Vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam - Pdf 33

LỜI NÓI ĐẦU
Trái Đất là ngôi nhà chung của thế giới, là nơi sự sống con người
được sinh sôi nảy nở. Sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của các cuộc Cách
mạng công nghiệp, Cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với quá trình Công
nghiệp hoá trong hơn 3 thế kỷ qua đã và đang làm biến đổi nhanh chóng và
sâu sắc không chỉ bộ mặt của xã hội, loài người và cả tự nhiên. Những biến
đổi đó một mặt đã thúc đẩy nền văn minh hiện đại tiến nhanh hơn bất kỳ một
giai đoạn lịch sử nào trước đây, song, mặt khác, cũng đang bộc lộ tất cả
những mâu thuẫn gay gắt chưa thể điều hoà được giữa sự tiến bộ của Khoa
học, kỹ thuật và công nghệ với việc bảo vệ những điều kiện tự nhiên cần cho
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Cùng với sự phát triển nhanh
chóng của kinh tế cũng là sự suy thoái trầm trọng về môi trường sinh thái.
Đó không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà giờ đây ô nhiễm môi
trường, suy thoái sinh thái đã trở thành mối quan tâm, lo lắng của toàn nhân
loại vì sự sống còn của thế giới.
Việt Nam tuy mới bước vào con đường phát triển kinh tế nhưng đã
phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Từ thực tiễn nghiên
cứu và giải quyết các vấn đề sinh thái của thời đại và trong điều kiện cụ thể
của nước ta hiện nay đã nảy sinh nhu cầu cấp thiết cần phải có một cơ sở lí
luận - phương pháp luận chung làm nền tảng cho việc xem xét mối quan hệ
giữa tự nhiên - con người - xã hội, đặc biệt là vai trò ngày càng to lớn của
con người trong việc làm biến đổi tự nhiên.
Xuất phát từ góc độ Triết học, trên tinh thần của Triết học Mac -
Lênin và cơ sở của những tri thức thời đại chúng ta sẽ có một có một cái
nhìn bao quát, sâu sắc và toàn diện hơn đối với mối quan hệ giữa tự nhiên -
1
con người - xã hội. Và vận dụng nó vào xem xét những điều kiện của thể ở
Việt Nam.
Mong rằng tất cả những điều được trình bày trong tiểu luận dưới đây
sẽ góp phần nâng cao nhận thức đối với vấn đề cấp thiết và nóng bỏng này,
nhìn lại thực trạng của môi trường, tìm ra nguyên nhân và giải pháp cho

Sinh quyển là sự thống nhất hữu cơ giữa sinh thể và những thành phần
vô cơ và hữu cơ tham gia vào quá trình sống. Sinh quyển đã trải qua một quá
trình tiến hoá lâu dài và phức tạp để tạo nên những bộ phận của nó. Có thể
khái quát thành bốn giai đoạn chủ yếu như sau:
Giai đoạn một là giai đoạn xuất hiện những cơ thể đơn bào, trên cơ sở
tổng hợp các chất hữu cơ có sẵn trong tự nhiên. Từ hoạt động sống của các
cơ thể đơn bào đã hình thành nên chu trình sinh học đầu tiên - đó là dạng sơ
khai nhất của sinh quyển.
Giai đoạn hai là giai đoạn các cơ thể đơn bào phát triển lên thành các
cơ thể đa bào, theo hai hướng chính là động vật và thực vật. Sinh quyển và
chu trình trao đổi chất trong nó ngày càng phức tạp và tiến đến hoàn thiện.
Giai đoạn ba được đánh dấu bằng sự xuất hiện của con người và xã
hội loài người. Con người và xã hội trở thành những thành viên mới của chu
trình sinh học.
Giai đoạn bốn là giai đoạn sinh quyển chuyển thành trí tuệ quyển.
Trong giai đoạn này sự tiến hoá của sinh quyển không chỉ chịu sự tác động
của các yếu tố tự nhiên - sinh học, mà còn chịu sự tác động mạnh mẽ của
hoạt động có ý thức của con người.ý
I.2. Yếu tố con người.
3
Quá trình phát triển của của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo
quy luật tiến hoá, trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiện từ
động vật.
Sự ra đời của con người không chỉ là kết quả của các quy luật sinh
học mà quan trọng hơn là kết quả của quá trình lao động. Đây là quá trình
con người tác động vào giới tự nhiên, khai thác và cải biến giới tự nhiên để
đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình. Chính trong quá trình lao động, cấu tạo cơ
thể của con người ngày càng hoàn thiện hơn và cũng chính trong quá trình
lao động, nhu cầu trao đổi, hợp tác đã làm cho ngôn ngữ xuất hiện. Lao động
và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của

biến con người thành nô lệ của tính tất yếu. Khi con người đã nhận thức
được quy luật khách quan và những hoạt động điều kiện của chúng để vận
dụng chúng vào các hoạt động có mục đích của mình, thì con người đạt đến
tự do. Như vậy, tự do không có nghĩa là hành động tuỳ tiện, bất chấp quy
luật, trái lại, tự do là nhận thức được quy luật và làm theo quy luật.
II. Sự tác động qua lại giữa tự nhiên - con người - xã hội
II.1. Vai trò của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong hệ thống tự nhiên -
xã hội.
Hệ thống tự nhiên - xã hội là một chỉnh thể trong đó những yếu tố tự
nhiên và những yếu tố xã hội tác động qua lại lẫn nhau, quy định sự tồn tại
và phát triển của nhau. Trong sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội,
yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của
con người và xã hội, còn yếu tố con người và xã hội có vai trò ngày càng
quan trọng và có tính quyết định đối với sự biến đổi của tự nhiên.
5
Tự nhiên vừa là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội, vừa là môi trường
tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.
Là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vì xã hội được hình thành
gắn liền với sự hình thành các quan hệ giữa người với người, và con
người chính là con đẻ của tự nhiên, được hình thành trong quá trình tiến hoá
của thế giới vật chất.
Là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội vì chỉ có tự nhiên mới
cung cấp được những điều kiện cần thiết nhất cho sự sống của con người
như ánh sáng, nước, không khí, thức ăn... là những điều kiện cần thiết nhất
cho sự tồn tại và phát triển của xã hội như nguyên vật liệu xây dựng, tài
nguyên, khoáng sản... là một trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã
hội.
Với tư cách là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội, tự nhiên có
thể tác động thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất xã hội, có thể thúc
đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của chính bản thân xã hội.

và sâu sắc của các yếu tố xã hội. Ngược lại sự phát triển của lịch sử xã hội
không thể tách rời các yếu tố tự nhiên, bởi vì, chỉ có trong mối quan hệ với
tự nhiên và quan hệ với nhau con người mới làm nên lịch sử của mình.
Nhưng chính quá trình quan hệ với giới tự nhiên con người đã cải biến giới
tự nhiên. Thông qua hoạt động của mình con người làm cho lịch sử xã hội và
lịch sử tự nhiên gắn bó lẫn nhau, quy định lẫn nhau. Sự gắn bó và quy định
lẫn nhau đó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mà tiêu chí để đánh
giá nó là phương thức sản xuất - cách thức sản xuất ra của cải vật chất trong
mỗi giai đoạn nhất định của con người. Bất kỳ một phương thức sản xuất
nào cũng bao gồm hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa con người với tự
7
nhiên - lực lượng sản xuất và quan hệ giữa con người với với con người -
quan hệ sản xuất. Hai mối quan hệ này cùng đồng thời tồn tại, vận động và
phát triển cùng với sự vận động và phát triển của lịch sử. Mỗi phương thức
sản xuất nhất định trong lịch sử là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và phương thức sản xuất. Trong suốt quá trình phát triển của xã hội,
lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi và hoàn thiện dần. Sự ra đời những
phương thức sản xuất mới cao hơn những phương thức sản xuất trước đó đã
quyết định những chuyển biến về chất của xã hội loài người, đưa xã hội loài
người từ cuộc sống mông muội, dã man sang văn minh, hiện đại với các nền
văn minh kế tiếp nhau: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn
minh hậu công nghiệp hay văn minh trí tuệ. Cũng chính phương thức sản
xuất quy định tính chất của mối quan hệ giữa xã hội với tự nhiên vì mỗi
phương thức sản xuất khác nhau sẽ có những công cụ lao động khác nhau để
khai thác giới tự nhiên, sẽ có những mục đích tiến hành sản xuất khác nhau.
Khi công cụ lao động thay đổi, khi mục đích tiến hành sản xuất của mỗi chế
độ xã hội thay đổi thì tính chất của mối quan hệ giữa xã hội với tự nhiên
cũng thay đổi.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua các
cuộc cách mạng lực lượng sản xuất. Trong lịch sử phát triển của loài người

người, tự nhiên, và sự suy thoái trầm trọng của môi trường.
II.3. Sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên
Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên được thể hiện qua hoạt động có ý
thức của con người. Song, “tất cả những gì thúc đẩy con người hành động
phải thông qua đầu óc họ”, bởi vậy, mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên,
9
ngoài phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội còn phụ thuộc vào trình
độ nhận thức, trước hết là việc nhận thức các quy luật và việc vận dụng nó
trong hoạt động thực tiễn.
Hoạt động sản xuất ra của cải của con người là hoạt động chinh phục
tự nhiên. Hoạt động này có thể làm giới tự nhiên biến đổi theo hai hướng.
Nếu con người tác động vào giới tự nhiên đúng quy luật của nó thì con
người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” hài hoà đối với sự phát triển của xã hội.
Ngược lại, nếu con người bất chấp quy luật, chỉ khai thác, chiếm đoạt những
cái có sẵn trong tự nhiên thì sự nghèo nàn đi của giới tự nhiên và việc phá vỡ
cân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội là điều tất yếu. Ph.ăngghen đã nhắc nhở:
“Không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự
nhiên. Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần thiên nhiên trả
thù lại chúng ta”. Con người tàn phá giới tự nhiên bao nhiêu thì con người
phải gánh chịu hậu quả bấy nhiêu. “Chúng ta hoàn toàn không thống trị
được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác... tất
cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta khác với
tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của tự nhiên và
có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác.”
Việc nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và sử sụng những quy
luật đó một cách có hiệu quả vào những hoạt động thực tiễn của xã hội, mà
quan trọng nhất là vào lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất vừa là tiền đề,
vừa là từng bước thực hiện việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ
giữa xã hội và tự nhiên. Để làm được điều đó, trước hết cần thay đổi nhận

qua lại của con người và tự nhiên trong điều kiện của một nước còn chậm
phát triển, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố hiện đại như
kỹ thuật, công nghệ kinh tế thị trường, và cả những yếu tố truyền thống văn
hoá dân tộc như quan niệm của con người về tự nhiên, về mối quan hệ của
họ với tự nhiên. Chính các quan niệm đó là một trong những nguyên nhân
quan trọng gây nên các các mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên trong quá
trình khai thác và sử dụng thiên nhiên trong điều kiện hiện nay ở nước ta.
Lãnh thổ Việt Nam kéo dài suốt sườn Đông và sườn Nam Bán đảo
Đông Dương, chiếm một phần lớn diện tích bán đảo này và nằm ở vị trí
trung tâm Đông Nam A. Việt nam nằm trên vòng đai địa hoá Thái Bình
Dương, cho nên giàu các mỏ kim loại, đặc biệt thiếc, chì, kẽm, nhôm. Do
ảnh hưởng của kiến tạo địa chất, trên lãnh thổ Việt Nam hình thành nên
những vùng đất đỏ màu mỡ. Việt Nam là một góc của lục địa Châu A, vừa
nối tiếp với bờ Đông Dương vừa nối tiếp với bờ Nam lục địa, vị trí ấy cho
Việt Nam là nơi gặp gỡ của các loài động vật từ Trung Hoa xuống, từ Ân Độ
sang làm cho lớp động thực vật thêm phong phú. Hơn thế nữa khí hậu Việt
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status