Thế giới nhân vật trong kịch lưu quang vũ luận văn ths văn học 60 22 32 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------

BÙI THÙY LINH

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG KỊCH
LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2011


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

3

1. Lý do chọn đề tài

3

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

4

3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

8


1.1.3.1. Những tiền đề làm nên tài năng nghệ thuật kịch Lưu

18

Quang Vũ
1.1.3.2. Những đóng góp của kịch Lưu Quang Vũ

22

1.2. Những vấn đề lý thuyết về nhân vật kịch

27

1.2.1. Nhân vật

27

1.2.2. Nhân vật kịch và đặc điểm của nhân vật kịch

30

Chương 2: CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT KỊCH LƯU QUANG


32
2.1. Một số đặc điểm nhân vật kịch Lưu Quang Vũ

32

2.2. Các loại hình nhân vật kịch Lưu Quang Vũ


3.1.2. Xung đột mang sắc thái trữ tình - giàu cảm xúc và suy
nghĩ nội tâm

74

3.2. Khắc họa nhân vật thông qua hành động kịch

80

3.2.1. Khắc họa nhân vật thông qua hành động bên ngoài

81

3.2.2. Khắc họa nhân vật thông qua hành động bên trong

83

3.3. Khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ

86

3.3.1. Ngôn ngữ giàu tính chính luận, hàm súc, triết lý

87

3.3.2. Ngôn ngữ giàu chất thơ

95


biểu diễn. Trong kịch Lưu Quang Vũ đã có một “kịch pháp” riêng, điêu luyện
với thế giới nhân vật phong phú, đa dạng được khắc họa hết sức sinh động và
gợi cảm. Thế giới nhân vật là một trong những yếu tố chủ yếu góp phần tạo
nên thành công trong kịch Lưu Quang Vũ. Tuy vậy, việc tìm hiểu về vấn đề
này đến nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm một cách có hệ thống. Bàn về
nhân vật thường chỉ là các ý kiến nhỏ lẻ, hoặc một cách chung chung, hoặc
được nhắc đến như một yếu tố làm rõ hơn cho những luận điểm đang được
chứng minh mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu.
Từ những lý do trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài Thế giới nhân vật
trong kịch Lưu Quang Vũ với mong muốn, góp thêm chút công sức vào việc

3


tiếp tục tìm hiểu và khẳng định những đóng góp của kịch Lưu Quang Vũ đặc
biệt là về nhân vật. Đó cũng là tiếng nói tri ân dành cho một sinh mệnh tài
năng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, kịch của Lưu Quang Vũ đã “làm
mưa làm gió” trên sân khấu kịch cả nước và được đông đảo công chúng khắp
nơi nhiệt tình đón nhận. Chính vì điều này mà khi ông còn sống cho đến tận
ngày nay, đã và vẫn đang tiếp tục có nhiều bài viết bàn về kịch của ông, chỉ ra
những thành công cũng như hạn chế của một tài năng nghệ thuật trẻ tuổi.
Điều ấy chứng tỏ sức hút từ “hiện tượng kịch” mang tên Lưu Quang Vũ với
những vấn đề đặt ra luôn có giá trị mới mẻ. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đó
hầu hết là những công trình nghiên cứu đánh giá chung về kịch Lưu Quang
Vũ. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Đầu tiên là cuốn Lưu Quang Vũ - Về tác gia và tác phẩm (Lý Hoài
Thu - Lưu Khánh Thơ (tuyển chọn và giới thiệu)) - công trình mang tính tổng
hợp và hoàn chỉnh nhất tính đến thời điểm này - tổng kết cuộc đời, sự nghiệp

“đã có một phong cách kịch Lưu Quang Vũ” và một trong những thành công
của kịch gia này chính là việc “tạo dựng được một thế giới nhân vật, trong đó
có những nhân vật làm người xem khó quên” [54, tr. 260]. Điểm mới trong
nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lưu Quang Vũ là bên cạnh nhân vật chính
ông cũng đã “xây dựng những nhân vật phụ có tính cách, có cá tính và rất
“sống”” [54, tr. 260], đồng thời làm mới và định hình lại những nhân vật
truyền thuyết và lịch sử trong một đường nét được chấp nhận. Bài viết cũng
chỉ ra nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch ở hai khía cạnh là
khắc họa tính cách, tâm lí và ngôn ngữ nhân vật. Tuy vậy đây mới chỉ là
những nhận xét chung mang tính khái quát về nhân vật kịch Lưu Quang Vũ.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc với Kịch pháp Lưu Quang Vũ, trong khi
khẳng định: “Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này của Việt
Nam, là một nhà văn hóa” [54, tr. 264], đã chỉ ra đối tượng, thế giới nhân vật
trong kịch Lưu Quang Vũ là những con người lao động nhỏ bé, đưa ra nhận

5


định chung về khả năng lí giải mới về thân phận và diện mạo của những nhân
vật trong kịch của Lưu Quang Vũ và khả năng phản chiếu của nó vào đời
sống nhưng cũng chưa tìm hiểu một cách cụ thể hơn về thế giới nhân vật đó
cũng như biểu hiện của khả năng lí giải mới này của Lưu Quang Vũ.
Phạm Vĩnh Cư trong bài viết Lưu Quang Vũ: Bi hùng kịch và bi hài
kịch, để làm rõ cho luận đề về tính bi hùng và bi hài kịch, tác giả đã gọi tên và
đi vào một số đặc điểm của loại nhân vật bi hùng kịch. Nhưng đó mới chỉ là
sự khảo sát dựa trên một phạm vi giới hạn là hai tác phẩm Nguồn sáng trong
đời và Hồn Trương Ba, da hàng thịt, trong khối lượng đồ sộ các tác phẩm
cũng như thế giới nhân vật phong phú, đa diện của Lưu Quang Vũ nên cũng
mới chỉ dừng lại ở một mức độ hạn hẹp nhất định.
Lưu Khánh Thơ trong công trình có ý nghĩa tổng kết những đóng góp

định khả năng “phác gợi cá tính nhiều nhân vật một cách linh hoạt” [54, tr.
311] cũng như chỉ ra hạn chế của việc vẫn tồn tại một số nhân vật được xây
dựng gượng ép, có cá tính chưa phù hợp.
Cao Minh trong Kịch Lưu Quang Vũ và những vấn đề của đời sống,
Báo Hà Nội mới, số ra ngày 11/11/1989 chỉ ra đóng góp của Lưu Quang Vũ
trong việc xây dựng nên hai kiểu nhân vật đối lập nhau: nhân vật tiến bộ
mang dáng nét con người mới hôm nay và ngày mai và các kiểu nhân vật tiêu
cực có thực trong đời sống. Giống như nhiều tác giả khác, Cao Minh cũng
khẳng định thành công của Lưu Quang Vũ trong việc tạo nên một thế giới
nhân vật rộng lớn và khắc họa một cách sâu sắc…
Theo khảo sát của chúng tôi, các luận văn, luận án viết về Lưu Quang
Vũ chưa nhiều và viết riêng về vấn đề nhân vật thì chưa có. Trong luận án
Tiến sĩ nghệ thuật Những giá trị nội dung xã hội và nghệ thuật trong kịch
Lưu Quang Vũ, tác giả Phan Trọng Thành đặt kịch Lưu Quang Vũ trong mối
quan hệ chặt chẽ với sân khấu kịch. Vấn đề nhân vật nằm trong mục “Nghệ
thuật xây dựng kịch bản”. Tại đây, tác giả đã thống kê “Hệ thống nhân vật
trong kịch Lưu Quang Vũ” thành các loại nhân vật: loại nhân vật cố sự, loại

7


nhân vật định hình và loại nhân vật tình tiết. Tuy nhiên, tiêu chí của sự phân
loại này vẫn có những điểm chưa đồng nhất.
Vấn đề nhân vật được bàn đến trong chương 2: “Nhân vật kịch Lưu
Quang Vũ” của luận văn thạc sĩ Tìm hiểu một số đặc điểm kịch Lưu Quang
Vũ (kịch bản văn học) (Hoàng Đình Huân). Công trình tiến hành phân loại
nhân vật thành các kiểu: Nhân vật tự ý thức, nhân vật tiên phong, nhân vật
phân thân. “Thủ pháp nghệ thuật trong việc xây dựng nhân vật” được khai
thác ở các khía cạnh: 1. Đặt nhân vật vào trong tình huống, hành động bộc lộ
tính cách; 2. Sử dụng thủ pháp tương phản. Sự phân chia này có phần còn đơn

- Phương pháp loại hình: Vận dụng những kiến thức lý luận về thể
loại kịch làm tiền đề cho việc đi vào nghiên cứu các vấn đề cụ thể về thế giới
nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ.
- Phương pháp hệ thống: Cho phép luận văn đặt vấn đề nhân vật vào
trong hệ thống thi pháp kịch Lưu Quang Vũ, chỉ ra sự phong phú cũng như
những đặc trưng của thế giới nhân vật kịch.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Vận dụng phương pháp này
chúng tôi sẽ thuận lợi hơn trong việc phân tích, lý giải các khía cạnh thuộc về
vấn đề nhân vật kịch Lưu Quang Vũ, từ đó tổng hợp lại, rút ra những kết luận
cần thiết theo yêu cầu của luận văn.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thông qua sự so sánh, đối chiếu,
làm rõ đặc trưng của các cặp - kiểu nhân vật cũng như sự đa dạng của thế giới
nhân vật kịch Lưu Quang Vũ.
- Phương pháp thống kê: Có ý nghĩa cung cấp dữ liệu và những số
liệu chính xác, tạo cơ sở tin cậy cho những kết luận của luận văn.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm ba chương:
- Chương 1: Hành trình sáng tác của Lưu Quang Vũ và lý thuyết về
nhân vật kịch.
- Chương 2: Các loại hình nhân vật kịch Lưu Quang Vũ

9


- Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch Lưu Quang Vũ.
Chương 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA LƯU QUANG VŨ VÀ LÝ
THUYẾT VỀ NHÂN VẬT KỊCH
1.1. Con đường từ nhà thơ trở thành một kịch tác gia sân khấu
1.1.1 Một nhà thơ “Sống hết bài thơ anh đã viết”

Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa (Vườn trong phố)
Điều đáng nói và cũng đáng khâm phục ở Lưu Quang Vũ là dù thế nào
đi nữa, ngay cả “sau này, khi trái tim đã chịu nhiều tổn thương, “tư thế trữ
tình” đắm đuối, độ xúc cảm nồng nàn trước tình yêu của ông vẫn không hề
thay đổi” [54, tr.37]. Phải chăng vì thế mà cuối cùng, trải qua “những năm
đau xót và hy vọng”, sau bao cay đắng, ngọt bùi, lầm lỡ, vụng dại… tâm hồn
thơ ấy đã tìm thấy được bến đỗ bình yên cuối cùng của đời mình ở nữ sĩ Xuân
Quỳnh. Họ có cùng cảnh ngộ, đến với nhau bằng sự cảm thông, nhưng trên
hết là sự đồng cảm của hai tâm hồn đồng điệu, của hai trái tim đã có chung
nhịp đập yêu thương. Với Xuân Quỳnh, nhờ có Xuân Quỳnh, vần thơ Lưu
Quang Vũ cũng như cả sự nghiệp sáng tác của ông một lần nữa có động lực,
có cơ hội để tỏa sáng. Tình yêu lý tưởng trong một hạnh phúc đời thường
khiến Lưu Quang Vũ có thêm nguồn năng lượng để sống và để viết. “Tình yêu
giờ đây đã bớt đi sự trẻ trung, sôi nổi nhưng lại thêm phần đằm thắm, sâu
sắc” [54, tr.37]. Thơ ông sâu xa và từng trải hơn:
Giữa thế giới mong manh nhiều biến đổi
Anh yêu em và anh tồn tại (Và anh tồn tại)
Tình yêu mang đến cho Lưu Quang Vũ một giai đoạn phát triển đỉnh
cao và toàn diện ở cả thơ và kịch. Và nếu như không vì sự ra đi đột ngột của
ông cùng với Xuân Quỳnh và con trai út Quỳnh Thơ vào ngày 29 tháng 8 năm
1988 khi tài năng đang ở độ chín thì có lẽ, nền văn học nghệ thuật Việt Nam
còn được đón nhận nhiều sáng tác có giá trị khác. Tại tâm hồn con người đa
cảm hay nghĩ xa chuyện phía trước, chuyện đời, chuyện người hay như một

11


thứ “linh cảm” cũng không rõ để rồi sau mười lăm năm gắn bó, hai trái tim
chung nhịp đập một ngày mùa thu cũng đã cùng nhau ngưng đập. Lưu Quang
Vũ - Xuân Quỳnh đã “đi bên nhau trên mặt đất” cho đến “Phút cuối cùng tay

khoảng u ám, nặng nề, hoang mang trước gia cảnh và thời thế “Có những lúc
tâm hồn tôi rách nát”, “Tôi biết làm gì tôi biết đi đâu”. Song, một điều tưởng
như nghịch lý lại trở thành có lý khi chính những nếm trải của thế thái nhân
tình, những bài học đầu đời đã giúp Lưu Quang Vũ nhận thức sâu sắc hơn về
cuộc sống và con người, làm nên những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống
tâm hồn và tư duy nghệ thuật. “Từ tình cảm quê hương đất nước, ông đã bắt
sâu hơn vào cảm hứng dân tộc, nhân dân” [54, tr29]. Và “Điều kỳ diệu là qua
cuộc hành trình máu lửa, hướng cảm hứng sáng tạo về phía nhân dân, gắn bó
cuộc đời mình với số phận dân tộc, hồn thơ Lưu Quang Vũ đã lớn lên rất
nhiều” [54, tr.32]. Giọng điệu thơ bớt đi sự ngọt ngào, hiền lành, êm ái mà
giàu sắc điệu tự vấn đầy trăn trở, suy tư và đau đớn; chất liệu thơ là sự chắt
lọc từ những hình ảnh và chi tiết của đời sống hàng ngày, dung dị và chân
thực hơn trước rất nhiều. Cái Tôi riêng đã hòa nhập được vào cái Ta chung,
tìm thấy sự hài hòa, ấm áp trong cái Ta chung của dân tộc để Lưu Quang Vũ
mang tình yêu hóa thân vào gió, thổi trên đất nước mình.
… Để được ôm trọn vẹn nước non này
Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá.
Để mát rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời (Gió và tình yêu thổi trên đất nước
tôi)
“Với Lưu Quang Vũ, thơ là nơi khởi hành cuộc đi tìm lớn nhất, mang
sâu sắc nhất ý nghĩa triết học của một người làm thơ - cuộc đi tìm cái tôi thi
sĩ qua những nghiệm sinh phải trải trên đường đời thăm thẳm và cũng là nơi
hành hương trở về lớn nhất - trở về bản thể thi sĩ của chính mình. Thơ cũng
chính là nơi ẩn náu cuối chót của chàng thi sĩ buồn này. Thơ - với Lưu Quang
Vũ là tất cả sự hàm ơn và trang trải riêng của tâm hồn chàng với đời sống”
[45]. Bởi vậy nên cũng là điều dễ hiểu khi sau này, hồn thơ ấy vẫn thấm đẫm

13


14


đã viết”. Thơ đã giúp cho thi sĩ được sống là chính mình, giúp cho người đời
có cái nhìn toàn diện hơn về một người nghệ sĩ năng, và một phần quan trọng
nữa, thơ đã thực sự phát huy vai trò cũng như những ảnh hưởng tích cực để
làm nên một sự nghiệp sân khấu thực sự có giá trị.
1.1.2. “Văn xuôi Lưu Quang Vũ - Cầu nối giữa thơ và kịch”.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng nói: “Nếu một lúc nào đó anh bỏ
kịch và thơ, đi hẳn vào văn xuôi, truyện của anh chắc chắn sẽ có sức nặng
hơn nhiều và giới văn xuôi lại như giới kịch bây giờ, cứ ngớ ra mà nhìn anh
tung hoành” [54, tr. 502]. Mặc dù đó chỉ là một giả định được đặt ra với rất
nhiều thương tiếc và yêu mến nhưng nhìn vào sự nghiệp sáng tác văn xuôi
của Lưu Quang Vũ, tuy không nhiều mà vẫn có dấu ấn nhất định, người ta
hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng. Các tập truyện ngắn tiêu biểu là Người kép
đóng hổ, Mùa hè đang đến, Một vùng mặt trận, sau này là tuyển tập 15
truyện ngắn Lưu Quang Vũ và tuyển tập những bài khắc họa chân dung các
nghệ sĩ sân khấu tập hợp trong cuốn Diễn viên và sân khấu đều được giới
chuyên môn và độc giả thời kỳ đó yêu thích và đánh giá khá cao.
Văn xuôi Lưu Quang Vũ là “cầu nối giữa thơ và kịch”. Văn xuôi của
ông trước hết mang màu sắc trữ tình, thuộc loại hình văn xuôi trữ tình. Nhà
nghiên cứu Bích Thu nhận định, trong số những thế hệ nhà văn Việt Nam đi
theo dòng văn xuôi trữ tình, “Lưu Quang Vũ là một cây bút mang phong cách
trữ tình khá tiêu biểu ở thập niên 70, 80 của thế kỷ trước” và “truyện ngắn
của Lưu Quang Vũ về cơ bản vẫn mang những đặc điểm của một tác phẩm tự
sự nhưng lại bao gồm những đoạn mang tính chất trữ tình, những suy nghĩ
nội tâm giàu giá trị biểu cảm [55]. Truyện ngắn của ông khi đó được coi là
“có bản sắc riêng” [54, tr. 133] mà nói như nhà nghiên cứu Phong Lê, quan
trọng chính là ở chỗ tuy có “vay mượn và liên tưởng” nhưng “vẫn tạo được
một không khí thực” và “chính nhờ sự nhạy cảm đó, nhờ sự thông minh trong

tiểu sử, quá trình hoạt động nghệ thuật mà còn có những miêu tả và nhận xét
hết sức sinh động, tinh tế về sự hóa thân của nghệ sĩ đó trong vai diễn, nhờ đó
mà nhân vật có sức lôi cuốn, sống động lạ thường. Một nhà đạo diễn lão làng,

16


vốn kiệm lời khen như Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đình Nghi cũng có lần phải
thốt lên: “Vũ viết giỏi thật. Nhiều điều Vũ viết về ông cụ tôi (tức nghệ sĩ Thế
Lữ) mà tôi cảm động đến gai người. Văn chương mà như thế thì thật tuyệt!”
[43]. Nghệ sĩ Đào Mộng Long cũng hóm hỉnh: “Vũ viết hay hơn cả tôi biểu
diễn. Chỉ cần đọc là đủ, không cần xem nữa” [43]. Do những điều kiện khách
quan thời kỳ bấy giờ, một vở kịch vẫn thường được ví như đóa phù dung
“sớm nở tối tàn”, khả năng lưu lại những khoảnh khắc ấn tượng của buổi diễn
cũng như diễn xuất của người nghệ sĩ là rất khó. “Vở diễn hôm nay, đêm nay
ta xem đó là nó, ngày mai, đêm mai cũng diễn vở ấy nhưng lại khác rồi, bởi
cùng một diễn viên sắm vai ấy, đêm nay diễn thế này, đêm mai lại có thể diễn
thế khác. Nếu như không ai tắm hai lần trên mộ bến sông, thì cũng không ai
được xem hai lần một vở kịch” [48, tr. 63]. Nhưng Lưu Quang Vũ đã vượt lên
trên sự khó khăn ấy. Ông đã bắt được cái thần của người nghệ sĩ trên sân
khấu, phác họa được một cách chân thực nhất bức chân dung của họ và mang
nó đến gần với công chúng. Bằng tài năng, niềm đam mê và tình yêu đối với
nghệ thuật sân khấu, ông đã giúp truyền ngọn lửa từ trái tim người nghệ sĩ
đến trái tim công chúng. Đây không chỉ là thêm một khía cạnh tài năng khác
nữa trong bức chân dung của Lưu Quang Vũ, là tình cảm Lưu Quang Vũ
giành cho sân khấu mà quan trọng hơn, qua sự tìm hiểu và đánh giá này, ông
đã bổ sung thêm cho mình vốn kiến thức nhất định về nghệ thuật sân khấu
nhất là sự hóa thân của người nghệ sĩ vào các nhân vật kịch. Điều này đã rất
có ích cho sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ sau này đặc biệt là nghệ thuật xây
dựng hình tượng nhân vật kịch trong mối tương quan với hành động biểu diễn

ngợi một Lưu Quang Vũ nhà thơ tài hoa của Hương cây thì cái phần của kịch
vẫn sống trong Lưu Quang Vũ, trong những vở kịch ngắn, những hoạt cảnh
chèo về các anh bộ đội, về tình quân dân (có vở còn được đi dự liên hoan hội
diễn toàn quân và giành giải thưởng). Nhưng có thể nói, bước ngoặt quan
trọng nhất, có ý nghĩa lớn nhất trong sự nghiệp kịch của Lưu Quang Vũ chính
là việc ông vào làm biên tập ở Tạp chí Sân khấu năm 1979. Đó không chỉ là
một công việc ổn định giúp chấm dứt quãng thời gian nghề nghiệp “lông

18


bông”, mang lại thu nhập ổn định cho ông và gia đình mà quan trọng hơn, nó
là tiền đề làm khơi dậy niềm đam mê sân khấu cùng những ý niệm, ý tưởng
về sân khấu được hình thành từ thuở nhỏ, là cơ hội đưa Lưu Quang Vũ tiếp
xúc gần hơn, một cách bài bản và chuyên nghiệp hơn với nghệ thuật sân khấu
kịch. Cuốn Diễn viên và sân khấu ra đời nhận được nhiều sự khen ngợi như
báo hiệu cho mối lương duyên của ông với kịch. Nhà thơ, nhà viết kịch Lưu
Quang Thuận đã có ý định hướng cho Lưu Quang Vũ nghiêng về sân khấu, và
rõ ràng, trong suốt sự nghiệp sáng tác, Lưu Quang Vũ đã chứng minh cho
điều cha mong mỏi là không uổng. Tác phẩm đầu tay thực sự đánh dấu sự có
góp mặt của ông cho nghệ thuật sân khấu là vở Sống mãi tuổi mười bảy tuy
viết lại từ kịch bản của Đào Duy Kỳ nhưng đã mang đến sức sống mới, đạt
được thành công vang dội. Chỉ một thời gian ngắn sau sự ra đi đột ngột của
Lưu Quang Thuận năm 1981, Lưu Quang Vũ đã hoàn thành vở Nàng Si-ta
như một sự báo hiếu với người cha kính yêu. Từ đây, Lưu Quang Vũ đã thực
sự bước vào con đường trở thành một kịch tác gia sân khấu với tốc độ sáng
tác đáng khâm phục: trong vòng gần 10 năm với hơn 50 vở kịch có 47 vở
được dựng, hầu hết đều được đánh giá cao và nhận được nhiều giải thưởng.
Như chúng ta đã biết, Lưu Quang Vũ sáng tác thơ và văn xuôi trước khi
đến với kịch. Kịch là sự tiếp tục mạch nguồn được khai mở từ sớm với thơ và

Nguyễn Vũ, Đào Hồng Cẩm, Xuân Trình, Doãn Hoàng Giang, Võ Khắc
Nghiêm, … và tất nhiên, không thể không kể đến Lưu Quang Vũ.
Ba mươi năm chiến tranh, sân khấu kịch nước ta đã hình thành nên một
nền kịch nói dân chủ xã hội chủ nghĩa dần mang tính chuyên nghiệp luôn
hướng đến việc phản ánh kịp thời những biến chuyển của cách mạng, tập
trung khai thác đề tài chống Mỹ, cảm hứng sử thi, cảm hứng ngợi ca chủ
nghĩa anh hùng cách mạng và hình tượng người lính, có tác dụng tích cực đến
đời sống tinh thần, tình cảm của người dân. Hòa bình lập lại mở ra nhiều triển
vọng đồng thời là thước đo cho giá trị nhân phẩm và đạo đức con người. Bên
cạnh cuộc chiến tranh còn là một hiện thực “ngồn ngộn” những điều bất cập
của thời hậu chiến. Từ đây, cùng với các mặt trận khác, kịch tham gia vào

20


dòng chảy mãnh liệt của cuộc sống, đập theo nhịp đập của cuộc sống. Từ
khoảng những năm 80, kịch đã có sự chuyển biến, phát triển, đã tham gia vào
cuộc đối thoại trực tiếp, trong bầu không khí dân chủ, với công chúng, về
những vấn đề nóng bỏng của đời sống. Đặc biệt là từ sau đổi mới đất nước
toàn diện năm 1986, văn nghệ cũng được “cởi trói” để có điều kiện tốt hơn
trong hoạt động sáng tạo. Ngọn gió và không khí đổi mới, dân chủ ùa vào
không chỉ làm thay đổi cuộc sống, nhận thức của con người mà còn tạo nên
những chuyển biến lớn trong diện mạo văn học. Văn học nghệ thuật nói
chung và kịch nói riêng có thêm mảnh đất màu mỡ để mở rộng phạm vi sáng
tác, tiến đến khai mở, mổ xẻ, phanh phui tận cùng các mảng đề tài trước đây
thường không được để ý hoặc né tránh: những tổn thất đau thương, mất mát,
thân phận của con người trong và sau chiến tranh, những vấn đề của đạo đức
và nhân phẩm trong thời bình,… Đó là thứ hiện thực không xuôi chiều, mang
tính định hướng mà đa diện, phong phú nhiều khi là hoài nghi, tra vấn. Sân
khấu đã thực sự phát huy được tính tác động trực tiếp đến nhận thức và hành

dâng hiến…” [54, tr. 505]. Đó là mong muốn của một người nghệ sĩ tài năng,
tâm huyết và cũng chính là những đóng góp quan trọng của ông cho lịch sử
nền sân khấu và văn học nghệ thuật nước nhà.
Trong vòng gần mười năm tham gia vào sân khấu kịch, Lưu Quang Vũ
sáng tác được hơn năm mươi vở kịch, hầu hết đã được dàn dựng và công
chiếu. Năm 1985, trong Hội diễn sân khấu toàn quốc, Lưu Quang Vũ có tám
vở tham gia thì sáu vở đạt huy chương vàng (Nguồn sáng trong đời, Tôi và
chúng ta, Người trong cõi nhớ, Truyện tình bên dòng sông Thu, Người tốt
nhà số 5; Người đi trước) và hai vở đạt huy chương bạc (Nữ ký giả, Vách đá
nóng bỏng). Đó là một “kỷ lục” mà khó ai có thể vượt qua, tạo nên một “hiện
tượng kịch Lưu Quang Vũ”. Có thời kỳ mỗi đêm “khoảng 40 - 50 đoàn diễn
vở của Lưu Quang Vũ cho khoảng 30 - 40 chục vạn khán giả xem. Qua đó
thấy sự tác động của kịch Lưu Quang Vũ đến đời sống nhân dân hết sức lớn
lao” [51, tr. 171]. Sẵn trong mình tài năng nghệ thuật, năng lực khám phá và
sự nhạy cảm trước các hiện tượng của đời sống, kịch Lưu Quang Vũ được

22


khai thác ở nhiều đề tài, khám phá nhiều khía cạnh trong cuộc sống mà hầu
như không bị bất cứ sự ràng buộc nào. Căn cứ vào cốt truyện kịch bản, các
nhà nghiên cứu đã phân chia kịch của ông thành ba loại đề tài chính:
- Loại dựa vào một số tích cũ của văn học dân gian để viết lại như Lời
nói dối cuối cùng, Ông vua hóa hổ, Nàng Sita, Đam San, Đôi đũa kim giao,
Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Linh hồn của đá,… Đây là những tích truyện
dân gian vốn không còn xa lạ đối với phần đông người dân Việt Nam. Lưu
Quang Vũ cũng như nhiều người khác đã tìm thấy được những mạch nguồn
trong lành của văn học dân gian để nó tiếp tục được chảy trong dòng chảy của
cuộc sống hiện đại với một màu sắc mới. Nhưng điều đáng chú ý là ông đã
“đọc từ cốt truyện dân gian xưa những ý tưởng mà người hiện đại cũng phải

tác của mình, Lưu Quang Vũ đã luôn trăn trở: “Làm thế nào để từ những vấn
đề của ngày hôm nay đóng góp cho hôm nay mà còn vươn lên đến mai sau,
điều đó thật khó khăn, vô cùng khó khăn, là khát khao của mọi nghệ sĩ chân
chính. Tuy rằng: dù chỉ để có ích cho hôm nay, tác động được chút nào cho
hôm nay tốt đẹp hơn cũng là một niềm vui sướng không nhỏ” [54, tr. 508]. Vì
thế mà không có gì lạ khi các vấn đề của đời sống hiện tại đặc biệt là những
biến đổi của thời kỳ đổi mới lại có sức hút và xuất hiện nhiều trong các sáng
tác của ông đến vậy. Tất nhiên, viết về cuộc sống hiện tại, phê phán những
điều bất hợp lý đang diễn ra trong xã hội là nhiệm vụ của văn học, là điều văn
học đã và vẫn đang hướng tới. Điều đáng nói, và cũng là thành công của Lưu
Quang Vũ là các vở kịch, tuy nói về một lát cắt của thời đại nhưng đã vượt
lên tính thời sự đương thời để nói lên được chiều sâu triết lý mang ý nghĩa lâu
dài, không bao giờ xưa cũ đồng thời vẫn “đáp ứng được yêu cầu phản ánh và
lý giải những vấn đề nóng bỏng, quan thiết của xã hội” [54, tr. 279].
Vốn hiểu biết rộng về lĩnh vực trình diễn đã giúp cho kịch bản văn học
của Lưu Quang Vũ làm tốt vai trò của một kịch bản sân khấu. Bản thân ông
luôn tâm niệm: “Người viết kịch không nắm được kỹ thuật biên kịch và ít kinh
nghiệm sân khấu rất khó thành công” [54, tr. 503]. Kịch của ông đã tìm được

24


Trích đoạn Xung đột mang sắc thái trữ tìn h giàu cảm xúc và suy nghĩ nội tâm Khắc họa nhân vật thông qua hành động kịch Khắc họa nhân vật thông qua hành động bên ngoà Khắc họa nhân vật thông qua hành động bên trong Khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status