LUẬN văn một số giải pháp thực hiện chuyển dịch CCKT tại thị xã uông bí, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2005 2010 - Pdf 33

LUẬN VĂN:
Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch
CCKT tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
giai đoạn 2005-2010


Lời mở đầu

Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ thực hiện CHN- HĐH đất nước.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định, thực hiện CNH- HĐH là con đường hiệu quả nhất để đưa
Việt Nam thoát khỏi nguy cơ tụt hậu về kinh tế xã hội cũng như phát triển đất nước lên một
tầm cao mới. Và một trong những nội dung quan trọng của quá trình CNH- HĐH đó là việc
tiến hành xây dựng một CCKT hợp lý trên phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương. Cùng chung
tinh thần với cả nước, tỉnh Quảng Ninh cũng xác định những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh đến năm 2010 trong đó có nhấn mạnh đến việc xây dựng một CCKT hoàn thiện và có
hiệu quả cao. Đây được coi là một đòi hỏi tất yếu trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện
nay.
Xuất phát từ xu thế chung và những đòi hỏi thực tế của quá trình phát triển đất nước,
đồng thời quán triệt tinh thần chỉ đạo của TW cũng như của tỉnh Quảng Ninh, Thị xã Uông Bí
cũng xem việc thực hiện chuyển dịch CCKT là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình phát
triển kinh tế của thị xã. Từ lâu, thị xã Uông Bí đã giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển
kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế của Đảng, thị xã Uông Bí đã phát huy thế mạnh, khắc phục những khó khăn,
thách thức để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. CCKT công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
chuyển dịch theo hướng: giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Đây
là sự chuyển biến phù hợp với xu hướng vận động có tính qui luật của quá trình chuyển dịch
CCKT đã từng diễn ra ở các nước trên thế giới. Tuy vậy, cho đến nay, tốc độ chuyển dịch
CCKT của thị xã diễn ra còn chậm, chưa tương xứng với các nguồn lực hiện có, các tiềm năng
trong vùng chưa được khai thác hợp lý, kinh tế xã hội giữa nông thôn và thành thị, giữa người
giàu và người nghèo có khoảng cách ngày càng lớn, tỷ lệ lao động thiếu việc làm còn cao. Điều
này được thể hiện không chỉ ở GTSX, qui mô, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, trình độ

trong nhiều tài liệu đã được công bố về lĩnh vực kinh tế, nhất là khi đề cập đến vấn đề chuyển
dịch CCKT, đã có không ít các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CCKT. Hầu hết, các cách
tiếp cận này đều bắt đầu từ khái niệm “cơ cấu” hay còn gọi là “kết cấu”. Theo triết học khái
niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ cơ bản, tương
đối ổn định giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống trong một thời gian nhất định. Có thể
hiểu, cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác
nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống. Do đó, khi nghiên cứu
cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
1.1.2. Khái niệm về CCKT.
Cơ cấu của một nền kinh tế quốc dân hay còn gọi là kết cấu kinh tế vĩ mô là tổng thể các
bộ phận hợp thành nền kinh tế và mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành đó.
Khi đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, CCKT có thể được
hiểu một cách đầy đủ và khái quát nhất, đó là: CCKT là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu
tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác
qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ
thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. Theo quan điểm này, CCKT là một
phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội.
1.1.3. Các loại CCKT.


Dưới các góc độ khác nhau, CCKT được phân thành nhiều loại:
Cơ cấu ngành- xét dưới giác độ phân công lao động.
Cơ cấu vùng- xét dưới giác độ hoạt động kinh tế xã hội theo lãnh thổ.
Cơ cấu thành phần kinh tế- xét hoạt động kinh tế theo quan hệ sở hữu.
Cơ cấu đối ngoại- xét trình độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế.
Cơ cấu tích luỹ- xét tiềm năng để phát triển kinh tế...
Nhưng trong giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ đi xem xét 3 loại cơ cấu kinh tế mang tính chất
tổng hợp nhất của nền kinh tế bao gồm:
1.1.3.1. Cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối

một phần tử của nền kinh tế quốc dân, một khâu trong phân công lao động xã hội.
b/ Khái niệm cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu lãnh thổ hợp lý.
Cơ cấu lãnh thổ là cơ cấu không gian của các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, cơ sở sản
xuất, phục vụ sản xuất và mối liên hệ về chất, tỷ lệ về lượng giữa các yếu tố, bảo đảm sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực trên lãnh thổ với tốc độ tăng trưởng cao, nhằm tăng khả năng cạnh
tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ trên một đơn vị lãnh thổ nhất định. Như vậy, nếu cơ cấu
ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất
thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian
địa lý.
Cơ cấu lãnh thổ hợp lý là cơ cấu có sự phát triển hài hoà, phù hợp giữa yếu tố sản xuất
và tài nguyên thiên nhiên, sản xuất và phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, nhu cầu sản
xuất và nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sản xuất, nhu cầu nâng cao mức sống
của dân cư và phát triển kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ đời sống dân cư, cân bằng giữa nhu cầu
sản xuất và nhu cầu thị trường...
1.1.3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế.
Nếu như phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ
thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Trên cơ sở chế độ sở hữu về
tư liệu sản xuất, các thành phần kinh tế cơ bản ở nước ta hiện nay bao gồm: kinh tế nhà nước,
kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Các thành phần kinh tế cùng song song tồn tại, hỗ trợ lẫn nhau phát triển. Chủ


trương của Đảng và Nhà nước hiện nay là tập trung xây dựng một cơ cấu thành phần kinh tế
hợp lý. Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với
chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công
lao động xã hội... Theo nghĩa đó, cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến
cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ. Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối
quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế.
Ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế,
cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan

kinh tế xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ kinh tế thị trường chi phối
đến sự chuyển dịch CCKT. Quá trình biến đổi của CCKT ở các nước khác nhau về qui mô lãnh
thổ, nguồn tài nguyên thiên nhiên và trình độ hoạch định chính sách của chính phủ, sức mạnh
kinh tế của các nước, tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp. ở mỗi địa phương có điều
kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, phong tục tập quán, văn hoá, xã hội,
trình độ phát triển của quan hệ kinh tế thị trường khác nhau sẽ tạo ra sự khác nhau về quá trình
hình thành và biến đổi của CCKT.
1.2.4. Tính hiệu quả.
Tính hiệu quả của CCKT thể hiện ở chính sự phát triển theo cả bề rộng lẫn bề sâu của
CCKT. Trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội, tính hiệu quả của CCKT được thể hiện ở sự
tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người và hệ thống phúc lợi xã hội được cải
thiện, các ngành, các thành phần kinh tế phát triển theo đúng hướng, hợp qui luật, những tiềm
năng, thế mạnh của mỗi vùng được khai thác hiệu quả, đảm bảo một sự phát triển cân đối và
bền vững. Có thể nói, tính hiệu quả là một đặc tính rất quan trọng của CCKT, nếu thiếu nó,
CCKT không bao giờ đạt đến sự hợp lý.
1.2.5. Tính định hướng.
CCKT luôn mang trong mình tính khách quan, tự bản thân nó cũng là sự phản ánh các
qui luật khách quan trong quá trình vận động và phát triển. Những tác động chủ quan từ phía
con người dựa trên những qui luật khách quan đó sẽ làm cho CCKT phát triển hợp lý hơn, theo
đúng sự định hướng của các chính sách phát triển trong từng thời kỳ. Một CCKT phát triển
không theo đúng những chiến lược, định hướng đã được vạch ra sẽ phải cần đến những sự điều
chỉnh để tránh bị chệch hướng. Mặt khác, tuỳ vào mỗi giai đoạn phát triển, các mục tiêu kinh tế


xã hội được đề ra và mọi sự vận động, thay đổi của CCKT cũng phải hướng tới việc đạt được
các mục tiêu đó. Bản thân CCKT đã mang tính định hướng nhưng chính CCKT cũng luôn là sự
theo đuổi định hướng. Các nhà hoạch định chính sách luôn cần phải dựa vào CCKT hiện tại để
đề ra các sách lược phát triển cho tương lai và các chính sách này hoặc sẽ tạo ra một CCKT
mới, hoặc sẽ chỉ là sự giữ vững CCKT hiện có.


2.1.2 Các tiêu thức đánh giá quá trình chuyển dịch CCKT.
_ Mức độ chuyển dịch CCKT:
n

 Sit .Sit 
0

1

i 1

cos  =
n

( 0    90 0 )

n



2
2
 Si t 0 . Si t1 
i 1
 i 1


trong đó: Si(t) là tỷ trọng ngành i tại thời điểm t .
 là góc hợp bởi hai véctơ cơ cấu Si t 0  và Si t1  . Nếu góc  càng lớn thì chuyển dịch cơ cấu


-

Đặc trưng của CCKT là luôn luôn vận động và biến đổi. Sự biến đổi ấy rất đa dạng giữa
các nước, các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội và trình độ khác nhau. Có thể khái quát
quá trình vận động của CCKT ở nước ta theo một số qui luật phổ biến sau:
Thứ nhất, đó là sự vận động từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá.
Thứ hai là sự vận động theo hướng tỷ trọng công nghiệp ngày càng tăng, tỷ trọng nông
nghiệp giảm tương đối (nhưng tăng tuyệt đối), phần dịch vụ tăng nhanh hơn trong tỷ trọng tổng
sản phẩm quốc dân.
Thứ ba là cơ cấu sản xuất thay đổi theo hướng chuyển từ ngành sản xuất các sản phẩm
sử dụng nhiều lao động sang ngành sản xuất sản phẩm chứa hàm lượng cao về vốn và khoa học
công nghệ.
Thứ tư là cơ cấu sản phẩm thay đổi theo hướng sản phẩm chế biến tăng, sản phẩm thô
giảm.
Thứ năm, CCKT chuyển dịch theo hướng CNH- HĐH.
Thứ sáu, xu hướng biến đổi từ CCKT khép kín trong phạm vi quốc gia, thậm chí trong
từng từng địa phương sang CCKT mở trong phạm vi quốc tế và trong cả nước.
2.3. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch CCKT.
2.3.1. Nhóm nhân tố khách quan.
2.3.1.1. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên.
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên có thể kể đến đó là: dự trữ tài nguyên, khoáng sản,
nguồn nước, đất đai, nguồn năng lượng, khí hậu và địa hình... Thiên nhiên vừa là điều kiện
chung của sản xuất xã hội, vừa là tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. ảnh hưởng của điều kiện
tự nhiên đối với việc hình thành CCKT mang tính trực tiếp. Tuy nhiên, trong điều kiện KHKT
phát triển hiện nay, việc đánh giá vai trò các nhân tố điều kiện tự nhiên cần tránh cả hai khuynh
hướng đối lập nhau: hoặc là qúa lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên hoặc xem nhẹ vai trò của nó.


Cả hai khuynh hướng đó đều không đúng đắn. Dưới sự thống trị của khoa học công nghệ hiện
đại, tài nguyên thiên nhiên không phải là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển. Ngược lại, nếu

tăng năng suất lao động của các ngành, làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra một cách
tích cực, kéo theo sự chuyển dịch của cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần trong quá trình phát
triển.
c/ Lao động và vốn nhân lực.
Sự tác động của dân số và lao động lên qúa trình hình thành và chuyển dịch CCKT được
xem xét trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới...
là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, là nhân tố thúc đẩy tiến bộ KHKT trong sản
xuất của các ngành kinh tế quốc dân.
Thứ hai, qui mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ có ảnh hưởng lớn đến qui mô
và cơ cấu của nhu cầu thị trường. Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp và các ngành
phục vụ tiêu dùng.
Thứ ba, sự phát triển các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng như trong các
ngành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tục của một địa phương,
một cộng đồng người. Sự phát triển và chuyển hoá các ngành nghề này gắn chặt với đội ngũ
các nghệ nhân. Sản phẩm của các ngành nghề này hầu hết là các sản phẩm độc đáo, có ưu thế
và được ưa chuộng trên thị trường quốc tế. Trong lĩnh vực này, vai trò của các nghệ nhân,
những lao động có chuyên môn sâu và nhiều kinh nghiệm, là rất lớn trong việc phát triển những
ngành nghề thủ công truyền thống đòi hỏi kỹ thuật tinh tế và tay nghề cao.
Việt Nam có một nguồn dân số và lao động trẻ, dồi dào song nền kinh tế có một điểm
xuất phát thấp (sản xuất nhỏ là chủ yếu), phải chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, của cơ chế
cũ nên những yếu tố đó tác dụng cả hai mặt thuận lợi và trở ngại trong quá trình hình thành và
chuyển dịch CCKT.
d/ Tiến bộ khoa học- công nghệ.
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nước có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến sự biến đổi CCKT. Trước hết nó làm thay đổi vị trí của các ngành trong
nền kinh tế quốc dân, nó cũng làm thay đổi vị trí của nguyên liệu trong quá trình lao động. Tiến



nguồn lực hiện có, sự gia tăng các nguồn lực sản xuất theo thời gian và cách thức phân phối sản
phẩm và thu nhập cho các nhân tố sản xuất. Còn khi nói đến cơ cấu của một nền kinh tế, ta
thường quan tâm đến các thành phần có ý nghĩa cơ bản, tồn tại lâu dài, làm cơ sở cho những
biến động có tính chất thường xuyên trong đời sống kinh tế.
Cho tới nay, chưa có một lý thuyết hoàn hảo nào có thể mô tả những mối liên hệ giữa
quá trình phát triển và quá trình thay đổi cơ cấu. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa
ra bằng chứng chắc chắn là có những qui luật phản ánh phương thức thay đổi của CCKT khi
thu nhập bình quân đầu người tăng lên. Như vậy, cơ sở giúp ta thấy được mối liên hệ giữa quá
trình phát triển kinh tế và thay đổi cơ cấu là cách thức tính toán GDP theo các biến số kinh tế vĩ
mô.

1.1. Xét về phía cung.
Chúng ta phải phân tích cơ cấu sản xuất được tính theo các ngành sản xuất. Một kết quả
quan sát cho thấy, khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỷ trọng trong GDP của ngành
nông nghiệp giảm cùng với số lao động sử dụng và tỷ trọng của ngành công nghiệp, trong đó
chủ yếu là ngành khai khoáng và chế biến tăng lên cùng với số lao động sử dụng. Ngành chế
biến ban đầu có xu hướng tập trung vào sản xuất các mặt hàng tiêu dùng giản đơn như lương
thực, thực phẩm, quần áo, sau này chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng tư liệu sản xuất
thuộc ngành công nghiệp nặng và sau cùng là sản xuất các sản phẩm vi điện tử và các sản phẩm
có công nghệ cao. Vai trò của ngành dịch vụ có xu hướng tăng lên tương đối rõ rệt. Hàm sản
xuất:
y=(L,K,...) với

y
y
>0,
>0.
L
K


sự phát triển về kinh tế. Một xu hướng mang tính qui luật là cùng với sự phát triển của kinh tế,
cũng diễn ra một quá trình thay đổi về CCKT tức là một sự thay đổi tương đối về vai trò mức
đóng góp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng cấu thành nên toàn bộ nền
kinh tế. Một trong những CCKT được quan tâm và nghiên cứu nhiều trong mối liên hệ với quá
trình tăng trưởng và phát triển là cơ cấu ngành. Cơ cấu đó về phần mình lại được thể hiện trong
quá trình sản xuất, tiêu dùng và ngoại thương. Mối quan hệ giữa vấn đề chuyển đổi cơ cấu xét
theo khía cạnh này với sự phát triển chung của nền kinh tế là có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi


vì gắn với nó là cả một động thái về phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong
những thời điểm nhất định vào những lĩnh vực hoạt động sản xuất riêng. Điều này có thể giúp
chúng ta phân tích, nhận biết được tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực, từ đó có thể rút ra
những kết luận tương ứng về khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế. Tương tự, cơ cấu
ngành trong quan hệ ngoại thương cũng thể hiện các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh
của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu. Quá trình chuyển dịch cơ cấu là một quá trình tất
yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế. Đồng thời nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quá
trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linh hoạt, phù hợp với những
điều kiện bên ngoài và các lợi thế tương đối của một nền kinh tế.
2. Các mô hình chuyển dịch CCKT.
2.1. Mô hình Lewis hay mô hình thặng dư lao động.
Mô hình Lewis được xem như là lý thuyết chung về quá trình phát triển của thặng dư lao
động ở các nước đang phát triển trong suốt thập niên 1950 đến những năm đầu thập niên 70.
Trong mô hình của mình, Lewis xem nền kinh tế chỉ có 2 khu vực: khu vực truyền thống đặc
trưng bởi năng suất lao động biên bằng 0 và khu vực còn lại là khu vực công nghiệp hiện đại có
năng suất lao động cao thu hút thặng dư lao động từ nông thôn chuyển đến. Có 2 giả định về
khu vực nông nghiệp: thứ nhất là sự tồn tại của thặng dư lao động, hàm ý rằng lao động biên là
bằng 0, thứ hai, mọi lao động nông nghiệp đều có thể được thu hút chuyển sang làm việc ở khu
vực công nghiệp. Mô hình Lewis tập trung nghiên cứu cả 2 quá trình dịch chuyển lao động
cũng như sự gia tăng sản lượng và nguồn nhân lực trong khu vực công nghiệp. Sản lượng gia
tăng do tỷ lệ đầu tư và tích luỹ vốn ngày càng tăng đã thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp

cấu tập trung vào quá trình mà qua đó công nghiệp đã thay thế nông nghiệp để trở thành động
lực cho sự tăng trưởng. Tuy nhiên, bên cạnh việc xem gia tăng tiết kiệm và đầu tư như là những
điều kiện cần thì những mô hình này cũng xem xét đến nhiều sự thay đổi có mối liên hệ qua lại
với nhau trong CCKT liên quan đến mọi chức năng kinh tế bao gồm cả việc chuyển đổi quá
trình sản xuất, những thay đổi trong cấu thành nhu cầu tiêu dùng, thương mại quốc tế, sử dụng
nguồn lực cũng như những thay đổi trong các nhân tố kinh tế xã hội như sự đô thị hoá.
Nói chung, các mô hình chuyển dịch cơ cấu thực tiễn nhấn mạnh đến cả hai loại trở ngại
cho sự phát triển: đó là trở ngại nội sinh và ngoại sinh. Trở ngại nội sinh liên quan đến các trở
ngại kinh tế như tài nguyên sẵn có, dân số... cũng như các trở ngại về mặt thể chế, ví dụ như


chính sách của Nhà nước. Trong khi đó, trở ngại ngoại sinh liên quan đến các vấn đề về công
nghệ, thương mại quốc tế hay là khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài.
III. Sự cần thiết phải thực hiện chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Uông Bí.
Qua việc nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận ở các phần trước, ta có thể thấy
rằng, vai trò to lớn của chuyển dịch CCKT trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia,
một địa phương là không thể phủ nhận. Việc xây dựng và hình thành nên một CCKT hợp lý và
hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc tăng trưởng, phát triển kinh tế cũng như
giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng tích cực tại bất cứ địa phương nào. CCKT hợp lý thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cần thiết để hoàn thiện
hơn nữa CCKT trong tương lai. Như vậy, trên phương diện lý thuyết, vai trò cần thiết của
chuyển dịch CCKT trong phát triển kinh tế xã hội đã hoàn toàn được khẳng định. Có thể coi
như đó là một lý do thứ nhất để thị xã Uông Bí nên và cần thiết phải tiến hành chuyển dịch
CCKT trong điều kiện hiện tại cũng như tương lai.
Và lý do thứ hai để thấy rằng, việc thực hiện chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã
Uông Bí là cần thiết phải kể đến các quan điểm về phát triển thể hiện trong đường lối chính
sách của quốc gia, của tỉnh Quảng Ninh nói chung và chính quyền thị xã Uông Bí nói riêng.
Một cách cụ thể, đó chính là các định hướng phát triển đã được áp dụng trong thời gian qua và
sẽ được tiếp tục áp dụng trong thời gian tới. Trong các định hướng phát triển đó, nhiệm vụ
chuyển dịch CCKT luôn được các nhà hoạch định chính sách nhấn mạnh và coi là nhiệm vụ

hạn chế mà thị xã cần có hướng điều chỉnh. Thêm nữa, khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn
và thành thị, giữa người giàu và người nghèo còn gây nhiều bức xúc, tỷ lệ thất nghiệp còn cao.
Những yếu kém trên nếu không kịp thời khắc phục thì sẽ trở thành những rào cản bất lợi cho
thị xã trong quá trình hội nhập và phát triển. Vì lẽ đó, thị xã Uông Bí cần phải có những chính
sách thích hợp để cải thiện tình hình mà một trong những biện pháp được xem như hiệu quả
nhất là cần phải tiến hành chuyển dịch CCKT một cách toàn diện và phù hợp hơn.
Trên đây là ba lý do cơ bản khiến cho quá trình chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã
Uông Bí trở nên cần thiết hơn hết. Trong thời gian tới, thị xã cần có nhiều biện pháp thật hữu
hiệu để chuyển dịch CCKT thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển toàn
diện kinh tế xã hội của thị xã. Và dưới đây là một mô hình chuyển dịch CCKT thành công mà
thị xã Uông Bí cần học hỏi:


IV. Kinh nghiệm chuyển dịch CCKT của thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là một thị xã công nghiệp khai thác than lớn nhất cả
nước. Trải qua trên 47 năm, thị xã đã không ngừng được cải tạo, phát triển thành đô thị lớn có
tốc độ đô thị hoá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, CCKT chuyển dịch đúng định hướng,
diện mạo đô thị ngày càng được thay đổi và phát triển. Ngày 6/1/2005, thị xã được Bộ Xây
Dựng công nhận là đô thị loại 3, nâng cấp từ đô thị loại 4. Trên thực tế, thị xã Cẩm Phả có
nhiều nét tương đồng với thị xã Uông Bí về các mặt tự nhiên cũng như kinh tế xã hội. Đặc biệt,
trong thời gian tới, thị xã Uông Bí cũng tiến hành xây dựng một đề án xin nâng cấp thị xã từ đô
thị loại 4 lên loại 3. Vì tất cả lẽ đó, đề tài tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể về quá trình
chuyển dịch CCKT của thị xã Cẩm Phả, từ đó tìm ra được những mặt thành công cũng như
những mặt còn hạn chế để áp dụng vào điều kiện khách quan của thị xã Uông Bí, phục vụ cho
quá trình chuyển dịch CCKT của địa phương.
1. Những thành công trong quá trình chuyển dịch CCKT tại thị xã Cẩm Phả.
1.1. Về kinh tế.
Thị xã Cẩm Phả là một thị xã công nghiệp được hình thành từ khá lâu, do đó CCKT của
thị xã cũng được hình thành tập trung vào các ngành CN- TTCN, thương mại, dịch vụ, du lịch
với tỷ lệ tăng trưởng nhanh. Năm 2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt trên 12%/năm,

cho việc phát triển kinh tế hiện tại cũng như tương lai. Đầu tư xây dựng cơ bản tăng bình quân
150%/năm. Tập trung các nguồn vốn và huy động nguồn lực trong nhân dân để cải tạo và xây
dựng hệ thống đường điện, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, trạm xá, bệnh viện,
trường học và các công trình công cộng đạt hiệu quả cao. Năm 2004, thị xã có 67,9 km đường
giao thông chính nội thị được trải nhựa và bê tông hoá chiếm 90%, 100% số hộ dân nội thị có
điện sử dụng, khu vực nội thị có 59,2km hệ thống điện chiếu sáng công cộng, đạt 87,2%. Hệ
thống nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng với công suất 56000m3/ngày đêm, đảm bảo cung
cấp cho trên 85% hộ dân nội thị có nước sạch sinh hoạt và sử dụng. Hệ thống thông tin bưu
điện của thị xã khá hoàn thiện với Tổng đài điện tử trung tâm dung lượng cao và có 4 Tổng đài
khu vực. Đến nay toàn thị xã có trên 29000 máy điện thoại cố định, đạt tỷ lệ 17 máy/100 người
dân.
1.3. Về văn hoá- xã hội.


Thị xã Cẩm Phả có hệ thống giáo dục khá phát triển. Hiện nay thị xã có 3 trường Công
nghiệp kỹ thuật, 56 trường từ mầm non đến phổ thông trung học. Đến nay thị xã đã hoàn thành
chương trình phổ cập giáo dục THCS.
Mạng lưới y tế thị xã được củng cố với 3 bệnh viện, trên 500 giường bệnh, có 16 trạm y
tế xã, phường, 13 trạm y tế của các cơ quan doanh nghiệp với tổng số y, bác sĩ trên 600 người,
đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, công nhân và nhân dân trên địa bàn thị xã.
Công tác thực hiện chính sách xã hội được tổ chức tốt, các gia đình chính sách, đối
tượng xã hội được quan tâm giúp đỡ, tích cực trong công tác giải quyết việc làm, thực hiện xoá
đói giảm nghèo, đến nay thị xã không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo còn 1,41%.

2. Các biện pháp chuyển dịch CCKT đã được thực hiện tại thị xã Cẩm Phả.
2.1. Về phát triển kinh tế.
Thị xã đã tập trung tạo điều kiện môi trường thông thoáng để các thành phần kinh tế
phát triển, có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân làm giàu chính đáng, hợp pháp,
thực hiện tốt chính sách đầu tư, có cơ chế về đất đai, thuế, vốn, thị trường, sử dụng lao động,
tích cực mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển

ninh trật tự... Có như vậy, quá trình chuyển dịch CCKT của thị xã mới có kết quả như mong
đợi.


Chương 2: Thực trạng chuyển dịch CCKT ở thị xã Uông Bí.
I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
1. Đặc điểm tự nhiên.
Thị xã Uông Bí có vị trí kinh tế đặc biệt, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm phía
Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh; có nguồn than dồi dào, chất lượng tốt là thế mạnh để
phát triển ngành công nghiệp khai thác, có điều kiện tự nhiên, khí hậu thích hợp phát triển
ngành nông- lâm- thuỷ sản theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi; khu danh thắng Yên
Tử, khu du lịch Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Hang Son nằm trên địa bàn thị xã là những điểm
du lịch nổi tiếng được nhiều người biết đến.
1.1. Vị trí địa lý.
Thị xã Uông Bí nằm phía Tây tỉnh Quảng Ninh trên trục quốc lộ 18A, cách Hà Nội
120km, cách Hải Phòng 29km và cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 40km về phía đông. Phía đông
giáp huyện Yên Hưng, phía tây giáp huyện Đông Triều, phía bắc giáp huyện Sơn Động tỉnh
Bắc Giang, phía nam giáp thành phố Hải Phòng qua sông Đá Bạc chảy ra sông Bạch Đằng,
phía đông giáp huyện Hoành Bồ. Uông Bí nằm ở sườn phía đông nam vòng cung Đông Triều,
vị trí này tạo cho Uông Bí một điều kiện tự nhiên khác với các vùng lãnh thổ khác.
1.2. Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thuỷ văn.
Theo số liệu của cục thống kê Quảng Ninh, điều kiện tự nhiên, khí hậu thị xã Uông Bí
năm 2004 được thể hiện qua bảng 1.
Nhiệt độ trung bình năm là 24,40C, nhiệt độ cao nhất tập trung vào tháng 6, 7, 8, nhiệt
độ thấp nhất tập trung vào tháng 12,1,2 năm sau. Lượng mưa trung bình 1672 mm tập trung và
phân bổ theo mùa, đặc biệt vào các tháng 7,8,9. Độ ẩm không khí trung bình năm là 83,2%,
thay đổi theo mùa từ cao nhất là 88% đến thấp nhất là 72%. Số giờ nắng bình quân trong năm
là 1730,4 giờ, tập trung vào các tháng 7,8,9, 10.
Nhìn chung, thị xã Uông Bí chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông Bắc Bắc bộ khá rõ
nét với đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa đông. Với khí hậu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status