liên kết nội dung trong kinh nguyện công giáo (dựa trên cứ liệu tiếng việt) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

LIÊN KẾT NỘI DUNG TRONG
KINH NGUYỆN CÔNG GIÁO
(DỰA TRÊN CỨ LIỆU TIẾNG VIỆT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

LIÊN KẾT NỘI DUNG TRONG
KINH NGUYỆN CÔNG GIÁO
(DỰA TRÊN CỨ LIỆU TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành

: Ngôn ngữ học

Mã số

: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

2


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÍ HIỆU ............................................. 5
DẪN NHẬP .................................................................................................................. 6
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................................. 6
2. Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................................... 7
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu ............................................................................. 10
4. Nguồn ngữ liệu và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 11
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 12
6. Kết cấu luận văn........................................................................................................... 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN ................. 15
1.1. Văn bản – liên kết trong văn bản ............................................................................ 15
1.1.1. Khái niệm văn bản ................................................................................................ 15
1.1.2. Văn bản với diễn ngôn ......................................................................................... 16
1.1.3. Đặc trưng của văn bản .......................................................................................... 17
1.1.4. Liên kết trong văn bản .......................................................................................... 18
1.2. Liên kết chủ đề trong văn bản ................................................................................. 19
1.3. Liên kết logic trong văn bản .................................................................................... 20
1.4. Lí thuyết về lập luận ................................................................................................. 21
1.4.1. Bản chất của lập luận............................................................................................ 21
1.4.2. Luận cứ, kết luận và quan hệ lập luận .................................................................. 21
1.4.3. Quan hệ lập luận trong sự so sánh với các kiểu quan hệ khác ............................. 24


4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÍ HIỆU
- ĐC

: Điệp ca

- NL

: Ngữ liệu

- TV

: Thánh vịnh

- Nguồn tài liệu tham khảo được đặt trong ngoặc vuông [ ], bên trong gồm số thứ tự
của tài liệu và số trang (nếu có).
Ví dụ: [92, 19]
- Nguồn ngữ liệu được chú thích trong ngoặc tròn ( ), bên trong gồm số thứ tự của ngữ
liệu, số trang và tên kinh nguyện.
Ví dụ: (1, 474 – TV 33 Chúa cứu độ người lành II)

5


DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Khi giao tiếp, chúng ta không sử dụng những câu rời rạc mà sử dụng các yếu tố đã


như các tác phẩm văn chương nghệ thuật… nhưng nó có một giá trị quan trọng đối với
những tín hữu của tôn giáo ấy. Văn bản kinh nguyện của các tôn giáo nói chung và đặc biệt
là kinh Công giáo nói riêng, đã có một quá trình hình thành, phát triển và lưu hành lâu đời.
Nó được viết ra, được hoàn thiện dần theo thời gian và trở thành một món ăn tinh thần của
đông đảo người theo đạo. Nó được in thành sách, được dịch thành nhiều thứ tiếng và được
xem như những lời răn dạy khắc cốt ghi tâm đối với các tín hữu. Với sức sống như vậy, văn
bản kinh nguyện cũng có những đặc trưng của mình, giúp phân biệt nó với những loại văn
bản khác. Bên cạnh đặc trưng về từ vựng, ngữ pháp, hoặc về mặt kí hiệu học… đã được
nhiều tác giả khảo sát trước đây, văn bản kinh Công giáo còn có những nét riêng trong liên
kết chưa được đào sâu. Cho nên, nghiên cứu về liên kết văn bản trong lời kinh Công giáo,
chúng tôi không nằm ngoài mục tiêu tiếp cận mảng văn bản có nhiều giá trị nhưng ít được
đề cập đến này, nhằm góp phần làm hoàn chỉnh hơn cho bức tranh nghiên cứu ngôn ngữ. Về
mặt thực tiễn, qua luận văn này, chúng tôi hi vọng có thể phát hiện ra những nét tiêu biểu về
liên kết nội dung của một thể loại văn bản đặc thù: kinh nguyện Công giáo.
Chúng tôi tin tưởng vào tính khả thi cũng như những đóng góp tích cực của đề tài
này, xét về mặt khoa học lẫn thực tiễn. Chính vì những lí do đã trình bày ở trên, chúng tôi
quyết định chọn đề tài “Liên kết nội dung trong kinh nguyện Công giáo” để nghiên cứu.

2. Lịch sử nghiên cứu
Như đã nói, ngữ pháp văn bản là một lĩnh vực còn khá non trẻ. Nó manh nha từ
những năm 40, 50 của thế kỉ trước.
Theo Diệp Quang Ban [9], vào khoảng những năm 50 của thế kỉ XX, “cấu trúc luận
ngôn ngữ học hầu như hoàn thành sứ mệnh của mình là xem xét cái phần ngôn ngữ “vì nó”
và “trong bản thân nó”[…]” [9, 13]. Ngôn ngữ học cấu trúc xem câu là đơn vị lớn nhất của
hệ thống ngôn ngữ. Lĩnh vực này đã đi sâu, khai thác và miêu tả gần như là cặn kẽ tất cả
những yếu tố bên trong của câu. Đến những năm 50, khi đã “hoàn thành sứ mệnh” nghiên
cứu trong giới hạn của “câu”, những nhà nghiên cứu xuất sắc nhất của khuynh hướng ngôn
ngữ học cấu trúc (một đại diện là Z. Harris 1952) đã nghĩ đến việc mở rộng phạm vi nghiên
cứu của mình. Họ quan tâm đến văn bản.

Ngữ pháp văn bản (năm 1989), ông cho rằng, chúng ta cần “dành một vị trí riêng cho chuỗi
hoàn chỉnh các câu có chung ý nghĩa và là một chỉnh thể cú pháp – ngữ nghĩa nhất định”
(Dẫn theo [69]). Lĩnh vực ngữ pháp văn bản còn nhận được sự quan tâm của tác giả có uy
tín như Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban và một số nhà nghiên cứu khác. Đặc biệt, Diệp
Quang Ban đã đóng góp rất nhiều chuyên luận, nhiều bài báo xoay quanh những vấn đề của
ngữ pháp văn bản.
Kế thừa, tiếp thu những ý tưởng của Trần Ngọc Thêm và tìm hiểu rộng hơn qua các
tài liệu mới sau này, Diệp Quang Ban đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp
văn bản. Năm 1998, ông đóng góp chuyên luận Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt
8


[4]. Vào các năm 2003 và 2009, ông xuất bản hai quyển chuyên luận: Giao tiếp – văn bản –
mạch lạc – liên kết – đọan văn [7] và Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản [9]. Đặc biệt,
trong Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, ngoài việc tổng hợp các nội dung đã được
đưa ra ở những công trình trước đó, Diệp Quang Ban còn khai thác sâu hơn các vấn đề như:
phân tích hội thoại, phân biệt “mạch lạc” và “liên kết”, gợi ý về phân tích diễn ngôn…
Năm 1996, Nguyễn Thị Việt Thanh đã công bố chuyên luận Hệ thống liên kết lời nói
tiếng Việt [81]. Mục đích của tác giả là xác định rõ ranh giới của lời nói và khái niệm lời
nói trong quan hệ với văn bản; xác định phương thức, phương tiện được sử dụng để liên kết
trong lời nói và liên lời nói; đồng thời tìm hiểu mối quan hệ hệ thống – cấu trúc giữa các
phương thức, phương tiện liên kết lời nói với nhau và với hệ thống liên kết văn bản.
Giai đoạn từ sau năm 2000, việc nghiên cứu ngữ pháp văn bản đã nhận được sự quan
tâm rất nồng nhiệt từ các nhà nghiên cứu. Bằng chứng là đã có rất nhiều bài báo khoa học,
nhiều chuyên luận, chuyên khảo thuộc lĩnh vực này. Chẳng hạn như: Xung quanh kiểu phát
ngôn tỉnh lược trong tiếng Việt [15] (Phan Mậu Cảnh); Quan hệ ngữ pháp trong văn bản
[19] (Nguyễn Hữu Chỉnh); Liên kết hồi quy trong ngôn ngữ học văn bản “vài kiến nghị về
cách xác định và phân loại” [20] (Võ Văn Chương); Cấu trúc đề thuyết với thực tiễn phân
tích diễn ngôn [70] (Tôn Nữ Mỹ Nhật);…
Thời gian gần đây, có một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đi theo hướng nghiên

thời kì đầu vẫn còn được lưu giữ khá đầy đủ ở thư viện của tòa thánh Vatican, “[…] có đến
2.400 các bản thảo viết tay và 50.000 các bản đã in” [96, 42]. Có thể nói, đây chính là một
nguồn ngữ liệu phong phú để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt.
Bức tranh nghiên cứu văn bản Công giáo dưới góc độ ngôn ngữ vẫn còn khuyết một
mảnh ghép. Đó là vấn đề liên kết, cũng như giá trị lập luận, giá trị ngữ dụng của kinh
nguyện Công giáo. Do vậy, luận văn của chúng tôi, tiếp bước những thế hệ đi trước, mong
mỏi sẽ góp một công sức nhỏ vào việc hoàn chỉnh bức tranh chung.

3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng chính được đề cập đến một cách xuyên suốt và nhất quán trong luận văn
của chúng tôi là: liên kết nội dung trong văn bản và sự thể hiện của nó trong lời kinh Công
giáo. Với đề tài này, mục đích của chúng tôi là nghiên cứu hệ thống liên kết nội dung trong
văn bản tiếng Việt. Cụ thể là khảo sát chúng trong kinh nguyện Công giáo. Hầu hết những
bài kinh này đều có sự liên kết chủ đề rất chặt chẽ. Tuy nhiên, chúng liên kết chủ đề chủ yếu
bằng cách thức nào, độ bền chặt trong liên kết chủ đề của chúng là bao nhiêu, sự phức tạp
trong chủ đề ở mức nào, thì vẫn là một ẩn số.
Song song đó, chúng tôi cũng hướng đến việc nghiên cứu về phương diện ngữ dụng
của lời kinh Công giáo, nhất là giá trị lập luận của những từ nối (nối chặt, nối lỏng), của
phép liên kết theo tuyến tính. Đây là những nhân tố góp phần tạo nên liên kết logic trong nội
dung một văn bản nói chung. Đồng thời, chúng cũng là yếu tố cần thiết để xác định phương
10


thức lập luận của văn bản. Chúng tôi thực hiện những điều này với mục đích là tìm ra những
sơ đồ lập luận của kinh nguyện Công giáo. Từ đó rút ra những “khuôn” lập luận thường gặp
trong thể loại văn bản này.
Với việc thực hiện một luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học, chúng tôi hi
vọng có thể từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu ngôn ngữ của bản thân, góp phần tích
lũy thêm kinh nghiệm cho công việc nghiên cứu về sau.


Những phương thức có tần số sử dụng cao sẽ quyết định những đặc điểm về tính liên kết
của văn bản kinh Công giáo (điều này chỉ có thể được chỉ ra một cách cụ thể thông qua
những con số thống kê).
Ở phần liên kết chủ đề, chúng tôi sẽ áp dụng các công thức toán học mà GS. Trần Ngọc
Thêm đã đề xuất trong công trình nghiên cứu Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, nhằm tính
độ liên kết của đề, độ phức tạp chủ đề của các văn bản được xét. Sau đó, chúng tôi tiến hành
tính trung bình cộng, để có được thông số định lượng, làm nền tảng lí luận cho việc rút ra nhận
xét về tính liên kết của văn bản kinh nguyện.
Thứ ba, ở phần liên kết logic, chúng tôi nhận thấy ngoài tác dụng liên kết văn bản,
các phương thức liên kết logic còn đóng một vai trò trọng yếu trong việc thể hiện lập luận
của văn bản. Thế nên bên cạnh việc miêu tả sự hiện diện của các phương thức liên kết logic
cũng như phân tích làm rõ giá trị liên kết của chúng, chúng tôi còn dựa vào đó để phân tích
lập luận trong một số văn bản kinh nguyện được khảo sát. Cũng do đặc trưng của đề tài là
nghiên cứu về phương diện liên kết nên chúng tôi tập trung vào khai thác giá trị định hướng
lập luận của các kết tử logic trong kinh nguyện (hay còn gọi là kết tử lập luận) và sẽ ít đề
cập đến các tác tử lập luận. (Các khái niệm “kết tử”, “tác tử” sẽ được làm rõ ở các phần tiếp
theo).

5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn là: phương pháp thống kê,
phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích, và phương pháp sơ đồ hóa.
Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Phương pháp thống kê ngôn ngữ học được sử
dụng để khảo sát về số lượng và phân loại các phép liên kết được sử dụng trong văn bản. Sau
khi thống kê, chúng tôi tiến hành tính toán tỉ lệ phần trăm số lượng các mối liên kết, so sánh và
phân tích các số liệu này, từ đó rút ra các kết luận.
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đối với nghiên cứu liên kết văn bản, phương
pháp phân tích diễn ngôn rất quan trọng, nó giúp chúng tôi có sự quan sát rõ ràng và kĩ
lưỡng các ngữ liệu trước khi tính toán. Để đảm bảo cho quá trình phân tích ngữ liệu được
thực hiện một cách chính xác, chúng tôi căn cứ vào việc miêu tả đặc trưng của những
phương thức liên kết đã được các tác giả đi trước đề xuất trong công trình nghiên cứu của

khái niệm lập luận, kết tử lập luận… Đây là những tiền đề lí thuyết để chúng tôi giải quyết
vấn đề ở chương 2, chương 3.
Chương 2: Liên kết chủ đề trong kinh nguyện Công giáo
Ở chương này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu sự biểu hiện của các phương thức duy
trì chủ đề và phát triển chủ đề trong kinh nguyện. Bên cạnh đó, chúng tôi tính độ liên kết và
độ phức tạp của một số văn bản kinh nguyện cụ thể.
Chương 3: Liên kết logic trong kinh nguyện Công giáo
Trong chương 3, chúng tôi tìm hiểu các phương thức liên kết logic trong kinh
13


nguyện, từ đó rút ra các sơ đồ lập luận dựa trên giá trị lập luận của các phương thức này.

14


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN
1.1. Văn bản – liên kết trong văn bản
1.1.1. Khái niệm văn bản
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ văn bản. Từ những ngày đầu,
khi ngôn ngữ học văn bản vừa xuất hiện, năm 1953, L. Hjelmslev đã phát biểu: “… văn bản
được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn”. (Dẫn theo [9, 195]). Đến năm
1966, W. Koch nhận định: “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kì có kết
thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp” (Dẫn theo [9, 195]).
“Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không phải là một đơn
vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu, chỉ có điều là lớn hơn, mà nó là một cái
khác với một câu về mặt chủng loại. […] nên xem xét văn bản như là một đơn vị nghĩa: một
đơn vị không phải là của hình thức mà là của ý nghĩa” – đây là cách định nghĩa thuật ngữ
văn bản của Halliday (1976 – 1994) (Dẫn theo [9, 196]).
Vào năm 1980, L.M. Loseva đã khẳng định: “Văn bản có thể định nghĩa là điều

thuật ngữ “diễn ngôn”. Vậy, giữa diễn ngôn và văn bản có gì tương đồng và dị biệt? Quả
thật, hai đối tượng này cần được phân biệt cho rõ ràng hơn. Thực tế cho thấy, sự phân biệt
văn bản với diễn ngôn có liên quan mật thiết đến việc phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết.
Theo tác giả Diệp Quang Ban [7], nhìn chung, có ba hướng phân biệt văn bản và diễn
ngôn:
Một là phân chia các sản phẩm ngôn ngữ ra làm hai loại đối lập nhau. Loại tồn tại
dưới dạng viết được gọi là văn bản. Loại tồn tại dưới dạng nói được gọi là diễn ngôn. Như
thế, hai khái niệm này được tách bạch một cách rất rạch ròi, giữa chúng không có sự chồng
chéo, giao thoa lẫn nhau.
Hướng thứ hai lại cho rằng, mỗi một sản phẩm ngôn ngữ sẽ có những đặc điểm thuộc
về diễn ngôn, những đặc điểm khác thuộc về văn bản. Như vậy, theo hướng này thì khái
niệm văn bản và diễn ngôn có những mảng giao nhau. Hướng phân biệt này có thể được
chia ra thành hai khía cạnh khá tinh tế. Khía cạnh thứ nhất, trong mỗi sản phẩm ngôn ngữ
đều có liên kết văn bản (thể hiện ở những phương tiện hình thức). Liên kết văn bản phân
biệt với mạch lạc diễn ngôn (xét ở các hành động ngôn ngữ cơ sở). Khía cạnh thứ hai lại
phân biệt văn bản và diễn ngôn như cái cách mà các nhà cú pháp học nhận diện câu với phát
ngôn (ý của Stubbs). Theo đó, văn bản được nhìn nhận tách biệt với ngữ cảnh, tách khỏi
chức năng giao tiếp. Ngược lại, diễn ngôn gắn liền với chức năng giao tiếp, “[…] liên quan
đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng […]” (Van Dijk) (Dẫn theo [4, 41]).
Hướng thứ ba là sự kết hợp của hai hướng trên. Theo đó, tất cả mọi sản phẩm ngôn
ngữ đều được xem là diễn ngôn. Tuy nhiên, những cái tồn tại ở dạng viết sẽ được gọi là văn
16


bản. Khi phân tích hình thức ngôn ngữ của các sản phẩm ngôn ngữ, người ta gọi là phân
tích văn bản. Còn khi phân tích sản phẩm ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể thì gọi là
phân tích diễn ngôn.
Trong luận văn này, chúng tôi đi theo hướng phân biệt thứ ba. Nghĩa là trong quá
trình phân tích những đặc trưng về liên kết ngôn ngữ, chúng tôi gọi đối tượng được khảo sát

tiếp theo tuyến tính của nhiều câu, nhiều phát ngôn. (Chính đặc trưng này đã bắt buộc văn
bản phải có sự mạch lạc và liên kết). Tuy nhiên, ở một vài trường hợp hãn hữu, có những
văn bản chỉ bao gồm một câu duy nhất.
Đặc trưng cuối cùng của văn bản là chúng phải có yếu tố định biên. Nghĩa là văn bản
phải có biên giới phía bên trái và biên giới phía bên phải.
Trên đây, chúng tôi đã liệt kê năm đặc trưng cơ bản của một văn bản. Đây được xem
là căn cứ để chúng tôi xác định những đối tượng mà mình sẽ phải “động chạm” đến và phân
tích chúng trong quá trình khảo sát, nghiên cứu.
1.1.4. Liên kết trong văn bản
Ở phần 1.1.3., chúng ta đã điểm qua các đặc trưng của văn bản. Trong đó, ta thấy có
sự xuất hiện của hai thuật ngữ: liên kết và mạch lạc. Hai khái niệm này cần có một sự phân
biệt rạch ròi trước khi đi vào khảo sát.
Theo Diệp Quang Ban, liên kết trong ngôn ngữ, xét tổng thể, là “[…] một bộ các hệ
thống ngữ pháp – từ vựng phát triển một cách chuyên biệt thành một nguồn lực có thể vượt
qua các biên giới của câu, giúp cho các câu trở thành một chỉnh thể”. [347, 7]
Xét cụ thể, liên kết “là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai
câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau. Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ
nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố
này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng
liên kết được với nhau”. [7, 347]
Còn mạch lạc được định nghĩa là “Sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về
mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể,
một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn
là sự liên kết câu với câu”. [7, 297]
Như vậy, liên kết không tương đồng với mạch lạc. Chúng là hai hiện tượng hoàn toàn
khác nhau. Bởi vì, thực tế cho thấy, không phải bất kì đoạn văn bản mạch lạc nào cũng có
sự liên kết chặt chẽ về mặt hình thức. Mà cũng có rất nhiều đoạn viết (hoặc nói) có liên kết
hết sức khăng khít nhưng lại không hề có tính mạch lạc, mà không mạch lạc thì không thể
tạo thành văn bản. Tóm lại, các phương tiện liên kết có thể được sử dụng để thể hiện sự
mạch lạc trong văn bản, nhưng đó không phải là điều kiện cần.


Phát triển
chủ đề

Duy trì
chủ đề
Lặp từ
vựng

Thế đồng
nghĩa

Thế đại từ

Tỉnh lược

Đối

Liên
tưởng

Tỉnh lược
yếu
Tỉnh lược
mạnh

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phân loại các phương thức liên kết chủ đề

1.3. Liên kết logic trong văn bản
Bên cạnh liên kết chủ đề, việc thể hiện liên kết nội dung trong văn bản, còn một bình

nguyện Công giáo là tính chất: “… dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó”,
“… dẫn dắt người nghe đến một kết luận nào đấy…”. Chúng tôi nhận thấy, kinh nguyện
cũng chính là những lí lẽ đưa người nghe đến kết luận về một chân lí. Hay nói cách khác, nó
dẫn dắt người đọc đến mục đích xác tín niềm tin trong tôn giáo; lời hứa của Đấng Tối Cao
với dân Chúa; sự khẩn nài, sám hối, cầu xin của người tín hữu đối với Thiên Chúa thiêng
liêng…
1.4.2. Luận cứ, kết luận và quan hệ lập luận
Trong luận văn này, chúng tôi cũng nhắc đến khái niệm luận cứ, kết luận và quan hệ
lập luận. Theo Diệp Quang Ban, “luận cứ là những căn cứ để từ đó rút ra kết luận” [7,
322]. Trong khi đó, “kết luận là mệnh đề (dưới hình thức câu) hay lí thuyết được bảo vệ
bằng các luận cứ. Trong các bài thuộc kiểu văn nghị luận (như trong khoa học xã hội và
nhân văn), cái tương đương với kết luận còn được gọi là luận đề và được hiểu là mệnh đề
hay lí thuyết cụ thể mà người ta lấy làm đúng và người ta đưa ra để bảo vệ nó bằng các
luận cứ” [7, 322].
Khái niệm luận cứ không phải là bất biến. Nó chỉ mang tính tương đối. Một phát
ngôn có thể vừa là luận cứ trong quan hệ lập luận này, nhưng cũng có thể là kết luận trong
quan hệ lập luận khác. Một phát ngôn được xem là luận cứ khi và chỉ khi người nói sử dụng
21


nó một cách có chủ định để dẫn đến một kết luận nào đó và người nghe cũng chấp nhận nó
có giá trị luận cứ. Từ đó, ta có thể suy ra rằng: “Luận cứ là những sự kiện, những dư luận,
những lời nói của người khác mà người ta muốn đưa vào diễn ngôn nhằm ủng hộ, bênh vực
cho một luận đề nào đó”. Nghĩa là, một phát ngôn là luận cứ sẽ hàm chứa trong nó những
thái độ và phản ứng của người tạo lập diễn ngôn. Và ở phát ngôn đó, người nói sử dụng các
giá trị có hai mặt đối lập.
Mối quan hệ giữa luận cứ và kết luận được gọi là quan hệ lập luận. Trong một diễn
ngôn, không phải lúc nào cũng chỉ tồn tại một luận cứ duy nhất để dẫn đến một kết luận duy
nhất. Đấy là tình huống mang tính chất “lí tưởng”. Chẳng hạn, ta có thể xem xét ví dụ sau:
(1) Cô A có một giọng hát cao vút. (2) Cô A sẽ là một ứng cử viên “nặng kí” cho

F
0

khả năng này. Sức nặng về lập luận của một luận cứ nào đó chịu sự chi phối một cách trực
tiếp của các quan hệ từ. Ngoài vai trò chỉ ra “lực lập luận” của diễn ngôn, các quan hệ từ
còn cho chúng ta phân biệt được đâu là luận cứ, đâu là kết luận.
Khác với lập luận đơn, trong tam đoạn luận sẽ có ba mệnh đề (hiển hiện dưới dạng
câu): đại tiền đề, tiểu tiền đề và kết luận. Như đã nói, đại tiền đề và tiểu tiền đề chính là
những luận cứ. Trật tự chuẩn theo quy ước của ba mệnh đề này sẽ là:
1. Đại tiền đề. Ví dụ: Tất cả mọi người đều phải chết.
2. Tiểu tiền đề Ví dụ: Chúa Giê-su đã xuống thế làm người.
3. Kết luận Ví dụ: Chúa Giê-su cũng chịu chết.
Trật tự này có thể thay đổi, nhưng phải đảm bảo trật tự nào cũng phải theo lối suy lí
diễn dịch. Trong một tam đoạn luận, nếu một mệnh đề nào đó hiển nhiên đúng, như một
chân lí và ai cũng có thể ngầm hiểu sự tồn tại của nó, thì mệnh đề đó không nhất thiết phải
xuất hiện.
Trên thực tế, muốn nhận diện một tam đoạn luận (hay kể cả một lập luận đơn) không
phải là một điều đơn giản, dễ dàng. Bởi vì cách sắp xếp các mệnh đề, các phát ngôn có thể
bị xáo trộn, hoặc các tiền đề, luận cứ, kết luận có thể bị hàm ẩn. Ta không thể hiểu một cách
máy móc rằng kết luận luôn là phần cuối của một văn bản, nó chỉ được rút ra sau khi đã nêu
luận cứ. Vì kết luận là một đối tượng luôn được bảo vệ, được ủng hộ bởi các luận cứ trong
diễn ngôn (văn bản) nên đôi khi nó được đặt trước tất cả các luận cứ trong lập luận. Nhiệm
vụ của luận cứ là quy chiếu về kết luận ấy, làm sáng tỏ nó. Trong kinh nguyện Công giáo,
trường hợp như thế này không phải là hiếm thấy. Khảo sát sơ bộ các kinh Cựu ước, chúng
tôi nhận thấy đa phần là kết luận được đặt ở đầu bài kinh. Thậm chí, có thể thấy, kết luận
chính là tiêu đề của kinh nguyện. Trong khi đó, ở các kinh Tân ước về sau này, thì kết luận
lại được để lại phía sau.
Vậy, lập luận không phải bao giờ cũng theo dạng chuẩn. Để xác định lập luận của
một diễn ngôn (văn bản) không theo dạng chuẩn quy ước, thì trước hết người nghiên cứu
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status