theo hai phương pháp
Kích thước tinh thể,
Kích thước tinh thể,
Mẫu
tính theo phương trình tính theo phương pháp
Scherrer, nm
khai triển Fourier, nm
SrM1
27
25
Sự phụ thuộc của đường cong từ trễ của hệ mẫu 1 vào nhiệt độ thiêu kết.
Quá trình hình thành mẫu bột SrFe12O19 kích thước nano là một quá trình
chuyển pha feri từ mềm sang pha ferit từ cứng. Hình 3.12 biểu diễn sự phụ thuộc
đường cong từ trễ của mẫu SrM4 vào nhiệt độ thiêu kết. Tại nhiệt độ thiêu kết
300oC/h, đường cong từ trễ của mẫu là một đường tử trễ hẹp có HC, MS thấp; tại
nhiệt độ 500oC/h, đường cong từ trễ của mẫu vẫn hẹp nhưng có M S cao hơn (gấp
đôi mẫu SrM1.1). Sự biến đổi mạnh của từ độ bão hòa là do các hạt có xu hướng
khuếch tán lẫn nhau và hình thành lên các hạt oxit hoàn chỉnh độc lập khi nhiệt độ
tăng từ 300oC lên 500oC.
SrO5.5Fe2O3
SrO5.3Fe2O3
[3]
[4]
30
60
40
20
20
10
-15000
-10000
15000
H [Oe]
H [Oe]
-20
-30
-40
-40
-50
Hình 3.12 Đường cong từ trễ của mẫu SrM4
-60
Hình 3.13 Đường cong từ trễ của mẫu SrM2
- 18 -
phụ thuộc vào chế độ nung,
và SrM3 thiêu kết ở 900oC/1h
o
o
o
300 C/1h (5), 500 C/1h (4), 700 C/1h (3),
900oC/1h(2), 1100oC/1h (1).
Kích
Kích
Mẫu
n
HC
Mmax
HC
Mmax
thước tinh Mr
thước tinh Mr
(Oe) (emu/g)
(Oe) (emu/g)
thể, nm
thể, nm
SrM1 5.2
28 6120
48
32
27 5900
45
25
SrM2 5.3
22
28 4700
50
28
28 4700
48
SrM3 5.5
18
Lực kháng từ [Oe] đo
hiện pha SrM
tại từ trường 13,5 kOe
o
o
Gốm [8]
1000 C-1200 C
1760
o
o
Đồng kết tủa [15]
900 C-1000 C
3750
o
Solgel citrate
< 700 C
6100
Bảng 3.2 cho thấy sự khác biệt về tính chất từ của mẫu chế tạo theo 3
phương pháp khác nhau, phương pháp solgel citrate được thực hiện phức tạp hơn,
nhưng bù lại mẫu chế tạo theo phương pháp này lại cho tính chất từ tốt.
3.5 Tính chất từ của ferit Sr1xLaxFe12O19
SrO6Fe O
SrO5.7Fe O
(x=0.08;0.06;0.04;0.02;0.00)
SrO5.2Fe O
Bảng 3.4 tổng kết các số liệu thu
được từ kết quả đo VSM của hệ mẫu
ferit La1-xSrxFe12O19 có chế độ nung ở
nhiệt độ 900oC/1h và 1100oC/1h. Qua
H [Oe]
-15000
-10000
-5000
0
0
5000
10000
15000
-20
-40
-60
x
0.00
0.02
0.04
0.06
0.08
Ts 9000C
CHƯƠNG 4
Một số kết quả thử nghiệm ứng dụng
Sau khi chế tạo thành công hệ mẫu, chúng tôi đã khảo sát các tính chất hấp
thụ sóng Radar dải sóng siêu cao tần (bước sóng cm), từ 8GHz đến 12GHz của vật
liệu. Mẫu bột sau khi thiêu kết tại 900oC/1h, được nghiền phân tán bằng máy
nghiền bi trong vòng 8h, bột nghiền tiếp tục được sàng kỹ trước khi đưa bột vào
trộn với epoxy và đóng rắn. Do bột ferit chế tạo rất mịn nên tỉ lệ trộn khối lượng
bột ferit/ khối lượng nhựa epoxy > 3/7, hỗn hợp bột ferit - nhựa được trộn đều với
chất đó rắn, sau đó được trải thành tấm trên bề mặt kính đã xử lý chống dính. Sau
24h, hỗn hợp bột-nhựa đóng rắn thành các tấm vuông (10cm x10cm), dày ~1mm,
và được tách ra khỏi tấm kính.
Hình IV.1 Thiết bị Network Analyzer - Hình IV.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đo tổn hao phản
N5242AU, của Viện Rađa.
xạ và tổn hao truyền qua của mẫu nghiên cứu.
Các mẫu khảo sát thông số tổn hao truyền qua và tổn hao hấp thụ của vật liệu
ferit cho kết quả tương đối khả quan, mẫu 2 cho tổn hao truyền qua -3.7dB
(11.2GHz) và tổn hao phản xạ cao lên đến -14.5 dB (10GHz) và -29 dB (10GHz)
đối với mẫu 3 (có tỉ lệ bột ferit lớn nhất 60%) Hình 4.3, 4.4, 4.5 thể hiện các kết
quả thu được từ các thực nghiệm đó.
Bảng 4.1
So sánh thông số S11, S21 giữa các mẫu nghiên cứu của nước ngoài
Mẫu
S11 (dB)
S21(dB)
8GHz 9GHz 10GHz 11GHz 12GHz Min
Max
Ấn độ (xốp) -10
-12
-18
-5
-14
-3
-8
-1
-3
Dày 1mm
- 21 -
Hình 4.3 Sự phụ thuộc tần số dải X đến các
thông số tổn hao phản xạ (S11) và tổn hao
truyền qua (S21) của mẫu 1.
Hình 4.4 Sự phụ thuộc tần số dải X đến các thông
số tổn hao phản xạ (S11) và tổn hao truyền qua
(S21) của mẫu 2.
Hình 4.6, 47 là các mẫu đo tổn hao
phản xạ và tổn hao điện môi của không khí
và tấm kim loại, hai mẫu này để chúng ta
so sánh với các mẫu nghiên cứu. Đối với
mẫu là tầm kim loại thì tổn hao phản xạ là
bằng không, bởi vì sóng điện từ phản xạ
100% với kim loại, tổn hao tuyền qua là
lớn, do sóng điện từ không truyền qua kim
loại.