Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào việc giảng dạy môn Kinh tế chính
trị
Tác giả : Th.s Lê Thu Hường - Gv. Khoa Lí Luận Mác Lênin, TT HCM
Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn học khái quát nhiều vấn đề cơ bản nhất trong học thuyết kinh
tế chính trị mác- xít, mang tính trừu tượng cao, trữ lượng kiến thức lớn, gắn bó chặt chẽ với thực
tiễn sinh động đang thay đổi hàng ngày. Lý luận hàng hoá sức lao động là một trong những nội
dung quan trọng trong học thuyết kinh tế của C.Mác. Kế thừa có sáng tạo những quan điểm của
các nhà kinh tế học cổ điển về lý lụân lao động, C.Mác đã nghiên cứu, xây dựng lý luận hàng hoá
sức lao động (HHSLĐ), C.Mác đã vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, bản chất, mục đích của
nền sản xuất hàng hoá TBCN. Đồng thời khám phá ra quy luật chi phối sự vận động, phát triển
của CNTB. Như vậy, lý luận HHSLĐ được C.Mác xây dựng trong nền kinh tế thị trường TBCN.
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
nền kinh tế này có sự khác biệt về chất so với nền kinh tế thị trường TBCN. Thông qua việc giảng
dạy môn kinh tế chính trị người giảng viên cần làm rõ sự khác biệt về chất giữa nền kinh tế thị
trường TBCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời chỉ ra những nội dung cần
vận dụng trong lý luận HHSLĐ của C.Mác vào thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay . Bài viết xin được đề cập một số nội dung mà giảng viên cần làm rõ sự vận dụng giữa
lý luận và thực tiễn về lý luận hàng hoá sức lao động của C. Mác mà thời gian qua Đảng và Nhà
nước ta đã làm: Thứ nhất, về điều kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động, theo C. Mác sức lao động
hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể,
trong một con người đang sống, và được người đó vận dụng mỗi khi đem sản xuất ra một giá trị sử
dụng nào đó [, tr 251]. Sức lao động luôn có sẵn trong bất kỳ xã hội nào, nó không phụ thuộc vào
hình thái xã hội. Tuy nhiên, chỉ trong một trình độ phát triển nhất định thì sức lao động mới trở
thành hàng hoá. Đó là lúc xuất hiện hai điều kiện cơ bản: Một là, người có sức lao động phải được
tự do về thân thể. Điều kiện này giúp họ có quyền quyết định đối với sức lao động của bản thân
mình. Hai là, người lao động không có vốn liếng hay tư liệu sản xuất, tài sản duy nhất đảm bảo sự
sống của họ chỉ là sức lao động. Vận dụng lý luận của C. Mác lý giải sự xuất hiện hàng hoá sức
lao động ở nước ta cần phải có sự nhận thức mới, đặc biệt là đối với điều kiện sở hữu tư liệu sản
xuất. Về điều kiện người lao động không có tư liệu sản xuất, muốn sống buộc phải bán sức lao
động đã có sự biểu hiện mới. Đó là khi đời sống của công nhân lên cao, họ có tích luỹ và mua
được cổ phiếu của công ty cổ phần và như vậy họ trở thành người chủ một phần phần vốn của
được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động.
Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó,
người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Giá trị hàng hoá sức lao
động có hình thức biểu hiện của nó là tiền công. Trong nền kinh tế hàng hoá, việc sức lao động trở
thành hàng hoá tạo điều kiện cho giá trị sức lao động chuyển hoá thành tiền công. Vì vậy, bản chất
của tiền công trong nền kinh tế hàng hoá không phải là giá cả của lao động mà là biểu hiện bằng
tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động. Như vậy, lý luận về giá
trị hàng hoá sức lao động cung cấp cơ sở lý luận để xác định tiền công: lao động có chất lượng cao
sẽ được nhận lương cao. Giá cả sức lao động là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, đó
chính là tiền lương mà người sử dụng sức lao động trả cho người lao động. Vận dụng lý luận của
C.Mác về giá cả sức lao động vào nền nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà
nước ta đã từng bước hoàn thiện chính sách tiền lương. Chính sách tiền lương đang ngày càng
được tiền tệ hoá và phản ánh gần sát hơn với giá trị sức lao động. Giá trị sử dụng của sức lao động
là tính có ích của sức lao động, thoả mãn nhu cầu của người mua, tức nhà tư bản, sử dụng vào
trong quá trình sản xuất. Nhà tư bản cần có sức lao động của người công nhân kết hợp với tư liệu
sản xuất của mình để tạo ra các giá trị sử dụng, tạo ra các hàng hoá. Chính vì vậy mà tính có ích
của sức lao động chỉ được thể hiện trong quá trình sản xuất. Người lao động bán sức lao động
bằng cách lao động sản xuất theo yêu cầu của người mua. Người mua tiêu dùng sức lao động là
nhằm sử dụng tính có ích của sức lao động. Khác với hàng hoá thông thường, khi được sử dụng,
sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. “Nhưng cái có ý nghĩa
quyết định là giá trị sử dụng đặc biệt của thứ hàng hoá đó là cái đặc tính của nó, là cái nguồn gốc
sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn bản thân nó. Đó là sự phục vụ đặc biệt mà
nhà tư bản mong chờ” [, tr289-290]. Giá trị sử dụng của sức lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như trình độ phát triển kinh tế của quốc gia, năng suất lao động, giáo dục- đào tạo và nhiều yếu tố
khác trong đó giáo dục- đào tạo giữ vai trò quyết định đến trình độ nghề nghiệp của mỗi người.
Trình độ giáo dục càng cao thì giá trị sử dụng của sức lao động càng lớn. Vận dụng lý luận về giá
trị sử dụng của sức lao động Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã
coi giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ là quốc sách hàng đầu Thứ ba, về thị trường sức lao
cạnh tranh của HHSLĐ Việt Nam trên thị trường sức lao động còn hạn chế. Các chính sách về
giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, chính sách đào tạo nghề chưa giúp nâng cao giá trị sử
dụng của HHSLĐ theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Với khả năng đặc biệt của HHSLĐ là
tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó chưa được chú trọng phát huy đúng mức, Nhà
nước chưa có biện pháp quản lý tốt để sử dụng có hiệu quả giá trị thặng dư vào sự nghiệp xây
dựng đất nước. Nhận thức về sự ảnh hưởng của tích luỹ tư bản đối với sự biến động cung- cầu về
HHSLĐ do C.Mác vạch ra cũng chưa nhận thức đầy đủ. Nhà nước chưa gắn kết được sự biến đổi
của cơ cấu kinh tế với sự chuyển đổi cơ cấu giáo dục- đào tạo, cơ cấu lao động, làm cho cung- cầu
về HHSLĐ chưa phù hợp với nhau. Cung về HHSLĐ vừa thừa vừa thiếu so với cầu về HHSLĐ.
Sự mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cần nguồn lao động chất lượng cao đã
không được đáp ứng. Sự biến động giá cả sức lao động theo biến động của chu kỳ phát triển công
nghiệp tuy đã được Nhà nước quan tâm giải quyết nhưng vẫn chưa bảo đảm được quyền lợi cho
người lao động. Tiền lương tổi thiểu tuy đã được điều chỉnh nhiều lần nhưng vẫn còn thấp, chưa
thật sự tạo ra động lực thúc đẩy người lao động gắn bó chặt chẽ với doanh nghiệp. tiền lương vẫn
chưa phản ánh đầy đủ giá trị sức lao động theo quan điểm của C.Mác và sự bất bình đẳng khó
chấp nhận về tiền lương vẫn còn tồn tại giữa các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí trong
cùng một thành phần kinh tế. Vai trò của Nhà nước và các tổ chức công đoàn đối với quan hệ lao
động ở các doanh nghiệp tuy ngày càng hoàn thiện nhưng mối liên kết hoạt động giữa nhà nước,
công đoàn, người lao động và người sử dụng lao động còn lỏng lẻo, hiệu quả chưa cao. Luật Lao
động vẫn còn kẽ hở, cán bộ công đoàn chưa thật sự chuyên trách đã làm cho việc hoàn thiện quan
hệ lao động ở cơ sở theo quan điểm của C.Mác chưa thật sự được đẩy mạnh. Chủ trương cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước, xây dựng công ty cổ phần để gắn kết quyền lợi của người lao động
với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua đó khắc phục sự tha hoá lao động theo quan
điểm của C.Mác đạt kết quả chưa cao. Quá trình cổ phần hoá diễn ra chậm, người lao động không
hứng thú với việc mua cổ phần, cổ phiếu. Tất cả điều đó cho thấy cơ chế thực hiện sở hữu về mặt
kinh tế đối với sức lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
còn lỏng lẻo, kém hiệu quả. Như vậy, thông qua việc giảng dạy người giảng viên sẽ cung cấp cho
học viên cơ sở lý luận của các chính sách liên quan đến người lao động, việc nâng cao chất lượng