thông tin
T
hực hiện quan hệ hợp tác giai đoạn
hai giữa Bộ t pháp Việt Nam và Tổ
chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA),
vừa qua tại Hà Nội đ tổ chức tọa đàm
"Phơng pháp luận sửa Bộ luật dân sự
Việt Nam" trong 2 ngày 15 - 16/8/1999.
Tham dự tọa đàm về phía Việt Nam có
đại diện các cơ quan chức năng nh: Bộ
t pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao... phía Nhật
Bản có GS. Morishima Akio làm trởng
đoàn chuyên gia và một số giáo s hiện
đang giảng dạy tại các trờng đại học
nh: Trờng đại học tổng hợp Nagoya,
Trờng đại học tổng hợp Gakushuin,
Trờng đại học tổng hợp Hitotsubashi,
Trờng đại học tổng hợp Meiji.
Phát biểu khai mạc buổi tọa đàm, TS.
Hà Hùng Cờng, thứ trởng Bộ t pháp
đ nêu tầm quan trọng và ý nghĩa của
công việc sửa đổi BLDS - bộ luật lớn
trong hệ thống pháp luật Việt Nam và
đánh giá sự giúp đỡ của Tổ chức hợp tác
quốc tế Nhật Bản trong giai đoạn soạn
thảo BLDS năm 1995. Qua gần 5 năm
thực thi, BLDS Việt Nam đ điều chỉnh
tơng đối có hiệu quả các quan hệ dân sự
Trong ngày đầu tiên phía Việt Nam đ
có 3 tham luận trình bày tại buổi tọa đàm
của TS. Đinh Trung Tụng, vụ trởng Vụ
pháp luật kinh tế - dân sự; bà Nguyễn
Thuý Hiền, phó vụ trởng Vụ pháp luật
kinh tế - dân sự; TS. Hoàng Thế Liên,
viện trởng Viện nghiên cứu khoa học
pháp lí.
Các tham luận phía Việt Nam đ khái
quát những thực trạng của Việt Nam sau
khi ban hành BLDS nh nhiều quy định
trong Bộ luật còn hạn chế sự thông
thoáng của các quan hệ dân sự. Các quy
định này lại tập trung vào thẩm quyền của
* Trờng đại học luật Hà Nội
Tạp chí luật học - 63
thông tin
của các cơ quan hành chính, liên quan
đến nhiều thủ tục, trình tự. Trong BLDS
còn quá nhiều các quy định về xin phép,
đăng kí, cho phép... nên hớng sửa phải
làm sao giảm tối đa sự can thiệp của các
cơ quan hành chính vào các quan hệ dân
sự.
Trong Bộ luật còn nhiều quy định
mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể, nhiều
quy định chỉ có tính chất định hớng,
còn thiếu tính khả thi; tổ chức su tầm
64 - tạp chí luật học
những bản án dân sự điển hình trong việc
áp dụng các quy định của BLDS, phân
tích để phát hiện các tồn tại thông qua
hoạt động xét xử của toà án; tổ chức rà
soát các văn bản hớng dẫn thi hành
BLDS; tổ chức su tầm những kiến nghị
về sửa đổi, bổ sung với BLDS trong các
công trình khoa học đ công bố và tiến
hành tổ chức nghiên cứu một số chuyên
đề nhằm giải quyết những vấn đề về lí
luận có liên quan.
Tại buổi tọa đàm, GS. Akiô
Morishima đề nghị: Để sửa đổi BLDS cần
thành lập tổ công tác chung và cần có sự
điều tra thực tế x hội trong việc áp dụng
áp dụng BLDS. Pháp luật dân sự một mặt
điều chỉnh các quan hệ x hội nhng mặt
khác nếu các quy định của pháp luật
không phù hợp sẽ không phát huy đợc
hiệu quả. Vì vậy, trong quá trình lập pháp
phải chú ý đến thực trạng x hội. Giữa
pháp luật và thực trạng x hội (đặc biệt là
những tập quán phổ thông) có tính chất
song hành. Nhiều nhà khoa học đ nghiên
cứu về tính chất song hành này của pháp
luật dân sự.
Kinh nghiệm ở Nhật Bản cho thấy
đổi mới từ 1986 nhng hiện nay đang
đứng trớc sức ép của hội nhập, của toàn
cầu hoá thì vấn đề càng m nh liệt hơn
nếu không có BLDS hoàn chỉnh. Việc
khảo sát, điều tra x hội học cần tập trung
chú ý:
- Khi có tranh chấp xảy ra thì ngời ta
thoả thuận giải quyết nh thế nào để sau
này có cơ sở đa x hội học vào luật
pháp. Phạm vi điều chỉnh cần xác định
trớc để định hớng phơng pháp điều tra
phù hợp.
- Điều tra có tính chất pháp luật nhằm
nghiên cứu thực trạng x hội để giải thích
bằng pháp luật. Nếu thực trạng x hội nh
thế này thì phải vận dụng luật nh thế nào
là phù hợp. Pháp luật luôn va chạm với x
hội nên các chủ thể ứng xử nh thế nào
(hiệu quả điều chỉnh) là điều cần biết
đến.
- Điều tra cho công tác lập pháp cần
làm rõ mục đích luật muốn ban hành là
luật gì? bản chất pháp lí và mục đích của
việc ban hành luật đó? Cần điều tra để
tìm hiểu trên diện rộng để hiểu rõ mong
muốn của ngời dân và các cơ quan áp
dụng pháp luật.
Công tác điều tra bằng phơng pháp
x hội học phải đạt đợc các mục đích:
định trong các luật riêng. Các công ty
hoặc cá nhân có đăng kí kinh doanh hoặc
thực hiện mục đích kiếm lợi nhuận chỉ
cần quy định trong luật đặc biệt. Nh vậy,
luật dân sự cần quy định phạm vi điều
chỉnh với tất cả các loại hợp đồng và lấy
luật dân sự làm chuẩn mực. Trong BLDS
cần quy định các nguyên tắc cơ bản nhất
của hợp đồng nh thế nào là cam kết thoả
thuận, vấn đề thực hiện hợp đồng và
những hậu quả pháp lí...
Tạp chí luật học - 65
thông tin
Khi sửa đổi nên chăng sắp xếp lại vị
trí các luật hiện hành liên quan đến luật
dân sự, rà soát lại các đối tợng điều
chỉnh của các luật này để sắp xếp lại cho
hợp lí. Để có kế hoạch sửa đổi phù hợp
cần xác định lĩnh lực nào cần sửa đổi?
luật dân sự đang đợc áp dụng trong lĩnh
vực nào là chính, có phát huy đợc tác
dụng trong điều kiện nền kinh tế thị
trờng hay không và những điều nào còn
bất cập? cần tổ chức các hội thảo để xem
xét ý kiến từ các góc độ sử dụng luật của
các chủ thể và trong việc áp dụng luật để
giải quyết tranh chấp của các cơ quan nhà
ai là chủ sở hữu tài sản đó. Đây là cơ sở
bảo đảm sự an toàn cho các giao dịch.
Những ngời tham gia giao dịch có thể
kiểm tra quyền sở hữu tài sản của đối tác
tại những cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền. Tài sản có thể đợc đăng kí theo
ngời hoặc đăng kí theo vật.
GS. Matsumoto thuyết trình về chế
định hợp đồng trong BLDS Việt Nam. Tại
Nhật Bản, luật thơng mại đợc coi là
luật đặc biệt của luật dân sự. Để tránh
việc phức tạp trong áp dụng, kinh nghiệm
của Nhật Bản là trong BLDS chỉ quy định
một loại hợp đồng và áp dụng chung cho
tất cả các loại hợp đồng. Nếu quy định
nh BLDS Việt Nam hiện nay cần quy
định cụ thể hơn nguyên lí của hợp đồng
và bỏ hợp đồng vận chuyển, bảo hiểm...
vì nó mang tính chất thơng mại. Việc
tồn tại hai loại toà án xét xử (toà kinh tế
và toà dân sự) sẽ gây phức tạp và bất lợi
cho ngời dân. Kinh nghiệm ở Nhật Bản
và một số nớc khác là chỉ có một toà
chuyên trách, dù rằng áp dụng luật dân sự
hay luật thơng mại. Nếu giữ nguyên các
quy định nh hiện nay cần định nghĩa rõ
hơn thể nào là vụ việc dân sự và thơng
mại để nhân dân và ngời nớc ngoài
hiểu. Tuy nhiên, trong BLDS Việt Nam
có quy định tại khoản 2 Điều 406 về giải
quyền lợi của ngời tiêu dùng và các quy
định này đang có chiều hớng tăng. Để
bảo vệ ngời tiêu dùng, tác giả thuyết
trình cho rằng thời gian yêu cầu tuyên bố
giao dịch dân sự vô hiệu một năm nh
quy định tại Điều 145 BLDS Việt Nam là
quá ngắn. Để bảo vệ ngời tiêu dùng,
trong luật của Nhật Bản quy định này là
vô thời hạn; việc yêu cầu tuyên bố huỷ bỏ
hợp đồng là 5 năm. Ngoài ra các quy định
về vi phạm các điều pháp luật cấm, trái
đạo đức x hội sẽ bị coi là vô hiệu, tài sản
giao dịch bị tịch thu sung công quỹ nhà
nớc... cần có sự xem xét lại xem có phát
huy đợc hiệu quả trong thực tế hay
không.
GS. Niimi thuyết trình về vấn đề bảo
vệ ngời thứ 3 trong các giao dịch dân sự.
Quy định này đợc quy định tại Điều 147
BLDS Việt Nam nhng tác giả cho rằng
còn thiếu cụ thể vì trong thực tế ngời thứ
ba tham gia giao dịch dân sự rất đa dạng.
Điều 147 BLDS Việt Nam chỉ áp dụng
khi có sự vô hiệu của giao dịch dân sự
còn những trờng hợp giao dịch dân sự
không có sự vô hiệu thì sẽ giải quyết nh
thế nào là điều mà BLDS Việt Nam cha
dự liệu. Vì rằng, khi hợp đồng vô hiệu có
thể có nhiều trờng hợp sẽ xảy ra nhng
những kinh nghiệm của Nhật Bản về sự
sửa đổi này. Buổi hội đàm và trao đổi
diễn ra trong không khí cởi mở, thân
thiện và hữu nghị đ để lại những ấn
tợng tốt đẹp./.
Tạp chí luật học - 67