Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành
tựu đạt được cả về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, cũng cần thấy sự tác động tiêu cực
của kinh tế thị trường đối với toàn xã hội nói chung và đối với đội ngũ cán bộ, công chức
nói riêng, dẫn đến tình trạng một số cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối
sống, lợi dụng chức quyền, quyền hạn để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng
phí của công, quan liêu, ức hiếp, gia trưởng độc đoán, có tham vọng cá nhân, cục bộ, kèn
cực địa vị, cơ hội, kém ý thức tổ chức kỷ luật, phát ngôn và làm việc tùy tiện, gây mất
đoàn kết trong nội bộ nghiêm trọng.
Góp phần củng cố kỷ luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, hiệu quả trong
hoạt động quản lý qua các giai đoạn. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm
pháp luật về chế độ trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức.
Những năm gần đây trong công tác đổi mới, cải cách nền hành chính nhà nước, mà nội
dung cơ bản là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngày một chính quy có phẩm chất
chính trị, phẩm chất đạo đức và phẩm chất năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu thời kỹ
thuật công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Luật cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số
34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công
chức và một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Tuy vậy, các văn bản vẫn còn
thiếu thống nhất, đồng bộ, còn nhiều khoảng trống, chưa phân biệt rõ trách nhiệm vật chất
của cán bộ, công chức với trách nhiệm dân sự phát sinh trong quá trình thực thi công vụ
của cán bộ, công chức.
Để góp phần làm sáng tỏa thêm bản chất của việc xử lý kỷ luật công chức, thực
trạng cũng như việc hoàn thiện các chế định pháp luật này, người viết quyết định chọn đề
tài “Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - Lý luận và thực
tiễn” viết luận văn tốt nghiệp cử nhân luật.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật
công chức trong cơ quan hành chính và thực tiễn liên quan đến việc xử lý công chức trong
Chương 2: Quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan
hành chính. Người viết phân tích: Các hành vi công chức bị xử lý kỷ luật; thời hiệu và
thời hạn xử lý kỷ luật công chức; thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật công chức; áp
dụng hình thức kỷ luật đối với công chức.
Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý
kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính. Bao gồm những nội dung sau: Kết quả áp
dụng các hình thức kỷ luật đối với công chức trên cả nước; những nguyên nhân dẫn đến vi
phạm kỷ luật công chức; những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật xử lý kỷ luật
công chức.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
2
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Để hiểu được cơ quan hành chính nhà nước, trước hết đòi hỏi chúng ta cần tìm
hiểu định nghĩa cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và
hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và
được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. 1
Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng cơ quan nhà nước có một số đặc điểm như: cơ
Để hiểu rõ khái niệm về công vụ, trước hết chúng ta cần tìm hiểu về hoạt động
công vụ. Theo điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì “Hoạt động công vụ của cán
bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cán bộ, công chức theo quy định
của Luật này và các quy định khác có liên quan”.
Xét về đặc điểm và tính chất của hoạt động công vụ thì mục đích của hoạt động
công vụ là phục vụ lợi ích nhân dân và xã hội. Nội dung hoạt động công vụ gắn với việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội,
đồng thời thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì
mục đích lợi nhuận. Chủ thể thực thi công vụ là công chức. Hoạt động công vụ không chỉ
thuần tý mang tính quyền lực nhà nước, mà bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà
nước thành lập (được nhà nước ủy quyền) để phục vụ nhu cầu của nhân dân. Các hoạt
động này điều do công chức, nhân danh nhà nước tiến hành, nó bao gồm các hoạt động
nhân danh quyền lực và các hoạt động của các tổ chức do nhà nước ủy quyền. Ở các nước
trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, người ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà chỉ
nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước. Bởi lẽ, pháp luật là công
cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành. Công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền của nhà nước và tuân theo pháp luật. Hoạt động công vụ mang tính
thường xuyên, chuyên nghiệp.
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm: Công vụ là một hoạt động do công chức
nhân danh nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhà nước trong quản lý mọi mặt đời
sống xã hội, đồng thời thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân
và xã hội.3
1.1.3 Khái niệm công chức và công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
2
Phạm Thị Diệu Hiền, tập bài giảng Luật Hiến Pháp Việt Nam 2, tr.1-2.
Ts. Trần Anh Tuấn, Bàn về khái niệm công vụ trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
đơn vị khác nhau; cùng một chức danh, chức vụ thuộc cùng một loại tổ chức, cơ quan,
đơn vị nhưng ở các cấp khác nhau.
Thứ hai, về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động của công chức rộng hơn rất
nhiều so với cán bộ. Nếu như cán bộ là những người hoạt động trong cơ quan của Đảng,
nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thì công chức xuất hiện cả ở cơ quan đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập.
Thứ ba, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác nữ khi được bổ
nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động mà không
4
Xem khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
5
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
hoạt động theo nhiệm kỳ như cán bộ.5 Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi tới tuổi nghỉ hưu:
55 tuổi đối với nữ giới và 60 tuổi đối với nam giới.6
Thứ tư, về chế độ lao động: Công chức trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật.7
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể khái niệm: Công chức là công dân Việt
8
Điều 5, 6 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định những người là công chức.
9
Xem khoản 1 Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
6
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
thực hiện nghĩa vụ, đạo dức và văn hóa giao tiếp của công chức trong thi hành công vụ;
những việc công chức không được làm quy định tại Luật Cán bộ, công chức; vi phạm
pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật; vi phạm quy định của pháp
luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bình đẳng giới,
phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến công
chức nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 10 Theo Điều 8 Nghị định số
34/2011/NĐ-CP thì các hình thức kỷ luật đối với công chức như: “Khiển trách, cảnh cáo,
hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc”.
Trên cơ sở những quy định nêu trên, chúng ta có thể khái niệm: Xử lý kỷ luật công
chức là biện pháp xử lý cuả nhà nước, áp dụng chế tài pháp lý kỷ luật đối với công chức
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khi vi phạm pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật
chuyên ngành.
1.2 Khái quát chung về xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính
so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so
với hình thức kỷ luật đang thi hành.
+ Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật nặng hơn so với hình thức đang
thi hành thì áp dụng hình thức nặng hơn một mức so với các hình thức kỷ luật áp dụng đối
với hành vi vi phạm pháp luật mới.
Bốn là, thái độ tiếp thu, sửa chữa và tự động khắc phục hậu quả của công chức có
hành vi vi phạm pháp luật là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình
thức kỷ luật.
Năm là, thời gian xem xét kỷ luật đối với công chức trong các trường hợp quy định
tại Điều 4 Nghị Định 34/2011/NĐ-CP không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật.
Sáu là, không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình thức kỷ luật.
Bảy là, cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của công chức
trong quá trình xử lý kỷ luật; cấm áp dụng biện pháp phạt tiền, cắt lương thay cho hình
thức kỷ luật.
1.2.1.2 Các trường hợp chưa xem xét kỷ luật công chức
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính
phủ thì nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với
công chức:
Một là, công chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc
riêng được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép.
Hai là, công chức đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có
thẩm quyền. Theo quy định này, công chức đang trong thời gian điều trị bệnh hoặc điều trị
thương tật thì chưa xem xét kỷ luật đối với công chức đó nếu có xác nhận của cơ quan y tế
có thẩm quyền.
Ba là, công chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con
dưới 12 tháng tuổi. Có thể thấy, quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ
nói chung, được cụ thể hóa trên cơ sở của Bộ Luật lao động. Chẳng hạn, tại khoản 4 Điều
155 Bộ luật lao động năm 2012 quy định : “Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng khi
sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao
khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng
mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. 13 Qua đó, có thể hiểu là khi công chức thi
hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật do bất ngờ trong tình thế bất khả kháng được
cơ quan có thẩm quyền xác nhận thì công chức đó được miễn trách nhiệm kỷ luật.
1.2.1.4 So sánh xử lý kỷ luật công chức và xử lý kỷ luật cán bộ
12
Xem khoản 5 Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008.
13
Xem khoản 1 Điều 161 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
9
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
Cơ sở pháp lý để so sánh xử lý kỷ luật công chức và xử lý kỷ luật cán bộ là Luật
cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính
phủ về xử lý kỷ luật đối với công chức.
Hình thức xử lý kỷ luật công chức và xử lý kỷ luật cán bộ có nhiều điểm giống
nhau, cụ thể như sau:
Một là, chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế hành chính được áp dụng với chủ thể
vi phạm.
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
công chức không có hình thức kỷ luật là bãi nhiệm.
Thứ ba, đối với cán bộ, việc cách chức chỉ áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn
giữ chức vụ theo nhiệm kỳ. Còn đối với công chức, việc cách chức chỉ áp dụng đối với
công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Thứ tư, việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đối với cán
bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật, điều lệ của Đảng cộng Sản Việt Nam, tổ
chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Đối với công chức,
việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật do Chính
phủ quy định.
1.2.1.5 So sánh xử lý kỷ luật công chức và xử lý kỷ luật viên chức
Cơ sở pháp lý để so sánh xử lý kỷ luật công chức và xử lý kỷ luật viên chức là Luật
cán bộ, công chức năm 2008, Luật viên chức năm 2010, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP
ngày 17/5/2011 của Chính phủ về xử lý kỷ luật đối với công chức và Nghị định số
27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định quy định về xử lý kỷ luật viên
chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức.
Hình thức xử lý kỷ luật công chức và xử lý kỷ luật viên chức có nhiều điểm giống
nhau, cụ thể như sau:
Một là, chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế hành chính được áp dụng đối với chủ
thể vi phạm.
Hai là, khi xem xét kỷ luật công chức, viên chức phải đảm bảo nguyên tắc: Khách
quan, công bằng, nghiêm minh, đúng pháp luật. Mỗi hành vi vi phạm pháp luật của công
chức, viên chức chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật, nếu có nhiều hành vi vi phạm pháp luật
thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức
đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp phải xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc
thôi việc. Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình thức kỷ luật.14
Ba là, các hành vi vi phạm của công chức, viên chức có thể bị kỷ luật bao gồm: Vi
phạm việc thực hiện nghĩa vụ và những việc công chức, viên chức không được làm. Vi
Xem Điều 2 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức và Điều 3
phương tiện cần giám định hoặc những tình tiết phức tạp khác thì người đứng đầu cơ
quan, tổ chức, đơn vị (đối với công chức) hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
(đối với viên chức) có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra quyết định kéo dài thời hạn xử lý kỷ
luật, nhưng không quá 04 tháng.17
Sáu là, khi vi phạm kỷ luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm công chức và viên
chức có thể phải chịu một trong các hình thức kỷ luật giống nhau như khiển trách, cảnh
Xem Điều 3 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức và Điều 4
Nghị định 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn tra của
viên chức.
15
Xem Điều 6 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức và Điều 7
Nghị định 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn tra của
viên chức.
16
Xem Điều 7 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức và Điều 8
Nghị định 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn tra của
viên chức.
17
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
12
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
Xem Điều 15 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức và Điều 14
Nghị định 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn tra của
viên chức.
19
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
13
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
thức kỷ luật là hạ bậc lương và giáng chức.
Thứ tư, về thẩm quyền xử lý kỷ luật: Đối với công chức biệt phái, người đứng đầu
cơ quan nơi công chức được cử đến biệt phái tiến hành xử lý kỷ luật, quyết định hình thức
kỷ luật và gửi hồ sơ, quyết định kỷ luật về cơ quan quản lý công chức biệt phái. Trong khi
đó, đối với viên chức biệt phái, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi viên chức
được cử đến biệt phái tiến hành xem xét kỷ luật, đề nghị hình thức kỷ luật và gửi hồ sơ về
đơn vị sự nghiệp công lập cử viên chức biệt phái để ra quyết định kỷ luật theo thẩm
quyền.
1.2.2 Các hình thức xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính
Công chức vi phạm quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các quy định
khác của pháp luật có liên quan tùy theo tính chất, mức độ vi phạm thì phải chịu một trong
những hình thức kỷ luật sau đây:
* Các hình thức kỷ luật được áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý:
Một là, khiển trách;
hành chính, các nhiệm vụ được giao. Thứ bảy, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức cách mạng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đội ngũ công
chức. Mặt khác, còn nhằm nghiêm trị, răn đe công chức, tránh tái phạm, bước đầu giảm
các hành vi vi phạm tiến tới xóa các mặt tiêu cực nhũng nhiễu của công chức.
1.2.3.2 Ý nghĩa
Việc xử lý kỷ luật công chức mang ý nghĩa xây dựng đội ngũ công chức có nề nếp,
kỷ cương, kỷ luật, góp phần nâng cao chất lượng công chức; góp phần đẩy lùi sự suy thoái
về chính trị, đạo đức, lối sống, lề lối làm việc và các tệ nạn khác; là bước phát triển của
pháp luật hành chính Việt Nam, việc tách riêng cán bộ, công chức, viên chức trong xử lý
kỷ luật rõ ràng phù hợp với tình hình phát triển của nước ta hiện nay cả về mặt chính trị,
kính tế, văn hóa, xã hội... Tạo ra hình tượng công chức nhà nước đẹp trong lòng xã hội,
những con người mới “ người công chức vừa tài, vừa đức” toàn vẹn, xứng đáng là “công
bộc của dân” như chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy bảo.
1.3 Lược sử quy định về xử lý kỷ luật công chức
1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức
Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 76/SL ban hành “Quy chế
công chức” định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức,
quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc. Trong đó, vấn đề về kỷ luật
công chức được quy định tại Chương thứ năm (Điều 55 đến Điều 72) của Quy chế, các
hình thức xử lý kỷ luật công chức được quy định tại Điều 56 của Quy chế bao gồm:
“Cảnh cáo, khiển trách, hoãn dụ thăng lương trong thời hạn một hay hai năm, xóa tên
trong bảng thăng lương, giáng một hay hai trật, từ chức bắt buộc, cách chức”. Sau đó,
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
15
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
Chính phủ ban hành các Nghị định như: Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 về
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
16
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức; Nghị định 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về quy
định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; Nghị định số 118/2006/NĐ-CP
ngày 10/10/2006 về việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức; Nghị định
số 103/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 về quy định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí.
1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Luật Cán bộ, công chức đến nay
Kế thừa và phát triển các Pháp lệnh cán bộ, công chức, cũng như việc ghi nhận một
số nội dung liên quan đến cán bộ, công chức ở các nghị định hướng dẫn thi hành, tại kỳ
họp thứ 4 ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thống nhất ban hành Luật cán bộ, công
chức, những nội dung liên quan đến xử lý kỷ luật công chức được quy định tại Điều 7,
Điều 79 đến Điều 83. Trong đó, các hình thức kỷ luật chung được áp dụng đối với công
chức bao gồm: “ Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, giáng chức và buộc
thôi việc”. Hướng dẫn thi hành những quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức theo
quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số
34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 “quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật; việc áp
dụng hình thức kỷ luật; thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với công chức có
hành vi vi phạm pháp luật”.
là trái pháp luật thì phải báo cáo kịp thời bằng văn bản với người ra quyết định; trường
hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi
hành phải thi hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời
báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định...”. Khi thi hành công vụ, nếu công chức
vi phạm một trong những nghĩa vụ kể trên, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ
luật.
Thứ hai, về đạo đức và văn hóa giao tiếp của công chức được quy định tại Luật cán
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
18
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
bộ, công chức năm 2008, theo đó: “Cán bộ, công chức cần phải thực cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ. Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công
chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp ; ngôn ngữ giao tiếp cần phải chuẩn
mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công
bằng, khách quan, vô tư khi nhận xét, đánh giá; thức hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ. Khi
thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong
lịch sự, giữ gìn uy tín cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp. Cán bộ, công chức cần
phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ
giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ, công chức không được hách dịch,
cửa quyền, gây phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ”.20 Trong khi thi hành công
vụ, nếu công chức vi phạm việc thức hiện chuẩn mực đạo đức và văn hóa giao tiếp kể trên
thì có thể bị xem xét xử lý kỷ luật.
Thứ ba, về những việc công chức không được làm, bao gồm: “Trốn tránh trách
nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham
pháp luật. Ví dụ: công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi tham gia giao thông
đường bộ đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt
hại nghiêm trọng đến tài sản, sức khỏe của người khác đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự và bị Tòa án tuyên phạt tù một năm nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều
202 Bộ luật hình sự. Khi đó, công chức đó sẽ bị xem xét xử lý kỷ với hình thức “cảnh
cáo” theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính
phủ.
Thứ năm, vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của
pháp luật liên quan đến công chức nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví
dụ: Công chức có một trong các hành vi như tham ô tài sản; 22 lập, thẩm định, phê duyệt
phân bố và giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung và thời gian, không
đúng đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ; 23 vận động hoặc ép buộc người khác
nghỉ học vì lí do giới tính;24 cưỡng bức bán dâm;25...nhưng chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự thì tùy theo mức độ vi phạm mà công chức đó có thể bị kỷ luật bằng một
trong các hình thức kỷ luật công chức theo quy định.
2.2 Áp dụng các hình thức kỷ luật đối với công chức
Nghị định số 35/2005/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật công chức không còn phù
hợp khi Luật cán bộ, công chức năm 2008 ra đời, bên cạnh đó, khi Nghị định số
35/2005/NĐ-CP hết hiệu lực thì đòi hỏi Chính phủ phải ban hành một nghị định mới để
phù hợp với thực tại hơn và hướng dẫn thực hiện các hình thức kỷ luật cán bộ, công chức
được quy định trong Luật cán bộ, công chức năm 2008. Vì vậy, Nghị định số
34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức ra đời, phù
hợp với thực tại, quy định chặt chẽ hơn, chi tiết, dễ hiểu.
Theo Điều 79 Luật cán bộ công chức năm 2008 và Điều 8 Nghị định số
34/2011/NĐ-CP thì có 06 hình thức kỷ luật công chức: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
22
Xem khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.
kiện; Vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hiện tiết kiệm,
chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy
định khác của pháp luật liên quan đến công tác.26
Như vậy, so với Điều 20 Nghị định số 35/2005/NĐ-CP thì Điều 9 Nghị định số
34/2011/NĐ-CP quy định chi tiết hơn, chi tiết hơn và chặt chẽ hơn.
- Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng đối với công chức có một trong các
hành vi vi phạm pháp luật sau đây: Cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;Sử
dụng thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị để vụ lợi; không chấp hành quyết định
điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền; sử dụng giấy
tờ không hợp pháp để được tham gia đào tạo, bồi dưỡng; được dự thi nâng ngạch công
chức; tự ý nghỉ việc, tổng số từ 05 đến dưới 07 ngày làm việc trong một tháng; sử dụng
trái phép chất ma túy bị cơ quan công an thông báo về cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công
chức đang công tác; bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với
công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định
của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật
lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp
luật liên quan đến công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử
lý kỷ luật.27
So với Nghị định số 35/2005/NĐ-CP quy định về hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với
công chức thì Nghị định số 34/2011/NĐ-CP được áp dụng một cách cụ thể và rõ ràng hơn
26
Điều 9 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.
27
Điều 10 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến
công chức. Việc áp dụng hình thức kỷ luật cách chức đối với công chức giữ các chức danh
tư pháp được thực hiện theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật chuyên
ngành.30
28
Điều 11 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.
29
Điều 12 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.
30
Điều 13 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
22
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
- Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành
vi vi phạm pháp luật sau đây: Bị phạt tù mà không được hưởng án treo; Sử dụng giấy tờ
không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị; nghiện ma túy có xác
nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên
trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
23
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe
Đề tài: Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - lý luận và thực tiễn
tháng kể từ thời điểm công chức có hành vi vi phạm. Nếu hết thời hiệu, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền không được xem xét kỷ luật nữa, mặc dù kết luận điều tra, thanh tra có thể
xác định công chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự. Quy định về thời hiệu như trên là cơ sở pháp lý để người có thẩm quyền
trong cơ quan, tổ chức xem xét kỷ luật công chức. Còn trong thời hiệu mà không xem xét
xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu mà xem xét xử lý kỷ luật công chức có hành vi vi phạm thì
vi phạm pháp luật.
2.3.2 Thời hạn xử lý kỷ luật công chức
Tương tự như thời hiệu, khái niệm về thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức nói
chung được thể hiện tại khoản 2 Điều 80 Luật cán bộ, công chức năm 2008 , đó là: “Thời
hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi
phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền”. Đồng thời khoản 2 và khoản 3 Điều này quy định: “Thời hạn xử lý
kỷ luật không quá 02 tháng, trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời
gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài
nhưng không quá 04 tháng. Trường hợp cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết
định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều
tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm kỷ luật thì bị xử lý kỷ
luật; trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án,
người ra quyết định phải gửi quyết định và hồ sơ vụ việc cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có
8 Nghị định 34/2011/NĐ-CP như: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách
chức, buộc thôi việc.
Ví dụ: Ông C là hiệu trưởng trường Trung học Phổ thông A, dưới sự lãnh đạo và
cách thức tổ chức dạy và học của ông C có nhiều khiết điểm, sai lầm nên đã đưa chất
lượng học tập của học sinh trường Trung học Phổ thông A xuống dốc, yếu kém nhiều. Do
vậy, Trưởng phòng Giáo dục huyện đã cách chức hiệu trưởng của ông C.
Thứ hai, đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đúng đầu cơ
quan quản lý hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp quản lý công chức tiến hành xử
lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật. Nghĩa là, nếu công chức không giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý mà có hành vi vi phạm pháp luật thì do người đứng đầu cơ quan quản lý
hoặc người đứng đầu cơ quan phân cấp quản lý ra quyết định lỷ luật công chức với một
trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP như: Khiển
trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc.
Ví dụ: Chị A là công chức của Phòng văn hóa và Thông tin X đã nhiều lần bỏ vị trí
việc làm trong giờ hành chính không rõ lí do vì vậy đã bị ông B Trưởng phòng Văn hóa và
Thông tin cảnh cáo về hành vi bỏ vị trí việc làm của chị A.
Thứ ba, đối với công chức biệt phái, thì do người đứng đầu cơ quan nơi công chức
được cử đến biệt phái tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định một trong các hình thức kỷ
luật đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo hoặc không giữ chức vụ lãnh đạo như kể trên.
GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn
25
SVTH:Trần Thị Kim Khỏe