So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm viết về bác hồ (búp sen xanh của sơn tùng cha và con của hồ phương) luận văn ths ngôn ngữ học 60 22 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------

NGUYỄN THỊ NHUNG

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG PHÉP LIÊN KẾT NỘI DUNG
QUA HAI TÁC PHẨM VIẾT VỀ BÁC HỒ
(BÚP SEN XANH CỦA SƠN TÙNG - CHA VÀ CON CỦA HỒ PHƯƠNG)

Chuyên ngành : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số

: 602201

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn Khoa học:
PGS. TS NGUYỄN HỮU ĐẠT

Hà Nội, năm 2010


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Ý nghĩa của luận văn....................................................................................1
3. Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu...............................................2

2.2.3. Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng
phần trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” ................................................... 35
2.3. Quan hệ trật tự thời gian trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”............. 38
2.3.1. Quan hệ trật tự thời gian giữa các phần trong của tiểu thuyết “Búp
sen xanh” ................................................................................................. 38
2.3.2. Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở từng phần trong của
tiểu thuyết “Búp sen xanh” ...................................................................... 39
2.3.2.1. Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương của phần I ... 40
2.3.2.2. Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở phần II .... 42
2.3.2.3. Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng
chương ở phần III tiểu thuyết "Búp sen xanh".............................. 43
2.3.3. Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở
từng phần trong tiểu thuyết "Búp sen xanh". ........................................ 44
2.3.3.1. Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng
chương ở phần I của tiểu thuyết "Búp sen xanh" ............................ 44
2.3.3.2. Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng
chương ở phần II của tiểu thuyết "Búp sen xanh" ........................... 53
2.3.3.3. Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng
chương ở phần III tiểu thuyết "Búp sen xanh" ................................ 61
2.3.4. Quan hệ trật tự thời gian giữa các sự kiện nhỏ trong từng bloc sự
kiện ở từng chương của từng phần trong tiểu thuyết "Búp sen xanh" .... 67


2.4. Quan hệ tần số trong tiểu thuyết "Búp sen xanh".............................. 67
2.5. Tiểu kết .................................................................................................... 69
CHƯƠNG 3
LIÊN KẾT NỘI DUNG THỂ HIỆN QUA QUAN HỆ THỜI GIAN
TRONG TIỂU THUYẾT "CHA VÀ CON"
SO SÁNH LIÊN KẾT NỘI DUNG QUA QUAN HỆ THỜI GIAN GIỮA
TIỂU THUYẾT "BÚP SEN XANH" VỚI TIỂU THUYẾT "CHA VÀ

Chí Minh có hai tác phẩm tiêu biểu của hai nhà văn được đông đảo bạn đọc
chú ý là Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng và Cha và Con của nhà văn Hồ
Phương. Để tìm hiểu vai trò của liên kết nội dung trong việc tạo nên sự thành
công của tác phẩm, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm
viết về Bác Hồ “(Búp Sen Xanh - Sơn Tùng và Cha và Con - Hồ Phương)
2- Ý nghĩa của luận văn
Luận văn được thực hiện sẽ có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn. Về lí
luận, luận văn sẽ bổ sung thêm về lí thuyết liên kết văn bản. Về thực tiễn, luận
văn có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đánh giá giá trị của tác phẩm
viết về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và quá trình hình thành tư tưởng yêu
nước của Người. Đây là một việc làm thiết thực hưởng ứng phong trào học
tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh từ góc độ chuyên môn của
người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ học.

1


Ngoài ra ở góc độ xuất bản sách, các kết quả nghiên cứu của đề tài còn
giúp ích trực tiếp công tác biên tập và xử lý bản thảo.
3- Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là 2 văn bản "Búp Sen Xanh" của
nhà văn Sơn Tùng (NXB Kim Đồng, năm 2008) và "Cha và Con" của nhà
văn Hồ Phương (NXB Kim Đồng, năm 2008).
Mục đích của luận văn là tìm hiểu giá trị của các phép liên kết nội dung
trong việc xây dựng 1 văn bản nghệ thuật và quá trình hình thành phong cách
nhà văn; Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các phép liên kết nội dung được
sử dụng trong 2 bộ tiểu thuyết “Búp sen xanh”, “Cha và con”.
4- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài này là

- Quan hệ thời hạn giữa các phần trong “Cha và Con”
- Quan hệ thời hạn giữa các chương ở từng phần
- Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng phần
2. Quan hệ trật tự thời gian
2.3.1. Quan hệ trật tự thời gian giữa các thành phần
2.3.2. Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở từng phần
3. Quan hệ tần số
4. So sánh hai tác phẩm Búp sen xanh và Cha và Con
5. Tiểu kết
KẾT LUẬN

3


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Văn bản
1.1.1 Khái niệm văn bản
Văn bản là một khái niệm đã được đề cập từ xa xưa. Nhưng ngôn ngữ
học văn bản với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học thì mới ra đời
giữa những năm 60 của thế kỉ XX. Trước khi ngôn ngữ học văn bản ra đời thì
câu được coi là đơn vị lớn nhất trong nghiên cứu ngôn ngữ học truyền thống.
Cái tên ngôn ngữ học văn bản được khởi xướng từ E. Coseriu năm 1955-1956
và qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, nó trở thành phổ biến
trên thế giới. Từ đó, văn bản nghiễm nhiên trở thành đối tượng của ngôn ngữ học và nó
chính là đơn vị ngôn ngữ cao nhất trong nghiên cứu ngôn ngữ.
Cũng giống như các thuật ngữ chỉ các đơn vị ngôn ngữ khác, thuật ngữ “văn
bản” cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa và các cách hiểu khác nhau.
Theo định nghĩa trong Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học thì
văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời miệng hay lời

bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện (trục dọc và
ngang) (R. Harweg, 1968).
4- Văn bản như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể
thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục
đích gián tiếp thứ cấp và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích
này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài
những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ. (Barthes, 1970).

5


5- Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không
phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu, mà nó cũng
không được xác định bằng kích cỡ của nó. Một văn bản không phải là một cái
gì loại như một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng
loại. Tốt hơn nên xem xét một văn bản như là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của
hình thức mà là của ý nghĩa. (Halliday, 1976 - 1994).
6- Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính
hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đơn vị điều
được thông báo [...]. Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều
câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ
vựng - ngữ pháp (L.M. Loseva, 1980).
7- Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó
các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn
bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những
mối quan, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn
bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.
(Trần Ngọc Thêm, 1985)
8. Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên
dưới dạng nói, viết trong biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những

đặc trưng mạch lạc và liên kết trong cách hiểu rộng được coi là đặc trưng
quyết định tính văn bản (textuality) hay chất văn bản (texture). [3, tr.51-54].
1.2. Đặc trưng của thể loại văn bản tiểu thuyết
1.2.1 Tiểu thuyết và đặc trưng thể loại của “Búp sen xanh”, “Cha và con”
Trong văn học phương Đông, tiểu thuyết vốn là những chuyện vụn vặt
đời thường, nó khác biệt với đại thuyết và trung thuyết. Và chính những
chuyện vụn vặt, đời thường ấy là những mầm mống của tiểu thuyết phương

7


Đông. Ở một số ngôn ngữ phương Tây, từ tiểu thuyết có nguồn gốc từ tiếng
La tinh, có nghĩa là chuyện mới.
Lịch sử phát triển của tiểu thuyết đã để lại cho nhân loại những kiệt tác
của văn học thế giới, từ những tiểu thuyết chương hồi của văn học Trung Hoa
đến những tiểu thuyết đồ sộ của văn học phê phán phương Tây. Cho đến ngày
nay, tiểu thuyết đã có diện mạo vô cùng phong phú và nguyên lí của nó chi
phối phần lớn các tác phẩm tự sự.
Có thể hiểu tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua
nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những
vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể
chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định.
Trong một cách hiểu khác, theo nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là
sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự
trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và
phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời
gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách.
Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, mãi khoảng thế kỉ 14-16
mới có những nền móng sơ khai cho tư duy thể loại. Phải đến những năm 30
của thế kỉ 20, văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính

thuyết tâm lý giai đoạn sau.
1.2.3 Đặc trưng của tiểu thuyết
- Tính chất văn xuôi
Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi,
vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại. Tính chất đó
đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực,
đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm
mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự
phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống.

9


- Nghệ thuật kể truyện
Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm. Thông
thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có
nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện. Tuy sự tồn tại của
yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể
chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể
thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng "tôi", cũng có thể là
một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần
thuật. Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các
điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng "tôi" được
"san sẻ" cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm.
- Khả năng phản ánh toàn vẹn hiện thực
Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn
và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực. Là một
thể loại tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn
về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà

1.2.4 Đặc trưng của “Búp sen xanh”, “Cha và con”
Búp sen xanh và Cha và con là hai tiểu thuyết lịch sử, vì thế đặc trưng
thể loại của hai tác phẩm này có nhiều nét tương đồng. Hai tác phẩm cùng kể
về thời niên thiếu của Bác Hồ cho đến lúc Người ra đi tìm đường cứu nước.
Trong hai tiểu thuyết này, mốc thời gian, nhân vật và sự kiện chính là sự thật
lịch sử vì thế hư cấu nghệ thuật sẽ bị hạn chế. Tuy nhiên bằng ngòi bút tài
tình, hai nhà văn đã làm nổi bật nhân cách và trí tuệ của vị lãnh tụ từ khi còn
là cậu bé Côn.
1.3 Vấn đề liên kết nội dung
1.3.1 Liên kết

11


Nói đến văn bản là nói đến liên kết. Liên kết góp phần cho việc một sản
phẩm ngôn ngữ trở thành một văn bản. Văn bản không phải là phép cộng đơn
thuần giữa các câu, vì vậy giới nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đã chú ý
đến "những sợi dây liên hệ" giữa các câu. K. Boost viết năm 1949: "Những
sợi dây này kéo dài từ câu nọ sang câu kia nhiều đến nỗi tạo nên một mạng
lưới dày đặc (...), trong đó mỗi câu riêng biệt gắn bó chặt chẽ với những câu
còn lại” "[39,159].
Từ đấy "tính liên kết" được xem là một phát hiện mới, thuộc cấp độ
trên câu. Nikolaeva (1978) và R. Harweg (1968) đã nghiên cứu hiện tượng
"lặp" và gọi chúng là "phép đại từ hoá"[ 39 ]. Đây là hiện tượng liên kết được
khảo sát sớm nhất.
Tuy liên kết là một hiện tượng không khó nhận biết, nhưng cách hiểu
về nó lại rất đa dạng và không dễ đi đến thống nhất.
Trong giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích liên kết
ở những biểu hiện hình thức. Cụ thể là, từ những dấu hiệu liên kết hình thức,
người ta đi tìm những phương thức và phương tiện liên kết. Tuy nhiên khi xét

để xem xet một sản phẩm ngôn ngữ có được coi là văn bản hay không.
Hai quan niệm này bắt nguồn từ cách hiểu hai thuật ngữ hệ thống và
cấu trúc trong ngôn ngữ học. Ở Việt Nam, quan niệm ngôn ngữ là một hệ
thống vẫn phổ biến. Hệ thống này gồm các yếu tố có quan hệ qua lại và quyết
định lẫn nhau, trong đó các kiểu quan hệ làm thành mặt cấu trúc của hệ thống.
Hệ thống liên kết của Halliday và Hassan được công bố lần đầu năm
1976 cho rằng liên kết là do các yếu tố ngôn ngữ làm thành các hệ thống con,
các đối hệ không tính sự liên kết do các quan hệ cấu trúc của các yếu tố ngôn
ngữ tạo ra và cho rằng cấu trúc tự thân đã là liên kết. Với cách hiểu này thì

13


liên kết chỉ đề cập đến các yếu tố hình thức, vì thế không có sự phân biệt liên
kết hình thức với liên kết nội dung.
Theo D.Q. Ban: "Liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn
ngữ nằm trong hai câu theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau. Nói chi tiết hơn,
liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của
yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu
chứa chúng liên kết được với nhau".
Trong luận văn này, chúng tôi đi theo hướng khái niệm liên kết hình
thức và liên kết nội dung trong "Hệ thống liên kết văn bản TV" của Trần
Ngọc Thêm với sự bổ sung những yếu tố cần thiết.
1.3.2 Liên kết nội dung
Nhìn một cách khái quát, tính liên kết của văn bản có hai mặt: liên kết
hình thức và liên kết nội dung. Giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình
thức có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ "Liên kết nội dung được thể hiện
bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức
chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung" (Trần Ngọc Thêm).
Liên kết nội dung là khái niệm thuộc loại khó định nghĩa. Đây là một

Theo Trần Ngọc Thêm, "nguyên tắc chung nhất của việc sử dụng các
phương thức liên kết duy trì chủ đề khác nhau có tác dụng làm tăng độ liên
kết và tính đa dạng của văn bản, nhưng không được vì thế mà làm ảnh hưởng
đến tính chính xác trong việc xác định chủ tố, cũng như không được gây khó
khăn cho việc tiếp thu".
Trần Ngọc Thêm đã hệ thống các quy tắc liên kiết duy trì chủ đề như sau:

15


* Quy tắc chung:
- Kết tố của phép thế đại từ và các phép tỉnh lược phải có chư tố, nếu
không thì không thể sử dụng các phương thức liên kết này.
- Chủ tố của phép thế đại từ và các phép tỉnh lược phải đứng trước kết tố.
* Các quy tắc cụ thể:
- Quy tắc liên kết bắc cầu: các phép thế và tỉnh lược chỉ có thể dùng để
liên kết bắc cầu khi.
+ Được sử dụng lặp lại liên tục trong cả khoảng bắc cầu.
+ Có những phương thức liên kết khác đi kèm để hỗ trợ cho việc xác
định chủ tố được chính xác.
- Quy tắc sử dụng các phương thức duy trì chủ đề khi có nhiều "ứng cử viên" chủ tố
trong chủ ngôn: Nếu trong chủ ngôn có từ hai đối tượng đồng loại có khả năng làm chủ tố
thì các phép thể và tỉnh lược chỉ có thể dùng được khi.
+ Có những phương thức liên kết khác đi kèm hỗ trợ cho việc xác định
chủ tố được đơn nhất
+ Chủ tố chính là đối tượng đứng sau cùng trong chủ ngôn.
- Quy tắc liên kết phương thức: Nếu trong cùng một cặp phát ngôn, một
trong các phép thế hoặc tỉnh lược được sử dụng trên một lần thì những cặp
liên kết này phải ít nhất thoả mãn một trong ba điều kiện:
+ Giữa chủ tố và kết tố của từng cặp phải có những nét nghĩa chung

thể hoá cho các quan hệ trên là quan hệ bậc 2. Rồi những quan hệ bậc 2 này
được tiếp tục cụ thể hoá, quá trình này mỗi lúc một phụ thuộc nhiều hơn và
gắn bó chặt hơn với những nhân tố ngoài ngôn ngữ.

17


Liên kết nội dung chỉ là một biểu hiện của mạch lạc. Mạch lạc là nhân
tố bao trùm lên liên kết nội dung giữa các phát ngôn.
1.3.3 Mạch lạc
1.3.3.1 Định nghĩa mạch lạc
Mạch lạc là vấn đề mới mẻ và phức tạp của ngôn ngữ học. Cho đến
nay, những giải thuyết về mạch lạc vẫn còn chưa thống nhất.
- Theo M.A.K Halliday và Hasan: “Mạch lạc được coi như phần còn
lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống (context of
situation) với những dấu nghĩa tiềm ẩn (redisters). Mạch lạc được coi là phần
bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất
văn bản (texture)”. (Dẫn theo [28]).
- Theo David Nunan: “Mạch lạc là ‘tầm rộng’ mà ở đó diễn ngôn được
tiếp nhận như là ‘có mắc vào nhau’ chứ không phải là một tập hợp câu và
phát ngôn không có liên quan với nhau” [49,tr.135].
- Theo Diệp Quang Ban: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ
ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu- phát ngôn làm thành
các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn
những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu
thì thuộc về mạch lạc”. [4,tr.71].
- Theo Đỗ Hữu Châu: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận
đơn hay phức bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào. Tính lập
luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc (coherence) về nội dung bên cạnh
tính liên kết về hình thức (cohesion) của văn bản, của diễn ngôn”. [6, tr.174].

biểu hiện cụ thể của nó.
 Mạch lạc trong quan hệ nghĩa- logic giữa các từ ngữ trong văn bản

19


Giữa các từ ngữ nằm trong một câu cũng như các từ ngữ nằm trong các
câu khác nhau mà có quan hệ nghĩa- logic với nhau (nhưng không phải bao
giờ cũng có) thường góp phần tạo nên mạch lạc trong cách hiểu rộng về từ
mạch lạc.
Mạch lạc trong quan hệ nghĩa- logic giữa các từ ngữ trong văn bản
được thể hện ở bốn trường hợp sau:
*Mạch lạc trong quan hệ nghĩa- logic giữa vật nêu ở chủ ngữ với
đặc trưng nêu ở vị ngữ.
Một câu (mệnh đề) không chỉ đúng về mặt ngữ pháp mà còn phải có
quan hệ nghĩa- logic với nhau. Và một câu chỉ được coi là mạch lạc khi đặc
trưng nêu ở vị ngữ phải phù hợp với vật nêu ở chủ ngữ. Ngược lại, nếu chúng
không dung hợp được với nhau thì câu đó không được chấp nhận.
*Mạch lạc trong quan hệ nghĩa giữa các đề tài (chủ đề) của các câu
Trong các câu, quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) được thực hiện theo hai
cách là duy trì đề tài và triển khai đề tài.
*Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ nghĩa giữa các thành phần nêu
đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
Quan hệ nghĩa giữa các câu (mệnh đề) phải phù hợp với nhau, tạo
thành một mạch chung văn bản. Ngược lại, nó sẽ gây cười đối với người tiếp
nhận văn bản.
*Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lí giữa các câu (mệnh đề)
Trong mối quan hệ nghĩa- logic giữa các câu (mệnh đề) thường được
thể hiện theo trình tự hợp lí bao gồm:
-Trình tự theo quan hệ nguyên nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status