Liên từ logic và liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên dựa trên tư liệu tiếng việt và tiếng anh luận văn ths lý luận ngôn ng - Pdf 33

Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
-------*****-------

Lê Thị Thu Hoài

Liên từ logic và liên từ trong
ngôn ngữ tự nhiên
(dựa trên tư liệu tiếng Việt và tiếng Anh)

Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ

Hà nội - 2005


Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
-------*****-------

Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ

Liên từ logic và liên từ trong
ngôn ngữ tự nhiên
(Dựa trên tư liệu tiếng Việt và tiếng Anh)
Chuyên ngành : lý luận ngôn ngữ
Mã số : 5 04 08

Người hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Đức Dân
Người thực hiện : Lê Thị Thu Hoài

Hà nôi - 2005


05

Phương pháp nghiên cứu ………………………….….……...

11

06

Bố cục luận văn ………………………………………………...

11

Phần nội dung …………………………………………………………….………

13

 Chương 1: Logic và ngôn ngữ tự nhiên…………………………….…….

13

Logic và ngôn ngữ tự nhiên là hai hệ thống ký hiệu…….…...

13

1.1.1. Logic học và ký hiệu logic …………………….………

13

1.1.

Liên từ “” logic …………………………………….….……..

29

2.2.

Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “”
logic ……………………………………………………………

31

2.2.1. Liên từ “và” trong tiếng Việt ……………….………….

31

2.2.1.1

Những sắc thái ngữ nghĩa của liên từ “và”

.

tiếng Việt ………………………………….……...

1

31


2.2.1.2


53

2.2.3. Một số lưu ý khi dịch liên từ “and” sang tiếng Việt và

2.3.

liên từ “và” sang tiếng Anh ……………………………

57

Một số nhận xét ……………………………………………….

60

 Chương 3: Liên từ “” logic và liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự
nhiên………………………………………………….………..

62

3.1.

Liên từ “” logic ………………………………………………

62

3.2.

Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “”
logic ……………………………………………………………



91

4.2.

Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “”
logic ……………………………………………………………
4.2.1. Cặp

liên

từ

“nếu



thì”

trong

tiếng

Việt

94
94

………………
4.2.1.1

mặt logic ………………………………………….

109

4.2.2. Liên từ “if … then” trong tiếng Anh …………………..

114

4.2.2.1

Những sắc thái ngữ nghĩa của liên từ “if …

.

then” tiếng Anh ………………………………….

4.2.2.2

Những liên từ đồng nghĩa với “if … then” về

.

mặt logic ………………………………………….

114

121

4.2.3. Một số lưu ý khi chuyển dịch các câu điều kiện tiếng


mà còn của logic học. Nhưng khác với ngôn ngữ học, logic học nghiên cứu
ngôn ngữ với tư cách như một chiếc cầu nối để dẫn đến tư duy, thông qua ngôn
ngữ để hiểu và nắm bắt được các quy luật của tư duy. Có thể nói, ngôn ngữ học
và logic học là hai ngành khoa học có một mối quan hệ chặt chẽ, tác động và bổ
sung cho nhau.
Trong lịch sử phát triển của ngành ngôn ngữ học, chúng ta không thể phủ
nhận sự ảnh hưởng mạnh mẽ của logic học. Sự ảnh hưởng đó thể hiện rõ nét
trong một số thuật ngữ cú pháp cơ bản mà giới ngôn ngữ học vẫn sử dụng rộng
rãi để phân tích câu từ xưa cho đến nay như : mệnh đề, chủ ngữ, vị ngữ, vốn
xuất phát từ các khái niệm logic. Không chỉ vậy, nhiều lý thuyết logic như :
logic mệnh đề, logic vị từ, logic thời gian, logic đa trị, logic mờ … đã trở thành
những vốn quý cho việc miêu tả ngôn ngữ tự nhiên, đồng thời góp phần vào
việc phát triển ngôn ngữ học hiện đại. Đặc biệt phải kể đến hướng nghiên cứu
logic - ngữ nghĩa hay logic của ngôn ngữ tự nhiên đã có những đóng góp đáng
kể.
Hướng nghiên cứu này có thể nói là không mới. Đây đó đã có một số tác
giả trong và ngoài nước đề cập đến. Tuy nhiên, cho tới này nó vẫn chưa được
quan tâm một cách thoả đáng, đặc biệt là ở trong nước. Chúng ta chỉ có thể kể
ra đây những cái tên ít ỏi trong giới Việt ngữ học đã tiếp cận vấn đề này như :
Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê. Có thể nói logic - ngữ nghĩa là những vấn đề vô
cùng lý thú, hấp dẫn nhưng cũng vô cùng phức tạp. Để tiếp cận vấn đề đòi hỏi

4


người nghiên cứu phải có những hiểu biết đến một chứng mực nhất định tri thức
của cả hai ngành khoa học ngôn ngữ học và logic học.
Trong logic học tồn tại nhiều hệ thống logic khác nhau như chúng ta đã
đề cập đến ở trên. Trong đó, logic mệnh đề được xem là một trong những hệ
thống logic cơ bản. Nó sử dụng các tác tử logic (hay còn gọi là liên từ logic) :

Đó là về phía các liên từ logic, còn về phía các liên từ trong ngôn ngữ tự
nhiên thì phạm vi nghiên cứu cũng có những giới hạn nhất định. Như chúng ta
đã biết, thuật ngữ “ngôn ngữ tự nhiên” có một ngoại diên rất rộng, nó bao gồm
tất cả các ngôn ngữ đã và đang được sử dụng như một công cụ giao tiếp và biểu
đạt tư duy. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các liên từ logic và các liên từ
tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, chúng tôi không thể tiến hành
nghiên cứu liên từ của tất cả các ngôn ngữ tự nhiên được mà chỉ lựa chọn hai
ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh, xem chúng như là những đại diện tiêu biểu
cho hệ thống các ngôn ngữ tự nhiên.
Việc lựa chọn này không khỏi nhuốm màu sắc chủ quan. Tuy nhiên
chúng tôi cũng dựa trên một số lý do ít nhiều mang tính khách quan sau :
 Tiếng Việt và tiếng Anh là hai ngôn ngữ thuộc về hai loại hình khác hẳn
nhau. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập điển hình, còn tiếng Anh lại là
một ngôn ngữ nằm trong nhóm các ngôn ngữ biến hình. Sự đa dạng về loại
hình ngôn ngữ cũng sẽ giúp cho những kết luận mà chúng tôi rút ra sau quá
trình nghiên cứu mang tính bao quát và khách quan hơn.
 Đối với người thực hiện đề tài này, tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ nên việc
chọn tiếng Việt là một sự lựa chọn chính đáng, vì khi đó người nghiên cứu
có thể cảm nhận hết được những sắc thái ngữ nghĩa cũng như cách thức sử
dụng các liên từ trong ngôn ngữ đó.
 Tiếng Anh là một ngôn ngữ mang tính quốc tế, có phạm vi và số lượng
người sử dụng cao nhất thế giới. Nó là một ngoại ngữ thông dụng ở nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính vì thế tiếng Anh là sự lựa chọn hợp
lý có tính phổ quát và ứng dụng cao.
Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, liên từ là nhóm từ biểu hiện quan hệ
ngữ pháp, ngữ nghĩa. Chính vì vậy, các ngữ cảnh sử dụng cũng như các sắc thái
ngữ nghĩa mang tính riêng biệt của chúng thì đôi khi chỉ có người bản ngữ mới
có thể biết và cảm nhận được. Vì thế, việc chúng tôi chọn tiếng Anh chỉ mang
tính chất như là bổ sung thêm nguồn tư liệu cho ngôn ngữ tự nhiên, để kết luận
6

hàng ngày và điều đó được xem là một trong những nhân tố quan trọng góp
phần mở rộng chân trời chân trời của logic học hiện đại, thúc đẩy sự phát triển
ngày càng mạnh mẽ của hàng loạt hệ thống logic như : logic tình thái, logic thời
gian, logic đa trị, logic mờ. .. Ngược lại, cũng có nhiều nhà ngôn ngữ học quan
7


tâm đến logic. Sự phân tích logic đối với ngôn ngữ tự nhiên thực tế đã soi sáng
nhiều hiện tượng cú pháp - ngữ nghĩa, góp phần tạo nên một hướng nghiên cứu,
một hướng mới tiếp cận các vấn đề ngôn ngữ.
Hướng nghiên cứu này đã được khá nhiều học giả nước ngoài quan tâm.
Từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu thấy xuất hiện khuynh
hướng vận dụng logic để phân tích ngôn ngữ. Ban đầu chỉ là phân tích cấu trúc
cú pháp, dần dần về sau là phân tích cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa và cấu trúc
logic - ngữ nghĩa của câu. Có thể kể tên các đại diện tiêu biểu như : J.D.
McCawley, G. Lakoff, H.P. Grice, O. Ducrot… ở Việt Nam , cũng đã có những
nhà ngôn ngữ học quan tâm đến hướng nghiên cứu này nhưng quả thực là
không nhiều. Có thể nói, cho đến nay thực tế chỉ có hai nhà ngôn ngữ học Việt
Nam thực sự quan tâm đến lĩnh vực này, và đã có những đóng góp nhất định cả
về lý thuyết lẫn thực hành, đó là : Nguyễn Đức Dân và Hoàng Phê.
Đề tài mà chúng tôi thực hiện lấy đối tượng nghiên cứu là liên từ trong
logic mệnh đề và các liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên (để cho gọn, từ
đây trở đi chúng tôi chỉ nói “liên từ logic” với nghĩa là “liên từ trong logic mệnh
đề”). Đứng trên phương diện thuần tuý ngôn ngữ, thì thực sự vẫn chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách chi tiết về chức năng, phạm vi hoạt động
cũng như phạm vi biểu nghĩa của từng liên từ cụ thể. Có chăng thì các nhà ngữ
pháp chỉ định nghĩa liên từ và phân chia chúng thành các nhóm dựa trên những
đặc điểm , sắc thái quan hệ phổ quát của chúng, như : liên từ đẳng lập, liên từ
chính phụ hay liên từ hạn định, liên từ phụ thuộc … Nếu có đi vào giới thiệu
từng liên từ cụ thể thì chỉ nêu những đặc điểm khái quát chung của chúng mà


Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau :

 Thu thập và xử lý các tư liệu liên quan đến thực tiễn hành chức của các liên
từ trong ngôn ngữ tự nhiên.
 Miêu tả, phân tích chi tiết về phạm vi hoạt động, chức năng, các sắc thái ngữ
nghĩa cũng như các nhân tố tác động đến việc biểu nghĩa của từng liên từ cụ
thể.
 Tiến hành so sánh trên tất cả các khía cạnh từ hình thức đến nội dung giữa
các liên từ logic với các liên từ tương ứng trong tiếng Việt và tiếng Anh.
9


 Nhận xét về những nét tương đồng và khác biệt giữa các liên từ logic và các
liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên.
 Khái quát được những điểm giống và khác nhau giữa hai hệ thống ký hiệu:
logic và ngôn ngữ.
 Dựa trên những miêu tả, phân tích các liên từ tương ứng trong hai ngôn ngữ
tiếng Việt và tiếng Anh, rút ra một số điểm cần lưu ý trong quá trình chuyển
dịch các liên từ đó ở hai ngôn ngữ này.
Tuy nhiên, có một điểm chúng tôi cần thuyết minh thêm ở đây là, mục
đích của đề tài không hướng tới việc đối chiếu liên từ tiếng Việt và tiếng Anh.
Mà như đã nói ở trên, các liên từ trong hai ngôn ngữ này chỉ là những tư liệu về
ngôn ngữ tự nhiên mà chúng tôi sử dụng để phân tích. Từ một điểm tựa chung
là logic chúng tôi thấy được những cơ chế biểu nghĩa cũng như những sắc thái
ngữ nghĩa của các liên từ trong hai ngôn ngữ này là không giống nhau. Chính vì
thế, chúng tôi xin mạo muội đưa ra đây những lưu ý trong quá trình chuyển dịch
liên từ giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.
Đề tài lựa chọn đối tượng nghiên cứu cũng như đặt ra những nhiệm vụ

cơ bản. Phương pháp này trước hết đưa ra những nhận định về một vấn đề và
sau đó bằng những ví dụ cụ thể sẽ chứng minh cho những nhận định trên là
đúng đắn.
 Phương pháp quy nạp : Đây cũng là một phương pháp nghiên cứu hết sức
cơ bản, được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học. Ngược lại với
phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp lại đi từ những dẫn chứng cụ
thể để đúc ra những luận điểm mang tính kết luận.
Đề tài của chúng tôi sử dụng phối hợp cả hai phương pháp này nhằm tạo
nên những lập luận vững chắc và chặt chẽ, để những kết luận đưa ra có sức
thuyết phục cao.
 Phương pháp miêu tả, phân tích và tổng hợp : Từ những câu cụ thể chúng
tôi tiến hành miêu tả và phân tích các khả năng biểu hiện nghĩa cũng như các
quan hệ ngữ nghĩa của từng liên từ. Từ đó tổng hợp lại và rút ra những luận
điểm lý thuyết.
 Phương pháp so sánh, đối chiếu : Từ những miêu tả và phân tích về chức
năng cũng như phạm vi hoạt động của các liên từ logic và liên từ ngôn ngữ,
11


chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu chúng với nhau để thấy được sự tương
đồng và khác biệt giữa chúng.

0.6.

Bố cục luận văn.
Luận văn được chia thành ba phần :

 Phần mở đầu.
 Phần nội dung.
 Phần kết luận.


3.2.

Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “” logic.

3.3.

Một số nhận xét.

 Chương 4 : Liên từ “” logic và liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự
nhiên.
4.1.

Liên từ “” logic.

4.2.

Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “” logic.

12


4.3.

Một số nhận xét.

13


Chương I : Logic và ngôn ngữ tự nhiên

13


nghiên cứu phương thức làm thế nào tư duy phản ánh một cách đúng đắn và
chân thực hiện thực khách quan. Hay nói cách khác tư duy logic giúp chúng
ta tiếp cận hiện thực khách quan, chân lý và bản chất sự vật, hiện tượng bằng
con đường ngắn nhất.
 Là những mối liên hệ tất yếu có tính quy luật giữa các sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan cũng như giữa suy nghĩ, tư tưởng trong tư duy,
trong lập luận của con người. Sự vật, hiện tượng hay ý nghĩ, tư tưởng không
tồn tại độc lập, đơn lẻ mà chúng luôn có những mối quan hệ, sự ràng buộc
lẫn nhau, từ cái này có thể suy ra cái kia. Logic học nghiên cứu chính những
quy luật đó, những mối liên hệ đó.
Như vậy, có thể nói ngắn gọn logic học là ngành khoa học nghiên cứu về
tư duy và về những suy luận đúng đắn.
Con đường nhận thức thế giới khách quan của con người được thực hiện
qua hai giai đoạn : nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính hay tư duy trừu
tượng. Nhận thức cảm tính cho ta tri thức về các sự vật riêng lẻ và các thuộc
tính của chúng. Tư duy trừu tượng cho ta hình ảnh đầy đủ, sâu sắc và chính xác
hơn về thế giới khách quan luôn vận động và biến đổi.
Tư duy tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là : khái niệm và phán đoán.
Đây cũng chính là hai đơn vị cơ bản của logic học.
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy phản ánh những thuộc tính bản
chất, khác biệt của sự vật riêng lẻ hay lớp sự vật đồng nhất, phân biệt sự vật này
với sự vật khác.
Phán đoán là hình thức cơ bản của tư duy dưới dạng khẳng định hoặc phủ
định, thể hiện nhận thức của người về thế giới khách quan. Một phán đoán sẽ có
một và chỉ một trong hai giá trị hoặc đúng hoặc sai.
Các khái niệm và phán đoán này trong logic được miêu tả, được hình
thức hoá thông qua một hệ thống các ký hiệu, biểu thức logic. Ngoài ra, mỗi

niệm đồng nhất ở đây được hiểu theo 3 khía cạnh :
+ Đồng nhất về mặt phản ánh : Có nghĩa là sự vật tồn tại như thế nào
thì tư duy phải phản ánh về nó đúng như vậy.

15


+ Đồng nhất về mặt ngôn ngữ : Tư duy phải đồng nhất với mặt diễn đạt,
hay nói cách khác tư tưởng và ngôn ngữ phải nhất quán. Tư duy biểu
hiện như thế nào thì phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ đúng như vậy.
+ Đồng nhất với chính nó : Được hiểu là sự nhất quán trong tư duy. Tư
duy tái tạo phải đồng nhất với tư duy nguyên mẫu.
 Luật cấm mâu thuẫn : Một ý nghĩ, một tư tưởng đã được định hình trong tư
duy để phản ánh sự vật, hiện tượng ở một phẩm chất xác định thì đồng thời
không được mang hai giá trị logic trái ngược nhau. Có nghĩa là tư duy phải
không được mâu thuẫn. Trước cùng một sự vật với hai thuộc tính trái ngược
nhau thì không thể xác nhận là cùng đúng. Có hai loại mâu thuẫn :
+ Mâu thuẫn trực tiếp : không được khẳng định đồng thời phủ định sự
vật ở một thuộc tính xác định.
+ Mâu thuẫn gián tiếp : không được cho sự vật một thuộc tính nào đó
mà những hệ quả được suy ra từ thuộc tính đó lại phủ định chính thuộc
tính đó.
 Luật bài trung : Một ý nghĩ, một tư tưởng đã được định hình trong tư duy để
phản ánh về một sự vật ở một phẩm chất xác định thì phải mang một giá trị
logic xác định, hoặc đúng hoặc sai chứ không có khả năng thứ ba (vừa đúng
vừa sai). Để xác định được giá trị logic của tư tưởng chúng ta phải đưa ra
những chuẩn để làm cơ sở cho việc tính giá trị.
 Luật lý do đầy đủ : Trong tư duy, một tư tưởng chỉ được công nhận là chân
thực khi ta có đủ cơ sở để chứng minh cho tính chân thực của tư tưởng đó.
Luật này bị vi phạm khi kết luận là đúng nhưng không có đủ cơ sở.

sánh hai hệ thống này.
 Sự giống nhau :
Xét về mặt ký hiệu, vì ngôn ngữ và logic là hai hệ thống ký hiệu nên
chúng đều mang những đặc trưng chung của ký hiệu. Đó là, chúng tồn tại và có
giá trị trong hệ thống không phải là do những thuộc tính tự nhiên vốn có của nó
mà do chúng được người ta trao cho những thuộc tính để biểu thị một khái niệm
hay tư tưởng nào đó. Chính vì vậy, mỗi ký hiệu luôn có tính hai mặt : mặt biểu
đạt và mặt được biểu đạt. Hai mặt này luôn kết hợp với nhau thành một tổng thể
17


và mối quan hệ giữa chúng là mang tính võ đoán. Hay nói cách khác giữa hình
thức bên ngoài và tư tưởng, khái niệm bên trong của chúng không có mối tương
quan nào cả, mà hoàn toàn là do sự quy ước thói quen của một tập thể quy định
mà đôi khi chúng ta không giải thích được lý do.
Xét về mặt đơn vị, logic chỉ có hai đơn vị cơ bản là khái niệm và phán
đoán (hay mệnh đề). Trong khi đó ngôn ngữ, vì là một hệ thống ký hiệu đặc biệt
nên nó gồm nhiều đơn vị và được chia thành nhiều cấp độ khác nhau. Mỗi cấp
độ lại có một đơn vị cơ bản như : âm vị, hình vị, từ, câu …
Như chúng ta đã biết, trong logic học khái niệm là đơn vị cơ bản phản
ánh các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng; còn trong ngôn ngữ học khái
niệm được biểu hiện thông qua các từ. Hay có thể nói từ là cơ sở vật chất của
khái niệm, không có từ thì không thể hình thành và sử dụng khái niệm. Tương
tự như vậy, phán đoán trong logic nêu lên các thuộc tính của sự vật và mối quan
hệ giữa chúng; còn trong ngôn ngữ nó được biểu thị bằng câu. Câu là hình thức
vật chất của phán đoán, phán đoán không xuất hiện và tồn tại bên ngoài câu. Sự
thống nhất của phán đoán và câu là ở chỗ các thành phần cơ bản của chúng đều
biểu thị đối tượng của tư tưởng là hiện thực khách quan. Như vậy giữa logic và
ngôn ngữ có những đơn vị cơ bản chung tương ứng.
Xét về mặt cú pháp, để liên kết hai phán đoán logic sử dụng các tác tử

ngôn ngữ thông qua các từ mà còn qua các cụm từ. Bên cạnh đó chúng ta còn
thấy rằng, không phải từ nào trong ngôn ngữ cũng biểu thị khái niệm, có những
từ không biểu thị khái niệm như hư từ, đại từ, danh từ riêng…
Tương tự như thế, không phải câu nào cũng biểu thị phán đoán. Phán
đoán chỉ tương ứng với câu tường thuật, còn những câu cảm thán, mệnh lệnh,
nghi vấn, cầu khiến … không phải là phán đoán. Bên cạnh đó thành phần của
phán đoán và câu cũng không giống nhau, kết cấu logic của tư tưởng và kết cấu
ngữ pháp của câu không trùng nhau. Kết cấu logic của phán đoán ở mọi người
là như nhau, song kết cấu ngữ pháp của câu lại phụ thuộc vào từng ngôn ngữ cụ
thể. Thậm chí ở trong cùng một ngôn ngữ, một phán đoán có thể được biểu thị
bằng những câu khác nhau. Như vậy, các phán đoán đều là câu nhưng không
phải câu nào cũng là phán đoán.
19


Xét về mặt nội dung ký hiệu, logic học chỉ quan tâm đến giá trị chân lý
của phán đoán. Mỗi phán đoán chỉ nhận một trong hai giá trị hoặc đúng hoặc
sai. Có nghĩa là logic thuần tuý hướng tới phương diện hình thức, xây dựng các
biểu thức đơn trị về cấu trúc. Trong khi đó ở ngôn ngữ không có sự đối ứng 1-1
giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện. Một nội dung có thể có nhiều cách
diễn đạt khác nhau với những sắc thái nghĩa khác nhau (ví dụ như các từ đồng
nghĩa, câu đồng nghĩa). Ngược lại, cùng một biểu thức có thể dùng để diễn đạt
nhiều nội dung khác nhau (ví dụ như từ đồng âm, câu mơ hồ). Điều này có
nghĩa là ngôn ngữ tự nhiên mang tính đa trị về cấu trúc.
Xét về mặt quy luật, như đã trình bày ở phần trước, chúng ta thấy rằng
quy luật logic là những quy tắc hình thức; cố định không thay đổi theo không
gian, thời gian cũng như các điều kiện khác nhau của tự nhiên và xã hội. Nó
mang tính phổ quát đối với mọi dân tộc. Con người ở đâu cũng tư duy giống
nhau và để có những tư duy đúng đắn thì họ đều phải tuân theo các quy luật của
tư duy. Trong khi đó, ngôn ngữ ngoài việc tuân theo quy luật tư duy nó còn phải

khái niệm, những học thuyết như : học thuyết hành vi ngôn ngữ, khái niệm tiền
giả định, hàm ngôn hay hàm ý hội thoại… góp phần vào việc nghiên cứu ngôn
ngữ học nói chung và nghiên cứu logic - ngữ nghĩa nói riêng.
Về phía ngôn ngữ, chúng ta đều biết, ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản
là giao tiếp và phản ánh tư duy. Với những chức năng này ngôn ngữ gắn liền
với quá trình nhận thức thế giới khách quan của con người. Vì gắn với nhận
thức thế giới nên ngôn ngữ không chỉ có quan hệ cấu trúc như các sự vật khác
mà nó còn có quan hệ logic. Logic của ngôn ngữ tự nhiên này không chỉ là logic
của tư duy. Logic ngôn ngữ có một số cách thức suy luận riêng với những đặc
trưng riêng và có sự khác biệt so với logic tư duy được nghiên cứu trong logic
học hình thức. Lời trong ngôn ngữ nhiên không chỉ có giá trị chân lý như trong
logic mà nó còn có giá trị dĩ ngôn nên logic ngôn ngữ có một hệ thống toán tử
rất phong phú và phức tạp. Chính nhờ cái logic trong ngôn ngữ tự nhiên này,
chúng ta không chỉ có thể nói trực tiếp với nhau bằng hiển ngôn mà có thể nói
gián tiếp thông qua các hàm ngôn, mà đôi khi hàm ngôn mới là cái quan trọng,
mới là thông điệp mà người nói muốn chuyển đến người nghe. Vì vậy, muốn
21


nghiên cứu ngôn ngữ một cách sâu rộng và triệt để từ cấu trúc, chức năng,
những biến đổi và phát triển của nó đến sự tham gia của nhân tố con người
trong nó chúng ta cần quan tâm đến vấn đề logic của ngôn ngữ tự nhiên.
Trong nội dung lời nói thường có hai thành phần : thành phần nhận thức,
có giá trị chân lý thường được gọi là nội dung mệnh đề, thành phần này chính là
phần hiện diện của logic trong ngôn ngữ; và thành phần ngữ vi, không có giá trị
chân lý mà chỉ có giá trị dĩ ngôn, tức là giá trị thực hiện một hành vi ngôn ngữ
nhằm tác động đến nhận thức của người tiếp nhận, hay nhiều tác giả gọi thành
phần này là nội dung tình thái. Giá trị dĩ ngôn này rất đa dạng và thường phụ
thuộc vào ngữ cảnh. Trong một lời có thể có nhiều giá trị dĩ ngôn khác nhau và
một hành động dĩ ngôn có thể thực hiện trong nhiều ngữ cảnh khác nhau cho ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status