LUẬN VĂN:
Kinh tế tập thể trong ngành thủy sản
tỉnh Bến Tre: Thực trạng và giải pháp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bến Tre là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, gồm ba cù lao kết hợp
mà thành, với diện tích tự nhiên 2321km2, trong đó có 65 km bờ biển và địa hình sông rạch
chằng chịt là điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển ngành kinh tế thủy sản. Trong nhiều
năm qua, Tỉnh ủy Bến Tre luôn xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn nên đã có sự
tập trung đầu tư phát triển và đã tạo được kết quả nhất định.
Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng ta về chính sách kinh tế nhiều thành phần,
định hướng XHCN, trong đó xác định thành phần KTTT cùng với kinh tế nhà nước trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện cụ thể của tỉnh Bến
Tre, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (năm 2000) đã xác định thủy sản là mũi
đột phá về kinh tế của tỉnh, trên cơ sở đó đã ra nhiều nghị quyết chuyên đề để phát triển
ngành thủy sản của tỉnh, trong đó đặc biệt quan tâm về công tác tổ chức lại sản xuất trong
ngành thủy sản, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất công ty cổ phần,
HTX, THT… để tác động tích cực trong phát triển kinh tế ngành. Thực tế trong những
năm qua KTTT trong ngành thủy sản đã có nhiều chuyển biến tốt theo xu thế phát triển
khách quan trong sản xuất kinh doanh của ngành, song bên cạnh cũng còn nhiều vấn đề đặt
ra về tổ chức, cơ chế hoạt động, chính sách, con người… do ảnh hưởng tư duy, nhận thức
cũ về KTTT trong một số cán bộ và nhân dân, nên lĩnh vực KTTT trong ngành thủy sản
chuyển biến chậm, đóng góp chung cho sự phát triển của ngành nói riêng và kinh tế tỉnh
nhà nói chung chưa cao.
Vì vậy, tôi chọn đề tài " Kinh tế tập thể trong ngành thủy sản tỉnh Bến Tre: Thực
trạng và giải pháp " làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ khoa học Kinh tế,
chuyên ngành Kinh tế chính trị, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Luận văn nhằm mục đích: Khẳng định rõ hơn vai trò, tính tất yếu khách quan của
việc phát triển KTTT trong ngành thủy sản, đồng thời thông qua việc nghiên cứu thực
trạng, tình hình KTTT trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre để đưa ra các giải pháp để tiếp
tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTTT trong ngành thủy sản
tỉnh Bến Tre.
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Luận giải vai trò và sự cần thiết phải phát triển KTTT trong ngành thủy sản ở Bến
Tre.
+ Phân tích đánh giá thực trạng KTTT trong ngành thủy sản Bến Tre từ năm 2000 đến
nay, mặt được, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết.
+ Từ thực trạng, xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp để tiếp tục phát
triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của KTTT trong ngành thủy sản Bến Tre trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn lấy đối tượng là KTTT trong ngành thủy sản Bến Tre từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
đường lối, quan điểm cùng những tổng kết kinh nghiệm của Đảng về chính sách kinh tế
nhiều thành phần; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần
gũi với đề tài.
- Về phương pháp nghiên cứu: Vận dụng những phương pháp chung của kinh tế
chính trị, đó là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, kết hợp lý
luận với thực tiễn, đồng thời khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá
vấn đề, rút ra kết luận.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận chung vào việc phân tích tình hình cụ thể trong một lĩnh
vực của địa phương làm rõ vai trò của KTTT trong ngành thủy sản của tỉnh Bến Tre. Trên
động làm nảy sinh sức sản xuất của lao động xã hội, nó có tác dụng làm tăng năng suất lao
động. So với sản xuất nhỏ cá thể (riêng lẻ) hợp tác có những ưu thế là:
+ Tiết kiệm được tư liệu sản xuất.
+ Kích thích thi đua, do đó nâng cao năng suất lao động.
+ Tạo ra sức sản xuất mới, sức sản xuất cộng thể.
+ Mở rộng hoặc thu hẹp không gian khi cần thiết.
Ngoài ra, nó còn đảm bảo tính liên tục đều đặn, tính thời vụ, tính khẩn trương của
quá trình sản xuất.
Chính vì vậy, sự phát triển của các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác có tác
dụng thúc đẩy phát triển kinh tế.
Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn
hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, thì nhu cầu về hợp tác lao
động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng.
Trong lao động sản xuất, các hình thức hợp tác diễn ra do nhu cầu tất yếu khách quan
với nhiều loại hình, tính chất hợp tác, quan hệ hợp tác cũng được nâng dần từ thấp đến cao.
+ Hợp tác giản đơn: Là loại hình hợp tác đơn giản nhất, đã xuất hiện từ xa xưa ở
nông thôn nước ta.
Trong quá trình lao động sản xuất nảy sinh nhu cầu phải có sự gắn kết nhau, thoạt
đầu chỉ là những hình thức hợp tác đơn giản; diễn ra ngẫu nhiên, nhất thời như vần đổi
công cho nhau như trong canh tác nông nghiệp, hợp tác với nhau để cày bừa, gieo trồng,
thu hoạch nhằm đảm bảo tính mùa vụ; cùng nhau khắc phục thiên tai, sâu bệnh... loại hình
hợp tác này thường tồn tại dưới dạng tổ vạn vần đổi công, các chủ thể hợp tác đổi công
cho nhau theo từng khâu công việc, không thường xuyên, loại hình hợp tác này không tính
giá trị ngày công, họ tự nguyện thỏa thuận nhau khi có nhu cầu, không xây dựng thành văn
bản quy chế hoạt động, không mang tính pháp lý.
+ Tổ nghề nghiệp, tổ tương trợ kinh tế: là loại hình hợp tác giản đơn được hình
thành, phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản hiện nay, các tổ chức
này được thành lập tự nguyện trên cơ sở có cùng nội dung, hình thức, mục đích kinh doanh
kiện phát triển. Chính vì vậy, quan hệ KTHT phải được xây dựng trên nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng cùng có lợi và tính tự chủ, độc lập của các thành viên tham gia.
Trong các loại hình KTHT thì hình thức THT có nội dung nguyên tắc hoạt động gần
giống với HTX nhưng THT hoạt động không có điều lệ và không có tư cách pháp nhân.
- Hợp tác xã:
Hợp tác xã là loại hình KTHT phát triển ở trình độ cao hơn loại hình KTHT giản
đơn. Trên bình diện thế giới, HTX xuất hiện trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
đầu tiên là ở nước Anh vào giữa thế kỷ XIX. Để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh
tế tự do cạnh tranh, những người sản xuất nhỏ cần phải hợp tác, hợp vốn với nhau với tôn
chỉ, mục đích chung để nương tựa nhau chống lại sự chèn ép, bóc lột và bần cùng hóa của
các nhà tư bản lớn, quá trình đó đã cho ra đời và hình thành các hình thức liên kết, hợp tác
có tổ chức của những người lao động, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi, có nhiều đóng
góp vào phúc lợi của dân chúng trong nhiều nước.
Liên minh HTX quốc tế ICA (International cooperative alliance) được thành lập
tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh đã xây dựng và đưa ra định nghĩa về
HTX và các nguyên tắc của nó để làm cơ sở cho các hoạt động của HTX. Đến đại hội lần
thứ 31 vào tháng 9/1995 ICA đã thông qua tuyên bố về sự xác nhận HTX, hoàn thiện định
nghĩa, các giá trị cơ bản và các nguyên tắc đã sửa đổi của HTX nhằm hướng dẫn hoạt động
của các tổ chức HTX trong giai đoạn đầu của thế kỷ XXI. Theo đó “HTX là một hiệp hội
tự chủ của những người tự nguyện liên kết với nhau để đáp ứng những nguyện vọng và
nhu cầu chung về kinh tế, xã hội và văn hóa của họ, hoạt động thông qua một tổ chức sở
hữu chung, được quản lý và kiểm soát dân chủ bởi các xã viên” và:
Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình
đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những người sáng lập ra
hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung
thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác [1].
Đối với nước ta, trong quá trình xây dựng cải tạo XHCN, phát triển KTTT mà nòng
cốt là HTX là vấn đề hết sức to lớn và quan trọng đã được khẳng định trong nhiều nghị
bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh. Luật HTX năm 2003 đã định nghĩa "HTX là tổ chức KTTT
do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh
tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt
động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển
KT-XH của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và
các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật” [34, tr.8].
* Đặc trưng của mô hình kinh tế hợp tác xã
Qua các định nghĩa về HTX đã thể hiện những đặc điểm chung cơ bản của mô hình
HTX kiểu mới, đó là:
Thứ nhất: HTX là tổ chức KTTT do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân góp sức,
góp vốn lập ra, hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình và được bình đẳng như các thành phần kinh
tế khác.
Định nghĩa đã thể hiện rõ bản chất HTX là tổ chức KTTT mang tính xã hội cao bao
gồm cả thể nhân, pháp nhân (các tổ chức KT-XH có tư cách pháp nhân), cán bộ công
chức, cả người ít vốn lẫn người nhiều vốn nhưng phải tuân theo những điều kiện nguyên
tắc chặt chẽ về gia nhập, ra khỏi HTX, tổ chức quản lý HTX được quy định trong luật.
Mặt khác, HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện và có quyền tự chủ, bình đẳng với các
loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạt động và chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ
tài chính của mình đối với các tổ chức kinh tế khác theo thỏa thuận, hợp đồng đã ký kết.
Định nghĩa khắc phục được tư tưởng xem HTX nặng về tổ chức xã hội và là tổ chức công
cụ của chính quyền cơ sở.
Thứ hai: Trong xây dựng và phát triển phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của HTX:
- Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX theo quy định của điều lệ HTX. Các đối tượng
phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm hợp tác giúp đỡ
lẫn nhau để vượt qua khó khăn, tăng thu nhập cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
các thành viên tham gia. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao vai trò, tính chất xã hội của
HTX trong tác động tích cực giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần tích cực trong thực
hiện chủ trương giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ
tầng văn hóa xã hội, tăng cường tình làng nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng, đó là nhân tố
quan trọng để HTX phát triển bền vững.
Thứ ba: Quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong HTX.
- Về quan hệ sở hữu, khác với mô hình HTX kiểu cũ là sở hữu tập thể về tư liệu sản
xuất, khi người nông dân vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu
vào thành tài sản chung của tập thể, sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình không được thừa
nhận; còn đối với HTX kiểu mới được “dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập
thể”.
- Khi gia nhập HTX, mọi xã viên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ,
vốn góp của xã viên là số tiền hoặc giá trị tài sản, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu các phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật và các loại giấy tờ có giá trị khác
được quy ra tiền. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người không có khả năng về tài chính góp
vốn, nghị định Chính phủ hướng dẫn thi hành luật quy định người tham gia có thể góp vốn
bằng giá trị sức lao động được quy ra tiền. Vốn góp cổ phần có thể nhiều hơn mức tối
thiểu nhưng không được vượt quá 30% tổng vốn điều lệ của HTX. Vốn góp cổ phần của
xã viên chỉ giao quyền sử dụng cho tập thể và được trả lại cho xã viên khi ra khỏi HTX.
Sở hữu tập thể bao gồm tài sản chung của tập thể, thành quả lao động chung của tập
thể, tài sản tập thể được cho tặng… cụ thể gồm các công trình phục vụ sản xuất, công trình
phúc lợi văn hóa, xã hội, kết cấu hạ tầng phục vụ chung cho cộng đồng dân cư được xây
dựng từ quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi của HTX, các nguồn vốn do Nhà nước trợ
cấp, quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
Đối với HTX kiểu mới, tài sản riêng của cá nhân và hộ gia đình được tôn trọng, xã
viên có toàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu riêng để sản xuất
Lợi nhuận của HTX càng cao lợi tức cổ phần theo vốn góp càng lớn là động lực
khuyến khích cho xã viên hăng say làm việc và gắn bó với HTX. Mặt khác, lợi nhuận
HTX càng cao thì bộ phận vốn và tài sản thuộc sở hữu tập thể thông qua việc trích qũy phát
triển sản xuất, quĩ dự phòng, quỹ phúc lợi càng lớn tạo được tiềm lực kinh tế của bản thân
HTX và là điều kiện để HTX phát triển bền vững, phục vụ cho lợi ích của xã viên tốt hơn.
Thứ tư: Tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa
bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng) với quy mô linh hoạt và đa dạng về hình thức,
phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng ngành, với nhiều trình độ phát triển từ thấp đến
cao. Có những HTX chỉ hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu chung về một hay một số dịch
vụ đầu vào, đầu ra, chuyên ngành, dịch vụ tổng hợp đa chức năng; có HTX sản xuất kết
hợp dịch vụ, HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện, từ hợp tác phát triển
thành các liên hiệp HTX, liên minh HTX.
Thứ năm: KTTT mà nòng cốt là các HTX và kinh tế hộ tự chủ có mối quan hệ gắn bó
tác động hỗ tương, cùng nhau phát triển. Nếu như trong HTX kiểu cũ, kinh tế cá thể, hộ
gia đình không được chấp nhận, hoặc chỉ được coi là kinh tế phụ và bị hạn chế trong một
giới hạn nhất định, thì trong HTX kiểu mới được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế
hộ. Vì HTX không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các thành viên, chỉ làm
những gì mà mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoặc làm không hiệu quả để hỗ trợ
cho các thành viên phát triển. Khi kinh tế hộ càng phát triển càng cần có nhu cầu hợp tác
và KTHT phát triển tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển. Bởi lẽ trong nông nghiệp, hộ
nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ, lại vừa là người chủ của HTX, là người tiêu dùng
các dịch vụ đầu vào và bán sản phẩm cho HTX, do đó, kinh tế hộ càng phát triển càng tạo
ra những tiền đề kinh tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế HTX và đồng thời KTTT, kinh
tế HTX phát triển là môi trường quan trọng để hỗ trợ, bổ sung cho kinh tế hộ phát huy hết
khả năng của mình trong sản xuất kinh doanh.
Như vậy, HTX kiểu mới không tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất, mà còn tạo
những điều kiện để cho họ phát huy những năng lực lao động và tiềm năng của tư liệu sản xuất.
Khi HTX trở thành đòn bẩy để phát triển kinh tế của các chủ thể kinh tế tự chủ, thì HTX càng có
nước Nga Xô viết với Chính sách kinh tế mới (NEP). Trong tác phẩm "Bàn về chế độ hợp
tác xã", V.I.Lênin đã chỉ rõ vai trò quan trọng của HTX "hợp tác xã là bước quá độ sang
một chế độ mới bằng con đường giản đơn nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông
dân". Bởi vì, theo V.I.Lênin, HTX là cơ sở để thiết lập và củng cố khối liên minh công
nông, đồng thời là tổ chức mà thông qua đó phát huy được sức mạnh của quần chúng lao
động. Người viết "hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp và tổ chức hàng
triệu người, sau đó toàn thể dân chúng; và tình hình ấy lại là một điều lợi rất lớn cho bước
quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản nhà nước lên chủ nghĩa xã hội" [20, tr.272].
- Kinh tế tập thể với nòng cốt là các HTX đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển, làm cho sức sản xuất được giải phóng, các nguồn tiềm năng phục vụ sản xuất
như vốn, đất đai, lao động, công nghệ... được khai thác và sử dụng ngày càng hợp lý và
hiệu quả.
Cùng với sự giúp đỡ, kiểm soát, hướng dẫn của Nhà nước và tác động của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ, KTHT, HTX là môi trường thuận lợi để áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tăng khả năng đầu tư,
đổi mới thiết bị, công nghệ, làm phát triển lực lượng sản xuất, nâng hiệu quả năng suất lao
động, từ đó tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu, què quặt,
ít hiệu quả sang một cơ cấu ngày càng phù hợp xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện
đại. Như vậy, có thể nói KTTT có vai trò to lớn trong tác động giúp nền kinh tế nhỏ phát
triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ lên nền đại công nghiệp cơ khí
như V.I.Lênin đã khẳng định: "Chính sách hợp tác một khi thành công, sẽ giúp cho nền
kinh tế nhỏ phát triển và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ trong một
thời hạn không nhất định - lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp" [19, tr.273].
Kinh tế tập thể phát triển đa dạng với nhiều hình thức, cấp độ từ giản đơn đến phức
tạp, từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Thông qua các hình thức hợp tác lao
động sản xuất, liên kết, liên doanh đa dạng và linh hoạt đó, người nông dân và cán bộ quản
lý có điều kiện làm quen với nếp làm ăn tập thể, nâng cao trình độ tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh trước khi tiến tới các hình thức cao hơn trong quan hệ sản xuất.
nhận rõ vai trò quan trọng và Người đã đặc biệt quan tâm đến kinh tế HTX trong việc định
ra đường lối và chỉ đạo thực tiễn cho cách mạng Việt Nam. Từ năm 1927, trong tác phẩm
"Đường Kách mệnh", Bác đã dành hẳn một chương để nói về HTX, qua đó lý giải nhiều
vấn đề cốt lõi, cơ bản và mang tính định hướng về kinh tế HTX. Trong đó, Người viết:
"Hợp tác xã trước là lợi ích cho dân, sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản và đế quốc chủ
nghĩa" [27, tr.314]. Và Người nhấn mạnh: "Nói tóm lại, hợp tác xã là rất có lợi, cho nên
dân các nước làm nhiều lắm" [27, tr.317].
Người xác định trong thời kỳ quá độ "chúng ta phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội", "phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa", nhưng Người lại nói
"Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp
làm gốc, làm chính" [30, tr.180]. Song muốn cho nông nghiệp thịnh, phát triển đầy đủ và người
nông dân giàu có, ấm no, hạnh phúc thì cần phải có HTX, con đường đó là: "nông thôn phải
kinh qua 2 cuộc cách mạng: cải cách ruộng đất là một cuộc, cuộc thứ hai là từ chỗ thực hiện tổ
đổi công, hợp tác xã; nông trường tập thể đến chỗ xã hội hóa nông nghiệp" [28, tr.76]. Và Người
cũng đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa to lớn của việc tổ chức cho người nông dân vào làm ăn tập thể
nhằm để tạo nên sức mạnh tập thể, người nông dân sẽ có điều kiện thêm sức để cải tiến kỹ thuật,
phát triển sản xuất Người phân tích:
Chúng ta nhất định phải nâng cao dần đời sống của đồng bào nông dân.
Nhưng nếu nông dân cứ làm ăn riêng lẻ thì đời sống không thể nâng cao. Muốn
nâng cao đời sống thì chỉ có một cách là tổ chức nông dân làm ăn tập thể, tức là tổ
chức nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp. Tổ chức hợp tác xã tốt thì mới có thể
tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, do đó mà nâng cao dần đời sống vật chất và
văn hóa của nông dân và củng cố khối liên minh công nông [30, tr.61].
Vì vậy, HTX chính là con đường đưa nông dân đi lên CNXH.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh phát triển nông nghiệp là phải phát triển toàn diện cả
nông, lâm, ngư nghiệp, trong đó cũng cần chú ý phát triển các ngành phụ bổ sung cho sự phát
triển của nông nghiệp. Người cũng rất chú ý việc đưa những người làm nghề thủ công vào
HTX tiểu thủ công nghiệp. Người viết: "đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ
- Tổ hội nghề nghiệp: Được hình thành giữa các cá nhân, hộ gia đình có cùng mục
đích sản xuất kinh doanh như cùng nuôi tôm, cá, hải sản dưới dạng tổ hội nuôi tôm, tổ hội
nuôi cá… nhằm để trao đổi kinh nghiệm, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình sản
xuất nuôi (trong nuôi trồng), trao đổi kỹ thuật trong các khâu của quá trình sản xuất như
chọn giống, chăm sóc phòng trừ dịch bệnh tôm, cá, vật nuôi… trao đổi về thông tin thị
trường, tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra với mục đích nâng cao được năng lực sản xuất, phát
triển ngành nghề.
Đặc điểm chung của loại hình này là các chủ thể tự nguyện thành lập khi có nhu cầu
hợp tác và có thể ra khỏi hội khi không có nhu cầu. Là loại hình tổ THT không hùn vốn để
hoạt động nên không có ăn chia lợi nhuận. Hội hoạt động không có điều lệ và không có tư
cách pháp nhân, quỹ hoạt động của hội do các hội viên thỏa thuận và đóng góp.
Tác dụng của loại hình tổ hội nghề nghiệp góp phần hạn chế được rủi ro; tích lũy
được kinh nghiệm sản xuất, qua đó tăng được năng suất sản xuất, tăng thu nhập cho hộ
nuôi thành viên.
- Tổ nhóm hợp tác: Là loại hình tổ chức hợp tác giản đơn giữa một số hộ gia đình
hoặc cá nhân chỉ 3 - 5 thành viên, thường là quan hệ trong gia đình, chòm xóm, láng giềng
khi có nhu cầu hợp tác để thực hiện một hoặc một vài công đoạn trong quá trình sản xuất
như vần đổi công cho nhau làm ao nuôi, đắp bờ bao, thu hoạch; quan hệ hợp tác giữa chủ
ngư trường với nậu vựa trong tiêu thụ sản phẩm làm ra. Trong đánh bắt cũng đã hình
thành các hình thức hợp tác truyền thống như hợp tác giữa chủ tàu với lao động (bạn),
giữa chủ tàu với chủ tàu để tìm kiếm ngư trường, kỹ thuật, thông tin trên biển, hợp tác
giữa các chủ tàu với nậu, vựa để vay vốn, cung ứng vật tư, nhiên liệu, tiêu thụ sản phẩm,
hợp tác giữa chủ tàu với cơ sở chế biến... Nhằm mục đích tương trợ tạo điều kiện thuận
lợi, đảm bảo được thời vụ, kỹ thuật, đáp ứng kịp thời quy trình sản xuất, hạn chế rủi ro
thiệt hại, phát triển ngành nghề trong từng hộ gia đình.
Đặc điểm chung của loại hình hợp tác này là sự hợp tác thường chỉ diễn ra nhất thời,
chỉ hợp tác với nhau trong một, hai công đoạn nhất định trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm khi có nhu cầu hợp tác với nhau. Loại hình hợp tác này không có hùn vốn hoạt
THT cũng có xây dựng được các quỹ phát triển sản xuất, quỹ khen thưởng, thực hiện nghĩa vụ
với địa phương và thực hiện công trình phúc lợi xã hội nhưng tùy thuộc vào kết quả sản xuất
và tỷ lệ thực hiện các loại quỹ này do các thành viên cổ đông thỏa thuận, quyết định trong
từng mùa vụ.
Nhìn chung mô hình hợp tác trên địa bàn tỉnh phù hợp với trình độ sản xuất của kinh
tế hộ, là hình thức hợp tác có hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu vốn, ứng dụng khoa học
kỹ thuật phát triển ngành, cải thiện thu nhập, đời sống của các thành viên tham gia, góp
phần trong giữ gìn, đảm bảo an ninh trật tự xã hội địa phương và có sự đóng góp nhất định
đối với KT-XH ở địa phương. Mặt khác, về hình thức tổ chức, quản lý, ăn chia, phân phối
lợi nhuận chặt chẽ hơn các loại hình hợp tác giản đơn khác, đây là loại hình hợp tác có thể
nâng chất để trở thành HTX.
- Hợp tác xã: Cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý, chế độ hạch toán,
kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc HTX kiểu mới, nhưng có những đặc điểm
riêng:
+ Phần nhiều HTX được thành lập trên cơ sở tài sản chung là quỹ đất bãi bồi, đầm,
ao do nhà nước quản lý được giao cho HTX sử dụng nuôi và khai thác nguồn lợi thiên
nhiên. Trong đánh bắt khai thác được hình thành, tập hợp từ vay vốn tín dụng ưu đãi đóng
tàu khai thác hải sản xa bờ, đơn vị hợp tác cổ phần. Vốn điều lệ, cổ phần do xã viên đóng
góp được dùng cho vốn lưu động của quá trình tái sản xuất.
+ Đặc điểm của mô hình này là có sự sản xuất tập trung, có sự phân công lao động
chặt chẽ từng khâu, từng công đoạn trong quá trình sản xuất.
+ Đối với những HTX quy mô lớn, đảm bảo các yêu cầu về vốn, trình độ mở rộng
ngành nghề lĩnh vực hoạt động, nhất là các loại hình dịch vụ phục vụ cho quá trình sản
xuất về kỹ thuật, giống, ngư cụ cho xã viên. Những HTX quy mô nhỏ, không điều kiện thì
HTX đại diện cho các hộ thành viên quan hệ ký hợp đồng thực hiện các công đoạn, dịch
vụ đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất.